Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 10: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần II — Husaby · Chương IV
Chương 10 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Erlend Nikulaussøn giữ chức quan coi quân phòng thủ của nhà vua và chỉ huy pháo đài Vargøy gần hai năm. Suốt thời gian ấy, ông không đi xa xuống phía nam quá Bjarkøy, mà cũng chỉ một lần, khi ông và ngài Erling Vidkunssøn hẹn gặp nhau tại đó. Sang mùa hè thứ hai Erlend vắng nhà, Heming Alfssøn rốt cuộc qua đời, và Erlend được trao quyền quản hạt Orkdølafylke thay ông ta. Haftor Graut đi lên phương bắc để thay phiên ông ở Vargøy.
Mấy ngày sau lễ Đức Mẹ vào mùa thu, khi dong buồm về nam, ông là một người vui sướng. Đó là sự phục hồi danh dự mà ông đã mong mỏi suốt bao năm — được nắm quyền quản hạt mà cha ông từng giữ. Không phải điều ấy đã bao giờ là một mục tiêu để ông dụng công theo đuổi. Nhưng ông vẫn luôn cảm thấy mình cần có nó, mới có thể bước vào đúng vị trí vốn thuộc về mình — trong mắt chính ông cũng như trong mắt những người ngang hàng. Giờ đây, việc người ta coi ông hơi khác những kẻ ngồi cùng hàng ghế không còn hệ trọng nữa — địa vị riêng biệt của ông không còn điều gì lệch lạc.
Và ông mong về nhà. Finmarken đã yên ổn hơn ông dự liệu. Ngay mùa đông đầu tiên đã làm ông mòn mỏi — ông ngồi không trong thành, chẳng thể làm gì để tu sửa công sự. Mười bảy năm trước nơi ấy từng được chỉnh trang rất vững chắc, nhưng nay đã hoàn toàn đổ nát.
Rồi mùa xuân và mùa hè đến, mang theo sinh khí cùng bao xáo động — những cuộc hội họp đây đó trong các vịnh hẹp với đám thu thuế người Na Uy và nửa Na Uy, cùng những người đại diện cho dân sống sâu trong miền cao nguyên. Erlend lênh đênh khắp nơi với hai chiếc thuyền và vui thú vô cùng. Trên đảo, nhà cửa được sửa sang, công sự được củng cố. Nhưng năm sau lại khá yên tĩnh.
Hẳn Haftor sẽ lo cho nơi ấy lại nổi sóng. Erlend bật cười. Họ đã cùng dong thuyền vào sâu gần tới Trjanema, và ở đó Haftor kiếm được một người đàn bà Finn miền Ter rồi đưa nàng theo mình. Erlend đã khuyên anh ta. Anh ta phải nhớ rằng điều cốt yếu là khiến dân ngoại đạo hiểu chúng ta mới là chủ — mà với chút nhân lực trong tay, người ta phải liệu sao để khỏi vô cớ chọc giận bất kỳ ai. Đừng xen vào khi người Finn đánh giết lẫn nhau; niềm vui ấy cứ để họ yên mà hưởng. Nhưng phải rình đám người Nga, người Kolbjag và bất cứ thứ dân ô hợp nào khác như diều hâu rình mồi. Và để yên đàn bà của họ — một lẽ là tất cả bọn họ đều là phù thủy — lẽ khác là đã có khối người tự nguyện dâng mình —. Nhưng cứ để chàng trai Godøy xử sự tùy ý cho tới khi tự học được khôn.
Haftor muốn rời xa các điền trang và vợ mình. Còn giờ Erlend muốn trở về với những gì thuộc về ông. Ông khao khát đến ngây ngất được gặp lại Kristin, Husaby, quê nhà và tất cả con cái — tất cả mọi thứ ở nhà bên Kristin.
Tại Lyngsfjorden, ông nghe tin từ một chiếc thuyền chở mấy linh mục dòng tu; họ được nói là các tu sĩ Dòng Thuyết giáo ở Nidaros, đang muốn đi lên phương bắc để thử gieo đức tin chân chính giữa dân ngoại đạo và những kẻ dị giáo tại miền biên viễn.
Erlend tin chắc Gunnulf ở trong số họ. Và ba đêm sau, quả thực ông đã ngồi riêng với em trai trong một căn nhà đất thuộc về một gia trang nhỏ của người Na Uy bên bờ biển nơi họ gặp được nhau.
Erlend xúc động một cách lạ lùng. Ông đã nghe thánh lễ và chịu lễ cùng đám thủy thủ — lần duy nhất tại miền bắc này, ngoài lần ông ở Bjarkøy. Nhà thờ trên Vargøy không có linh mục; một phó tế ở lại trong thành, đã cố ghi nhớ các ngày lễ thánh cho họ, nhưng ngoài ra, việc chăm lo linh hồn cho người Na Uy ở phương bắc chẳng được bao nhiêu. Họ đành tự an ủi rằng sống ở đây cũng tựa như tham gia một cuộc thập tự chinh, nên hẳn tội lỗi của họ sẽ không bị xét quá nghiêm.
Ông kể với Gunnulf về chuyện ấy, còn người em lắng nghe, trên khuôn miệng dài và hẹp thoáng một nụ cười xa xăm, kỳ lạ. Trông như thể chàng vẫn hơi mím môi dưới vào trong, theo cách người ta dễ làm khi đang cố suy nghĩ thật căng về một điều gì, gần hiểu ra rồi nhưng ý nghĩ vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ.
Đêm đã về khuya. Mọi người khác trong gia trang đều ngủ trên nhà chính; hai anh em biết giờ chỉ còn họ thức. Và cả hai đều xúc động trước sự lạ lùng của việc họ đang ngồi riêng với nhau tại đây —.
Tiếng biển gầm và bão thổi vọng qua những bức vách đất cỏ, ù lì và bị nén xuống. Thỉnh thoảng gió lùa phả vào, hà hơi lên đám than hồng trong bếp và làm ngọn đèn dầu cá chập chờn. Trong căn nhà đất không có đồ đạc; hai anh em ngồi trên bệ đất thấp chạy dọc ba phía gian phòng, giữa họ là tấm bảng viết của Gunnulf, cùng lọ mực, bút lông và một cuộn da thuộc. Gunnulf đã ngồi ghi lại những điều người anh kể về các cuộc hội họp và những xóm dân định cư, về dấu hiệu dẫn đường trên biển, điềm báo thời tiết và các từ trong tiếng của người Sami — bất cứ điều gì Erlend chợt nhớ tới. Chính Gunnulf cầm lái con thuyền — nó mang tên Sunnivasuden, bởi các tu sĩ Dòng Thuyết giáo đã chọn Thánh Sunniva làm đấng bảo trợ cho công cuộc của họ.
“Chỉ mong các thầy đừng gặp cùng số phận với những người ở Selje,” Erlend nói, và Gunnulf lại mỉm cười.
“Em vẫn bảo anh là kẻ không chịu ngồi yên, Gunnulf,” người kia lại nói. “Vậy thì phải gọi em là gì? Trước hết em lang bạt hết nơi này đến nơi khác ở các xứ phương nam suốt bao năm, rồi vừa về đến nhà đã vứt bỏ giáo xứ và bổng lộc giáo sĩ để đi giảng đạo cho Quỷ dữ cùng đàn con của nó ở tận phía bắc sông Velli. Em không biết tiếng của họ, họ cũng chẳng hiểu tiếng em. Anh thấy em còn bất định hơn cả anh.”
“Em không có tài sản hay thân quyến nào phải chịu trách nhiệm,” tu sĩ nói. “Nay em đã tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc, còn anh đã tự buộc mình, anh ạ.”
“À phải. Kẻ chẳng sở hữu gì thì hẳn là tự do.”
Gunnulf đáp:
“Mọi thứ một người sở hữu đều níu giữ người ấy chặt hơn người ấy giữ nó.”
“Hừm. Không đâu, nhân danh cái chết của Chúa. Cứ cho là Kristin níu giữ anh — nhưng anh không muốn đất đai và con cái sở hữu anh —”
“Đừng nghĩ như thế, anh,” Gunnulf khẽ nói. “Bởi khi ấy rất dễ xảy ra chuyện anh sẽ mất tất cả.”
“Không, anh không muốn trở nên giống những lão khác — họ đứng ngập trong đất của mình đến tận quai hàm,” Erlend vừa cười vừa nói, và người em cũng thoáng mỉm cười.
“Em chưa từng thấy đứa trẻ nào đẹp hơn Ivar và Skule,” chàng nói. “Em nghĩ hồi bằng tuổi chúng, anh hẳn cũng có dáng vẻ ấy — chẳng lạ gì mẹ chúng ta yêu anh đến thế.”
Cả hai anh em đều đặt một bàn tay lên tấm bảng viết nằm giữa họ. Ngay trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu cá cũng có thể thấy bàn tay hai người khác nhau đến chừng nào. Bàn tay tu sĩ trần trụi, không đeo nhẫn, trắng và rắn chắc, nhỏ hơn và nở nang hơn nhiều so với bàn tay người kia, vậy mà nom khỏe hơn biết bao — mặc dù lòng bàn tay Erlend giờ đã chai cứng như sừng, và một vết sẹo trắng xanh do tên bắn cày qua lớp thịt sẫm màu từ cổ tay lên khuất dưới ống tay áo. Nhưng những ngón tay trên bàn tay thon, rám nâu của Erlend khô và nổi u ở các khớp như cành cây, đeo đầy nhẫn vàng và đá quý.
Erlend muốn nắm lấy tay em trai, nhưng ông ngượng — nên chỉ nâng cốc mời chàng rồi nhăn mặt vì thứ bia dở.
“Em thấy Kristin giờ hoàn toàn khỏe mạnh, phải không?” Erlend lại hỏi.
“Phải, chị ấy tươi thắm như một đóa hồng khi em đến Husaby mùa hè này,” tu sĩ nói và khẽ mỉm cười. Chàng đợi một lúc, rồi nghiêm trang nói: “Em xin anh một điều này, anh ạ — hãy nghĩ đến phúc lợi của Kristin và các con nhiều hơn trước đây. Và hãy nghe lời chị ấy, hoàn tất những cuộc giao dịch mà chị ấy cùng Eiliv đã thỏa thuận; họ chỉ chờ anh bằng lòng để kết thúc mọi việc.”
“Anh không thật sự ưa những dự tính của nàng mà em vừa nói,” Erlend ngập ngừng. “— Vả lại, địa vị của anh giờ cũng sẽ khác —”
“Các điền sản của anh sẽ có giá trị hơn khi anh thu gom đất đai lại gần nhau,” tu sĩ đáp. “Khi Kristin trình bày, em thấy lời khuyên của chị ấy rất sáng suốt.”
“Có lẽ cũng chẳng người vợ nào trên đất Na Uy được tự do định đoạt hơn nàng,” Erlend nói.
“Nhưng cuối cùng người quyết định vẫn là anh,” Gunnulf lại đáp. “Và anh — anh cũng tùy ý định đoạt Kristin,” chàng nói, giọng yếu đi một cách lạ lùng.
Erlend bật cười khe khẽ trong cổ, vươn mình rồi ngáp. Đột nhiên ông nghiêm giọng: “Em cũng đã bảo ban nàng, em trai ạ. Và không thể nói là những lời khuyên của em chưa từng xen vào tình thân giữa chúng ta.”
“Anh nói đến tình thân giữa anh và vợ anh, hay tình thân giữa hai anh em ta?” tu sĩ chậm rãi hỏi.
“Cả hai,” Erlend đáp, như thể ý nghĩ ấy chỉ vừa nảy ra. “Một người đàn bà thế tục hẳn cũng không cần phải mộ đạo đến vậy,” ông nói với giọng nhẹ hơn.
“Em đã khuyên chị ấy theo điều em cho là tốt nhất. Theo điều thực sự tốt nhất,” chàng tự sửa lời.
Erlend nhìn tu sĩ trong chiếc áo dòng thô màu trắng xám của các tu sĩ Dòng Thuyết giáo, chiếc mũ trùm đen hất ra sau, xếp thành những nếp dày quanh cổ và xuôi xuống vai. Đỉnh đầu chàng cạo nhẵn, chỉ còn một vành tóc hẹp quanh khuôn mặt tròn, gầy và xanh xao — nhưng tóc vẫn dày và đen như thuở Gunnulf còn trẻ.
“Phải, giờ em đâu còn là em trai anh hơn là anh em của bất cứ người nào,” Erlend nói, chính ông cũng kinh ngạc trước nỗi cay đắng sâu sắc trong giọng mình.
“Không phải thế — dù lẽ ra phải là như vậy.”
“Có Chúa chứng giám — anh tin phần lớn chính vì thế mà em muốn đi lên chỗ người Finn!” Erlend nói.
Gunnulf cúi đầu. Ánh lửa âm ỉ trong đôi mắt nâu vàng của chàng.
“Ở một mức nào đó, quả cũng vì thế,” chàng nói nhỏ và nhanh.
Họ trải những tấm da và chăn dệt đã mang theo. Trong phòng lạnh và ẩm đến nỗi họ không thể cởi bớt quần áo, vì vậy hai người chúc nhau ngủ ngon rồi nằm xuống bệ đất, vốn được đắp sát mặt sàn vì khói.
Erlend nằm nghĩ về những tin tức nhận được từ nhà. Trong mấy năm ấy ông không nghe được bao nhiêu — hai lá thư của vợ đã tới tay ông, nhưng khi đến nơi thì tin tức trong đó đã cũ. Cha Eiliv viết thư thay nàng — chính nàng có thể viết chữ chân phương, vừa đúng vừa đẹp, nhưng nàng không thích viết, vì thấy việc ấy không hoàn toàn thích hợp với một người đàn bà không được học hành.
Hẳn giờ nàng còn mộ đạo hơn nữa, bởi vùng lân cận đã có một thánh địa, lại là của một người nàng từng quen khi ông còn sống — và nay Gaute đã được chữa khỏi bệnh tại đó, còn chính nàng cũng lấy lại trọn vẹn sức lực sau thời gian suy yếu kể từ khi sinh đôi. Gunnulf kể rằng sau cùng các tu sĩ Dòng Thuyết giáo ở Hamar đã phải trao thi hài Edvin Rikardssøn lại cho các anh em của ông ở Oslo, và những người này đang cho ghi chép mọi điều về cuộc đời tu sĩ Edvin cùng những phép lạ ông được cho là đã thực hiện cả khi còn sống lẫn sau khi qua đời. Họ định gửi bản ghi chép ấy lên giáo hoàng và xin tuyên nhận vị tu sĩ là một vị thánh đích thực. Một số nông dân từ Gauldal và Medaldalen đã đi xuống phương nam, làm chứng về những phép lạ tu sĩ Edvin đã thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ông tại các thung lũng ấy và nhờ một cây thánh giá có hình Chúa chịu nạn do ông chạm khắc, hiện đặt tại Medalhus. Họ đã hứa xây một nhà thờ nhỏ trên núi Vats, nơi ông từng sống ẩn tu trong mấy mùa hè và nơi có một mạch nước chữa bệnh lưu lại sau ông. Họ được trao một bàn tay của thi hài để lưu giữ trong nhà thờ ấy.
Kristin đã dâng hai chiếc bát bạc cùng chiếc móc áo choàng lớn nạm đá xanh mà nàng được thừa hưởng từ bà ngoại Ulvhild Haavardsdatter, rồi nhờ Tiedeken Paus trong thành thị dùng số bạc ấy làm một bàn tay bằng bạc để đựng những đốt xương của tu sĩ Edvin. Nàng cũng đã cùng cha Eiliv, các con và một đoàn tùy tùng đông đảo lên núi Vats khi tổng giám mục làm lễ cung hiến nhà thờ vào khoảng lễ Thánh Gioan, một năm sau khi Erlend đi lên phương bắc.
Sau việc ấy Gaute hồi phục rất nhanh, học đi, học nói, và giờ đã giống những đứa trẻ khác cùng tuổi. Erlend duỗi dài người — Gaute được khỏe mạnh có lẽ là niềm hạnh phúc lớn nhất có thể đến với họ. Ông sẽ hiến thêm ít đất cho nhà thờ ấy. Gunnulf nói Gaute có nước da sáng và khuôn mặt đẹp — giống mẹ. Vậy thì lẽ ra nó chỉ cần là một bé gái — rồi sẽ mang tên Magnhild. Phải — giờ ông cũng mong nhớ những đứa con trai xinh đẹp của mình —.
Gunnulf Nikulaussøn nằm nghĩ về ngày xuân ba năm trước, khi chàng cưỡi ngựa lên Husaby. Dọc đường chàng gặp một người đàn ông từ gia trang đi xuống — bà chủ không có nhà, người ấy nói — bà đang ở bên một phụ nữ đau ốm.
Chàng cưỡi ngựa trên con đường hẹp phủ cỏ, chạy giữa những hàng rào gỗ cũ; rừng cây lá non mọc trên các sườn đồi đất sét sạt lở, cả phía cao bên trên lẫn phía xuôi xuống con sông đang cuộn chảy đầy nước xuân dưới chỗ trũng. Chàng cưỡi về phía mặt trời, và những tán lá xanh non lấp lánh như lửa vàng trên cành, nhưng sâu trong rừng bóng râm đã phủ mát và thẫm trên thảm cỏ.
Chàng đi tới nơi có thể thoáng thấy mặt biển, trên đó phản chiếu tối sẫm dải đất bờ bên kia, còn nền trời xanh và hình ảnh những đám mây mùa hè đồ sộ thì tan chảy, vỡ vụn trong những gợn dòng ngoài xa. Sâu dưới con đường cưỡi ngựa là một gia trang nhỏ nằm giữa những bãi cỏ xanh loang lổ hoa. Một nhóm phụ nữ trùm khăn trắng đứng ngoài sân — nhưng Kristin không có trong số họ.
Đi thêm một quãng ngắn, chàng trông thấy ngựa của nàng; nó đang gặm cỏ trong bãi rào cùng mấy con khác. Con đường trước mặt trũng xuống một hõm ngập bóng xanh, rồi nơi nó uốn mình lên ngọn sóng kế tiếp của những đồi đất sét, nàng đứng bên hàng rào dưới tán lá, lắng nghe tiếng chim. Chàng thấy bóng dáng mảnh mai áo đen của nàng nghiêng qua hàng rào về phía rừng; chiếc khăn trùm đầu và một cánh tay trắng nổi sáng. Chàng ghìm ngựa, cho nó từng bước tiến về phía nàng. Nhưng khi đến gần hơn, chàng mới thấy đó là một thân bạch dương già.
Tối hôm sau, khi những người hầu chèo thuyền đưa chàng vào thành thị, chính vị linh mục ngồi cầm lái. Chàng cảm thấy trái tim trong lồng ngực mình vững vàng và vừa được sinh lại. Giờ không gì có thể lay chuyển quyết tâm của chàng.
Giờ chàng đã biết thứ níu giữ mình lại trong cõi đời chính là niềm khao khát không sao dập tắt mà chàng đã mang từ thuở thiếu niên. Chàng muốn chiếm được lòng yêu mến của mọi người. Để được yêu mến, chàng đã rộng lượng, hòa nhã và vui tính với dân thường; giữa các linh mục trong thành, chàng để học vấn của mình tỏa sáng, nhưng với sự tiết chế và khiêm nhường, hầu họ ưa thích chàng; chàng nhường nhịn ngài Eiliv Kortin vì người này từng là bạn của cha chàng, và chàng biết ngài Eiliv muốn người khác cư xử ra sao. Chàng trìu mến và dịu dàng với Orm, để giành lấy một phần tình yêu của cậu bé khỏi người cha thất thường. Và chàng đã nghiêm khắc, đòi hỏi với Kristin, bởi chàng hiểu khi nàng quờ tay tìm chỗ nương tựa, nàng cần gặp một điều gì không lùi bước, và khi nàng thuận lòng đi theo, nàng cần một điều gì không dẫn mình lạc lối.
Nhưng giờ chàng đã hiểu — chàng tìm cách giành lấy lòng tin của nàng cho chính mình nhiều hơn là củng cố niềm tin của nàng vào Thiên Chúa —.
Tối nay Erlend đã tìm ra lời ấy. Không phải em trai của riêng ta hơn là người anh em của mọi người. Đó là con đường vòng ông phải đi, trước khi lòng yêu thương anh em của ông có thể giúp ích cho _bất kỳ ai_.
Hai tuần sau, ông đã chia gia sản của mình cho họ hàng và Giáo hội rồi khoác tu phục khấn dòng tại Predikarliv. Và mùa xuân này, khi lòng người đều bị lay động tận đáy bởi tai họa khủng khiếp giáng xuống đất nước — sét đã đốt cháy nhà thờ Chúa Kitô ở Nidaros và phá hủy gần một nửa ngôi nhà của Thánh Olav — Gunnulf đã được tổng giám mục ủng hộ kế hoạch cũ của mình. Cùng với tu huynh Olav Jonssøn, người cũng đã được truyền chức linh mục như ông, và ba tu sĩ trẻ hơn, một người từ Nidaros, hai người từ Predikarliv ở Bjørgvin, giờ đây ông đi về phương bắc để đem ánh sáng của Lời Chúa đến cho những kẻ ngoại giáo khốn khổ vẫn sống và chết trong bóng tối, ngay bên trong biên giới một xứ sở Kitô giáo.
Lạy Chúa Kitô chịu đóng đinh. Giờ đây con đã bán đi tất cả những gì có thể trói buộc con. Chính mình con, con cũng đã bán trao vào tay Người, nếu Người đoái dùng mạng sống con mà chuộc những kẻ thuộc về Satan. Xin hãy nhận lấy con, để con biết mình là kẻ nô lệ của Người, vì khi ấy con cũng có được Người.— Rồi một ngày, thêm một lần nữa, trái tim ông hẳn sẽ cất tiếng gáy và ca hát trong lồng ngực như nó từng ca hát và đập rộn ràng khi ông bước qua những đồng xanh quanh Romaborg, từ nhà thờ hành hương này sang nhà thờ hành hương khác — “Tôi thuộc về người tôi yêu, và lòng khát khao tôi hướng về người ấy—”
Hai anh em nằm trên mỗi người một ghế dài trong túp lều nhỏ, nghĩ miên man rồi thiếp ngủ. Một hòn than nhỏ âm ỉ trong bếp lửa giữa họ. Dòng suy tưởng đưa họ mỗi lúc một xa nhau hơn. Và ngày hôm sau, người này đi về phương bắc, người kia đi về phương nam.
Erlend đã hứa với Haftor Graut sẽ ra Godøy đón em gái ông cùng đi về phương nam. Bà là vợ của Baard Aasulfssøn ở Lensviken — ông ta cũng là họ hàng của Erlend, nhưng họ hàng xa.
Buổi sáng đầu tiên, khi Margygren rẽ khỏi eo biển Godøy, cánh buồm căng phồng trước những ngọn núi xanh trong làn gió nhẹ, Erlend đứng trên khoảng sàn thoáng phía đuôi thuyền. Ulf Haldorssøn cầm lái. Bấy giờ phu nhân Sunniva bước lên đó. Bà đã hạ mũ trùm áo choàng, gió vuốt dải khăn đội đầu ngược ra sau, để lộ mái tóc quăn vàng như nắng. Bà có đôi mắt xanh màu biển lấp lánh giống anh trai, và cũng như ông, bà có gương mặt đẹp, nhưng đầy tàn nhang, ngay cả trên đôi bàn tay nhỏ nhắn, đầy đặn.
Ngay từ buổi tối đầu tiên trông thấy bà ở Godøy — mắt họ gặp nhau, rồi cả hai cùng nhìn sang chỗ khác và bất giác mỉm một nụ cười kín đáo — Erlend đã biết bà hiểu chàng, và chàng cũng hiểu bà. Sunniva Olavsdatter — chỉ bằng tay không chàng cũng có thể nắm lấy bà, và bà đang chờ chàng làm thế.
Giờ đây, khi đang nắm tay bà — chàng vừa đỡ bà bước lên — chàng bất chợt nhìn vào gương mặt thô ráp, sạm đen của Ulf. Ulf hẳn cũng biết. Dưới ánh mắt người đàn ông ấy, chàng bỗng thấy hổ thẹn một cách lạ lùng. Trong khoảnh khắc, chàng nhớ lại mọi điều mà người họ hàng, người bạn đồng hành này từng biết rõ — từng chuyện điên rồ chàng đã tự vướng vào từ thuở thiếu niên. Ulf đâu cần nhìn chàng khinh miệt đến thế — chàng tự an ủi rằng mình không hề định đến gần phu nhân hơn mức danh dự và đức hạnh cho phép. Giờ chàng đã có tuổi, lại khôn ra nhờ những lần chịu họa; người ta có thể thả chàng lên tận Haalogaland mà chàng vẫn không tự quấn mình vào một chuyện ngu xuẩn với vợ người khác. Chính chàng giờ cũng đã có vợ — chàng đã chung thủy với Kristin từ ngày đầu trông thấy nàng cho đến tận bây giờ — còn đôi ba chuyện xảy ra trên miền Bắc thì chẳng người hiểu lẽ nào lại tính vào. Nhưng ngoài những chuyện ấy, chàng thậm chí chưa từng nhìn một người đàn bà — theo cách đó. Chính chàng biết rõ — với một người đàn bà Na Uy, lại còn là một người đồng đẳng với họ — không, chàng sẽ chẳng bao giờ được một giờ yên lòng nếu phản bội Kristin như thế.— Nhưng chuyến đi về phương nam với người đàn bà này trên thuyền — hẳn sẽ đầy nguy hiểm.
Cũng may là trên đường xuống phía nam họ gặp thời tiết khá dữ, khiến chàng có việc khác để làm thay vì đùa ghẹo với phu nhân. Ở Dynøy, chàng phải tìm nơi trú và chờ lại mấy ngày. Trong lúc họ nằm đó, đã xảy ra một chuyện khiến phu nhân Sunniva trở nên kém quyến rũ hơn hẳn trong mắt chàng.
Erlend cùng Ulf và thêm đôi ba người nữa ngủ trong chính gian nhà nơi bà và các thị nữ nằm. Một buổi sáng, chàng ở trong ấy một mình, còn phu nhân chưa dậy. Bà gọi chàng — bảo rằng mình đánh mất một chiếc nhẫn vàng trong giường. Chàng đành đến giúp tìm — bà bò bằng đầu gối khắp giường, trên người chỉ mặc áo lót. Chốc chốc họ lại đụng phải nhau, và mỗi lần như vậy, trong mắt cả hai đều hiện lên nụ cười vụng trộm của kẻ trộm. Rồi bà chộp lấy chàng—. Phải, bản thân chàng hẳn cũng chưa cư xử cho thật đoan trang, thời gian và nơi chốn vốn không thuận cho điều đó — nhưng bà thuận tình một cách sỗ sàng, trơ trẽn đến nỗi chàng bỗng lạnh hẳn người. Đỏ bừng vì xấu hổ, chàng quay mặt khỏi gương mặt đang tan ra trong tiếng cười và vẻ lẳng lơ ấy; chàng vùng ra, không cần viện thêm cớ gì, rồi bước ra ngoài và sai các nữ tỳ của bà vào với phu nhân.
Không, quỷ tha ma bắt, chàng đâu phải chuột con để bị tóm trong rơm giường. Một đằng là đi quyến rũ — còn để mình bị quyến rũ lại là chuyện khác. Chàng cũng phải bật cười — chàng vừa chạy trốn một người đàn bà đẹp như Joseph người Do Thái thuở xưa. Phải, trên biển hay trên đất, chuyện này chuyện nọ vẫn xảy ra.
Không, phu nhân Sunniva—. Ôi, chàng phải nhớ đến _một người_ — một người chàng từng biết. Nàng đã đến gặp chàng trong một quán trọ dành cho đám quân dịch lang bạt — vậy mà nàng bước đến đoan trang, đường bệ như một thiếu nữ dòng vua đi dự thánh lễ. Trong lùm cây và kho thóc, nàng đã thuộc về chàng; xin Chúa tha thứ cho chàng, chàng đã quên dòng dõi và danh dự của nàng; vì chàng, nàng cũng đã quên những điều ấy, nhưng nàng không sao vứt bỏ chúng khỏi mình. Dòng tộc của nàng vẫn trỗi dậy trong nàng, ngay cả khi nàng không nghĩ đến nó.
Chúa ban phúc cho em, Kristin của ta — xin Chúa giúp ta, lời chung thủy ta đã trao em nơi kín đáo và trước cửa nhà thờ, ta sẽ giữ trọn, bằng không ta chẳng bao giờ đáng được gọi là một người đàn ông. Nhất định thế.
Thế rồi chàng cho đưa phu nhân Sunniva lên bờ ở Yrjar, nơi bà có họ hàng. Điều hay nhất là lúc chia tay bà dường như cũng không quá giận. Chàng đâu cần cúi đầu ủ ê như một tu sĩ — hai người đã trêu đuổi nhau đến mức văng cả ra ngoài mạn, lên tận mái chèo, như người ta vẫn nói. Khi từ biệt, chàng tặng phu nhân mấy tấm da quý để may áo choàng, và bà hứa chàng sẽ được trông thấy bà khoác chiếc áo ấy. Rồi đây chắc họ cũng còn gặp nhau đôi lần. Tội nghiệp bà, người chồng bà có đã không còn trẻ, lại hơi đau yếu—.
Nhưng chàng sung sướng vì được trở về với vợ mà trong lòng không có điều gì phải giấu nàng, và chàng kiêu hãnh về lòng kiên định đã qua thử thách của mình. Chàng còn cuồng lên vì nhớ Kristin — sau tất cả, nàng vẫn là đóa hồng, đóa huệ ngọt ngào và xinh đẹp nhất — mà nàng lại thuộc về chàng!
Kristin đã ra tận bãi sỏi đón chàng khi Erlend ghé thuyền vào Birgsi. Những người đánh cá đã mang tin đến Vigg rằng Margygren được trông thấy ngoài khơi Yrjar. Nàng dẫn theo hai con trai lớn và Margret, còn ở Husaby, người ta đang sửa soạn tiệc khoản đãi bạn bè cùng họ hàng đến mừng Erlend trở về.
Nàng đã trở nên xinh đẹp đến mức Erlend nghẹn thở khi trông thấy. Nhưng quả thật nàng đã thay đổi. Vẻ thiếu nữ vẫn còn đọng lại nơi nàng sau mỗi lần vượt cạn — cái dáng mảnh dẻ, mong manh như nữ tu dưới khăn đội đầu của người đàn bà có chồng — giờ đã biến mất. Nàng là một người vợ, một người mẹ trẻ trung, đầy sức sống. Đôi má nàng tròn và đỏ hồng khỏe mạnh giữa hai vạt khăn trắng, bộ ngực cao, săn chắc, làm nền cho dây chuyền và trâm cài lấp lánh. Hông nàng nở rộng và mềm mại hơn dưới đai chìa khóa cùng chiếc bao mạ vàng đựng kéo và dao. Phải, phải, nàng chỉ càng thêm đẹp — giờ nom nàng không còn nhẹ đến mức gió có thể thổi nàng bay lên trời, rời khỏi chàng như trước kia. Ngay cả đôi bàn tay lớn, thon dài cũng đã đầy đặn và trắng hơn.
Đêm ấy họ nghỉ tại Vigg, trong ngôi nhà của viện phụ. Và ngày hôm sau, khi họ lên đường về nhà, Kristin cưỡi ngựa bên chàng đến dự tiệc ở Husaby, trẻ trung, hồng hào và vui sướng, dịu dàng, rã rời vì hạnh phúc.
Có biết bao chuyện hệ trọng nàng cần bàn với chồng khi chàng trở về. Có cả nghìn chuyện về các con, những nỗi lo dành cho Margret, cùng những dự định của nàng nhằm gây dựng lại các điền trang. Nhưng tất cả đều tan biến trong cơn say hội hè.
Họ đi từ tiệc này sang tiệc khác, và nàng theo vị quan trấn hạt trong những chuyến tuần hành của chàng. Giờ Erlend còn nuôi thêm nhiều người tại Husaby; sứ giả và thư từ đi lại giữa chàng với các chức dịch địa phương và những người đại diện của chàng. Erlend lúc nào cũng hớn hở, vui vẻ — chẳng lẽ chàng lại không đảm đương nổi chức quan trấn hạt — chàng, kẻ đã từng đập đầu mình vào gần như mọi chương mục trong luật nước và luật Giáo hội. Những điều như thế đã học rồi thì đâu dễ quên. Chàng vốn thông minh, lĩnh hội nhanh, lại được dạy dỗ tử tế khi còn nhỏ. Giờ những điều ấy lại bộc lộ trong chàng. Chàng tập quen với việc tự đọc thư và đã thuê một người Iceland làm thư lại. Trước kia Erlend chỉ đóng dấu triện của mình dưới mọi thứ người khác đọc lên cho chàng nghe, chẳng buồn nhìn đến một dòng chữ — điều đó Kristin đã hiểu rõ trong hai năm qua, khi nàng trở nên thông thuộc với mọi thứ chứa trong các hòm thư từ của chàng.
Giờ đây trong nàng nảy sinh một vẻ nhẹ nhõm bồng bột mà trước kia nàng chưa từng biết. Chính nàng cũng trở nên nhanh nhẹn hơn, bớt lặng lẽ khi ra ngoài giao tiếp — bởi nàng cảm thấy mình giờ hết sức xinh đẹp, và lần đầu tiên kể từ khi lấy chồng, nàng hoàn toàn khỏe mạnh, tràn đầy sức lực. Buổi tối, khi nàng và Erlend nằm bên nhau trên một chiếc giường lạ trong căn gác của một điền trang lớn hoặc trong gian nhà nông dân, họ cười, thì thầm và đùa cợt về những người đã gặp cùng những tin tức nghe được. Erlend ăn nói bông lơn hơn bao giờ hết, và người ta dường như cũng ưa chàng hơn bất kỳ thời nào trước đó.
Nàng nhận thấy điều ấy ngay ở các con mình — chúng như mê đi vì sung sướng mỗi khi người cha chịu bỏ ra đôi chút thời giờ chơi với chúng. Naakkve và Bjørgulf giờ suốt ngày chỉ lo những thứ như cung, giáo và rìu. Đôi khi người cha đang đi ngang sân thì dừng lại, nhìn chúng rồi chỉ bảo: “Không phải thế, con trai của cha — phải cầm thế này” — chàng sửa bàn tay bé xíu, đặt các ngón tay vào đúng vị trí. Khi ấy chúng cuống cả lên vì háo hức.
Hai người con trai lớn không lúc nào rời nhau. Bjørgulf lớn và khỏe nhất trong đám trẻ, cao ngang Naakkve dù anh hơn nó một năm rưỡi, và người cũng đẫy hơn. Nó có mái tóc đen nhánh quăn cứng, khuôn mặt nhỏ rộng nhưng đẹp, đôi mắt xanh đen. Một hôm Erlend lo lắng hỏi người mẹ liệu nàng có biết Bjørgulf nhìn không rõ bằng một mắt — mắt nó cũng hơi lác. Kristin nói nàng không nghĩ đó là điều đáng ngại, lớn lên hẳn nó sẽ tự khỏi. Chẳng hiểu sao đứa trẻ này vẫn luôn là đứa nàng ít chăm nom nhất — nó ra đời khi nàng đã kiệt sức vì săn sóc Naakkve, rồi Gaute lại chào đời ngay sau đó. Nó là đứa cường tráng nhất, hẳn cũng thông minh nhất, nhưng ít lời. Erlend yêu người con trai này hơn cả.
Dẫu không tự nhận rõ với chính mình, chàng vẫn có phần không ưa Naakkve, bởi thằng bé đã đến vào lúc bất tiện và lại phải mang tên cha chàng. Còn Gaute thì không giống như chàng từng mong đợi—. Thằng bé có cái đầu lớn, điều ấy cũng dễ hiểu, bởi trong hai năm đầu dường như chỉ có cái đầu của nó là lớn lên — giờ tay chân đang vươn theo khá nhanh. Trí óc nó không có gì đáng chê, nhưng nó nói rất chậm; hễ nói nhanh là líu lưỡi hoặc cà lăm, và khi ấy Margret lại chế giễu nó. Kristin rất mềm lòng với thằng bé này — dù Erlend hiểu rằng, theo một cách nào đó, người con cả hẳn vẫn là đứa nàng yêu nhất — nhưng Gaute vốn yếu ớt, lại hơi giống cha nàng, với mái tóc vàng nhạt và đôi mắt xám sẫm — nó cũng quấn mẹ vô cùng. Nó có phần lạc lõng giữa hai anh lớn luôn luôn đi cùng nhau và cặp sinh đôi vẫn còn nhỏ đến mức phải theo các bà vú nuôi.
Giờ Kristin có ít thời giờ chăm sóc các con hơn, và nàng phải theo cách của những phu nhân khác nhiều hơn trước, giao chúng cho các nữ tỳ trông nom — nhưng hai đứa lớn giờ cũng thích chạy theo những người đàn ông trong điền trang hơn. Nàng không còn ấp ủ chúng trong mối âu yếm đau yếu ngày xưa — nhưng mỗi khi có thời giờ tụ họp chúng quanh mình, nàng lại chơi đùa và cười với chúng nhiều hơn.
Vào dịp năm cũ sang năm mới, Husaby nhận được một lá thư mang dấu triện của Lavrans Bjørgulfssøn. Thư do chính tay ông viết và được gửi theo vị linh mục ở Orkedal vừa đi về phương nam, nên đã có từ hai tháng trước. Tin lớn nhất trong thư là ông đã hứa gả Ramborg cho Simon Andressøn ở Formo. Hôn lễ sẽ cử hành vào dịp lễ Thánh Giá mùa xuân.
Kristin kinh ngạc vô cùng. Nhưng Erlend nói chàng đã nghĩ chuyện có thể diễn ra như thế — ngay từ khi nghe tin Simon Darre góa vợ và về sống tại điền trang của mình ở Sil sau khi ngài Andres Gudmundssøn già qua đời.