Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 12: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần II — Husaby · Chương VI
Chương 12 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Một trong những điều đầu tiên Kristin nhận thấy khi về nhà là tất cả những đầu đàn ông bằng gỗ xưa kia đặt trên chỗ giao nhau của các tấm ván diềm mái nơi đầu hồi đều đã biến mất. Thay vào đó là những chóp nhọn chạm lá cành và chim chóc, cùng một con quay gió mạ vàng trên kho lương mới. Hai cột bên ghế danh dự trong gian nhà lò lửa cũng đã được thay bằng cột mới. Hai cột cũ được tạc thành hình hai người đàn ông, xấu xí thật, nhưng hẳn đã đứng đó từ khi ngôi nhà được dựng lên, và vào những ngày lễ người ta vẫn thường bôi mỡ rồi tắm bia cho chúng. Trên hai cột mới, cha nàng đã tạc hai người đàn ông đội mũ trụ và mang khiên có dấu thập giá. Ông bảo đó không phải chính Thánh Olav, vì ông thấy một kẻ có tội mà giữ ảnh các thánh trong nhà, ngoài mục đích đọc kinh trước ảnh, là điều bất kính — nhưng có thể coi họ như hai chiến binh trong đoàn quân của Olav. Mọi hình chạm gỗ cũ đều do chính Lavrans bổ ra và đốt — đám gia nhân không dám làm. Ông chỉ vừa miễn cưỡng cho phép họ mang thức ăn đặt lên tảng đá lớn bên gò Jørund vào những đêm trước ngày lễ — nhưng Lavrans vẫn nghĩ rằng lấy đi phần mà chủ nhân trong gò đã quen được nhận, suốt từ khi có người sống trên gia trang này, thì cũng là một điều có tội. Người ấy đã chết từ rất lâu trước khi Kitô giáo đến Na Uy, vậy nên việc người ấy là dân ngoại đâu phải lỗi của người ấy.
Dân chúng chẳng ưa gì những việc Lavrans Bjørgulfssøn làm. Với ông thì chẳng sao, bởi ông có của cải để mua lấy sự che chở từ nơi khác. Sự che chở ấy xem ra cũng linh nghiệm không kém, vì vận may của chủ trại vẫn theo ông như trước. Nhưng ai biết được những kẻ kia có trả thù hay không, khi trên gia trang này có một người chủ kém mộ đạo hơn và không rộng tay đến thế với mọi sự thuộc về Giáo hội. Còn đối với dân nghèo, cho những kẻ xưa kia phần họ vẫn quen nhận còn ít tốn kém hơn là gây chuyện với họ rồi phải trông cậy vào các linh mục.
Vả lại, tình thân giữa Jørundgaard và nhà xứ rồi sẽ ra sao khi Sira Eirik qua đời thì cũng khó mà biết được. Vị linh mục đã già yếu, đến nỗi phải kiếm một linh mục phụ tá. Thoạt đầu ông đã thưa chuyện với giám mục về người cháu ngoại Bentein Jonssøn — nhưng Lavrans cũng nói chuyện với giám mục, vốn là bạn cũ của ông. Dân chúng cho rằng như thế thật vô lý. Có lẽ tối hôm ấy vị linh mục trẻ đã quá sỗ sàng với Kristin Lavransdatter và khiến cô gái hoảng sợ — nhưng cũng khó biết có phải chính nàng đã làm cho gã trai trở nên trâng tráo hay không. Bởi về sau đã rõ rằng nàng không e lệ như vẻ nàng từng tỏ ra. Nhưng Lavrans thì xưa nay vẫn nghĩ cô con gái ấy tốt đẹp quá mức, nâng niu nàng trên tay như thể nàng là một hòm thánh tích.
Sau đó Sira Eirik và Lavrans lạnh nhạt với nhau một thời gian. Nhưng rồi Sira Solmund đến, và lập tức tranh chấp với cha xứ về một khoảnh đất, không rõ nó thuộc điền sản của giáo xứ hay là tài sản riêng của Eirik. Trong cả vùng, Lavrans là người hiểu rõ nhất những việc mua bán đất đai cùng lai lịch của chúng từ thuở xa xưa, và lời chứng của ông đã quyết định vụ việc. Từ đó ông và Sira Solmund không còn là bạn, còn Sira Eirik với Audun, người trợ tế già, thì hầu như sống luôn ở Jørundgaard, có thể nói như vậy, bởi ngày nào họ cũng đến ngồi với Lavrans, than thở về mọi điều oan ức và phiền não họ phải chịu từ vị linh mục mới, rồi được hầu hạ chẳng khác gì hai vị giám mục.
Kristin đã nghe đôi chút về những chuyện ấy từ Borgar Trondssøn ở Sundbu; chàng lấy một người vợ quê Trøndelag và đã vài lần đến thăm nàng tại Husaby. Trond Gjesling chết cách đây mấy năm; chẳng ai coi đó là tổn thất lớn, bởi từ lâu ông ta gần như một đứa con lạc loài của dòng họ cũ — keo kiệt, ngang ngạnh và bệnh tật. Chỉ riêng Lavrans chịu đựng được Trond, vì ông thương người anh em bên vợ ấy, và còn thương Gudrid, vợ ông ta, hơn nữa. Nay hai người đều đã mất, cả bốn con trai của họ cùng sống trên gia trang; họ là những người đàn ông đầy triển vọng, gan dạ và tuấn tú, nên ai nấy đều cho rằng cuộc đổi thay ấy là tốt. Giữa họ và người dượng ở Jørundgaard có tình thân rất lớn — mỗi năm ông cưỡi ngựa đến Sundbu đôi ba lần và cùng họ đi săn trên vùng núi phía tây. Nhưng Borgar nói rằng cách Lavrans và Ragnfrid giờ đây tự hành xác bằng việc đền tội và lòng kính sợ Chúa thật là quá quắt. “Đến mùa chay, cha cô nốc nước cũng dữ chẳng kém, nhưng ông không còn trò chuyện với những bát bia bằng tấm lòng nồng hậu thuở trước nữa,” Borgar nói. Không ai hiểu nổi ông — thật không thể nào tưởng tượng Lavrans có một tội lỗi thầm kín nào cần chuộc, và theo chỗ mọi người biết thì ngoài các bậc thánh thiện, hẳn chẳng con cháu Adam nào sống mộ đạo hơn ông.
Sâu kín trong lòng Kristin lay động một linh cảm về lý do khiến cha nàng cố sức đến thế để tiến gần Chúa, rồi lại gần hơn nữa. Nhưng nàng không dám nhìn cho rõ.
Nàng không chịu thừa nhận rằng mình đã thấy cha đổi khác biết bao. Thật ra ông cũng chưa già đi quá nhiều: ông vẫn giữ được thân hình thanh mảnh và dáng đứng thẳng, đẹp đẽ. Tóc ông đã bạc nhiều, nhưng điều ấy không đập ngay vào mắt, bởi tóc ông xưa nay vốn rất sáng màu. Dẫu vậy — trong ký ức nàng vẫn ám ảnh hình ảnh người đàn ông trẻ tuổi, đẹp rực rỡ — đôi má đầy đặn, tươi trẻ trên khuôn mặt dài và hẹp, sắc hồng trong trẻo của làn da dưới lớp rám nắng, đôi môi đỏ mọng với hai khóe sâu. Nay thân thể từng đầy bắp thịt của ông đã khô lại, chỉ còn xương và gân; gương mặt nâu sạm, sắc cạnh như tạc bằng gỗ, hai má phẳng và gầy, nơi mỗi khóe miệng nổi lên một nút cơ. Phải, nhưng ông đâu còn là người trẻ nữa — tuy cũng chưa đến nỗi già lắm.
Ông vốn luôn lặng lẽ, điềm đạm và trầm tư, và nàng biết từ thuở nhỏ ông đã giữ các điều răn của Kitô giáo với một lòng sốt sắng khác thường, yêu thánh lễ và những lời kinh bằng tiếng Latinh, tìm đến nhà thờ như nơi đem lại cho ông niềm vui sâu xa nhất. Nhưng ai cũng cảm thấy một tinh thần tự do và niềm vui sống rộng lớn, bình thản vẫn nâng đỡ tâm hồn người đàn ông lặng lẽ ấy. Nay dường như có thứ gì đó trong ông đã rút cạn đi.
Từ ngày về nhà, nàng chỉ thấy ông say đúng một lần — vào một buổi tối trong đám cưới ở Formo. Khi ấy ông có hơi lảo đảo và nói líu lưỡi, nhưng chẳng vui vẻ gì đặc biệt. Nàng nhớ thuở thơ ấu — trong những tiệc bia lớn vào các dịp lễ và những buổi yến tiệc — cha nàng từng ngửa miệng cười vang, vỗ đùi trước mỗi câu đùa, thách mọi người đàn ông nổi tiếng khỏe mạnh thi kéo sức và vật nhau, thử ngựa rồi nhảy vào cuộc múa, nhưng chính ông lại cười nhiều nhất mỗi khi chân mình loạng choạng; ông phân phát quà cáp và tràn đầy thiện ý cùng tình thân đối với tất cả mọi người. Nàng hiểu rằng thỉnh thoảng cha mình cần một cơn say lớn giữa công việc không ngừng, những kỳ chay nghiêm ngặt ông tuân giữ, và cuộc sống gia đình yên lặng bên những người thân coi ông là người bạn tốt nhất và chỗ dựa của mình.
Nàng cũng cảm thấy chồng mình chẳng bao giờ có nhu cầu uống đến say như thế, bởi ngay cả khi hoàn toàn tỉnh táo, Erlend vẫn rất ít tự kiềm chế; chàng cứ thuận theo những ý thích bất chợt của mình, chẳng mấy khi suy tính điều gì phải hay trái, hoặc thiên hạ coi thế nào là hợp phép tắc và cách hành xử của người khôn ngoan. Trong những người đàn ông nàng từng biết, Erlend là người điều độ nhất đối với rượu mạnh — chàng uống để giải khát và để vui cùng bạn hữu, chứ không mấy bận tâm đến rượu.
Nay Lavrans Bjørgulfssøn đã mất tấm lòng nồng hậu thuở xưa bên những chén bia. Trong ông không còn điều gì cần được giải thoát bằng cơn say nữa. Ý nghĩ nhấn chìm nỗi buồn trong men rượu chưa bao giờ nảy ra trong lòng ông, và bây giờ cũng vậy — đối với ông, một người đàn ông phải mang niềm vui của mình đến bàn rượu.
Với những nỗi buồn, ông đã tìm đến một nơi khác. Có một hình ảnh luôn chập chờn, chỉ được nhớ lại một nửa trong tâm trí người con gái — cha nàng trong đêm nhà thờ cháy. Ông đứng dưới cây thánh giá chịu nạn mà mình đã cứu ra, mang cây thập giá trên vai và tựa mình vào đó. Không suy nghĩ thành lời rõ rệt, Kristin linh cảm rằng nỗi sợ cho tương lai của nàng và các con nàng bên người đàn ông nàng đã chọn, cùng cảm giác bất lực của chính ông trước việc ấy, là một phần nguyên do khiến Lavrans đổi khác.
Sự hiểu biết ấy âm thầm gặm nhấm lòng nàng. Và nàng đã về nhà, mệt mỏi vì những bất an của mùa đông vừa qua, vì sự nhẹ dạ khiến chính nàng cũng yên lòng nương theo thói vô tư của Erlend. Nàng biết chàng đã và sẽ vẫn hoang phí, chẳng biết gì về việc quản lý điền sản; dưới tay chàng, tài sản cứ hao hụt chậm rãi mà không ngừng. Đôi ba việc nàng đã khiến chàng thu xếp theo lời khuyên của nàng và Sira Eiliv — nhưng nàng không đủ sức nói mãi với chàng về những chuyện như thế; giờ đây được vui vẻ cùng chàng cũng thật quyến rũ. Nàng đã quá mệt vì phải vật lộn và tranh đấu với mọi điều bên ngoài mình cũng như trong chính tâm trí mình. Nhưng bản tính nàng lại khiến ngay cả sự vô lo cũng làm nàng lo âu và kiệt quệ.
Ở quê nhà này, nàng đã mong tìm lại sự bình yên thời thơ ấu dưới vòng che chở của cha.
— Không, nàng cảm thấy bất an đến thế. Erlend giờ có nguồn lợi lớn từ chức vụ cai quản hạt, nhưng chàng cũng phô trương xa hoa hơn nữa, nuôi nhiều người hơn và đi đâu cũng có đoàn tùy tùng như một thủ lĩnh. Và chàng đã bắt đầu gạt nàng hoàn toàn ra khỏi mọi phần trong đời mình không trực tiếp thuộc về sự chung sống gần gũi nhất giữa hai người. Nàng hiểu chàng không muốn đôi mắt cảnh giác của nàng dõi theo những việc mình làm. Với đàn ông, chàng sẵn lòng kể về mọi điều đã thấy và trải qua ở miền bắc — nhưng với nàng, chàng chưa bao giờ nhắc đến. Và còn những chuyện khác nữa. Trong mấy năm qua, chàng đã vài lần gặp phu nhân Ingebjørg, mẹ nhà vua, và ngài Knut Porse; lần nào cũng tình cờ nhằm lúc nàng không thể đi cùng. Nay ngài Knut đã là một công tước ở Đan Mạch, và con gái vua Haakon đã kết duyên với ông. Việc ấy khơi dậy nỗi phẫn uất cay đắng trong lòng nhiều người Na Uy; người ta đã có những hành động chống lại phu nhân mà Kristin không hiểu. Vị giám mục ở Bjørgvin còn bí mật gửi mấy chiếc rương đến Husaby; giờ chúng ở trên tàu Margygren, đang neo ngoài Neset. Erlend đã nhận được thư từ và định cuối mùa hè sẽ đi thuyền sang Đan Mạch. Chàng nhất quyết muốn nàng đi cùng — nhưng nàng khước từ. Nàng hiểu Erlend đi lại giữa những bậc quyền quý ấy như người ngang hàng và thân quyến yêu quý của họ, và nàng lo sợ; một người bất cẩn như Erlend ở giữa họ thật chẳng an toàn. Nhưng nàng không dám đi theo — đến đó nàng cũng không thể khuyên bảo chàng điều gì, và nàng không muốn tự đặt mình vào giữa những người mà nàng, một nữ chủ gia trang bình thường, không đủ sức giữ địa vị trước họ. Vả lại nàng sợ biển — chứng say sóng đối với nàng còn khủng khiếp hơn cả một cuộc sinh nở gian nan nhất.
Bởi thế nàng ở lại Jørundgaard, lòng nơm nớp run rẩy vì bất an.
Một ngày nọ nàng cùng cha xuống Skjenne. Và nàng lại được thấy bảo vật kỳ lạ mà người ta lưu giữ trên gia trang ấy. Đó là một chiếc đinh thúc ngựa bằng vàng ròng tinh khiết nhất, lớn nặng, mang kiểu dáng cổ xưa và những hoa văn kỳ dị. Cũng như mọi đứa trẻ trong vùng, nàng biết nó từ đâu mà có.
Chuyện xảy ra vào thời gian đầu sau khi Thánh Olav đưa Kitô giáo vào thung lũng: Audhild người đẹp ở Skjenne bị núi khép giữ bên trong. Người ta đưa chuông nhà thờ lên núi và rung chuông gọi cô gái — đến đêm thứ ba, nàng đi qua bãi cỏ, mình trang sức nhiều vàng đến nỗi tỏa sáng như một vì sao. Bấy giờ dây thừng đứt, quả chuông lăn xuống sườn đá, và Audhild phải trở vào trong núi.
Nhưng nhiều năm sau, vào một đêm nọ, mười hai chiến binh tìm đến vị linh mục — đó là vị linh mục đầu tiên ở Sil. Họ đội mũ trụ vàng, mặc áo giáp bạc và cưỡi những con ngựa xám nâu sẫm. Họ là các con trai của Audhild với vua núi, và họ cầu xin cho mẹ mình được cử hành tang lễ như một phụ nữ Kitô hữu và chôn trong đất đã thánh hiến. Trong núi, bà đã cố giữ đức tin cùng những ngày lễ của Giáo hội, và đã khẩn thiết cầu xin điều này. Nhưng vị linh mục từ chối — dân chúng bảo vì thế mà chính ông không được yên trong mồ; vào những đêm thu, người ta nghe thấy ông đi trong lùm cây phía bắc nhà thờ, khóc vì hối hận trước sự cứng lòng của mình. Cũng trong đêm ấy, các con trai Audhild đã hiện ra ở Skjenne và mang lời thăm hỏi của mẹ họ đến cha mẹ già của bà. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy chiếc đinh thúc bằng vàng giữa sân. Và dân trong núi hẳn vẫn tiếp tục nhận mối họ hàng với người Skjenne, bởi họ luôn gặp một vận may hiếm có trên núi.
Trong lúc hai cha con cưỡi ngựa về nhà giữa đêm hè, Lavrans nói với con gái:
“Những người con trai của Audhild đã đọc các kinh Kitô giáo mà họ học được từ mẹ. Họ không thể gọi tên Chúa hay tên Giêsu, nhưng họ đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính như thế này: tôi tin vào đấng toàn năng kia, tôi tin vào người con một, tôi tin vào vị thần linh mạnh nhất. Rồi họ đọc: kính chào bà, người có phúc hơn mọi phụ nữ — và phúc thay hoa quả lòng bà, niềm an ủi của toàn thế gian —”
Kristin rụt rè ngước nhìn khuôn mặt gầy gò, dãi dầu mưa nắng của cha. Trong đêm hè sáng tỏ, gương mặt ấy dường như bị nỗi buồn và suy tư tàn phá hơn bất cứ khi nào nàng từng thấy.
“Cha chưa bao giờ kể con nghe chuyện này,” nàng khẽ nói.
“Cha chưa kể ư. À phải, hẳn cha nghĩ chuyện ấy có thể khiến con mang những ý nghĩ nặng nề hơn sức tuổi con chịu nổi. Sira Eirik nói rằng trong sách của Thánh Phaolô Tông đồ có chép, không riêng cõi người rên xiết trong đau đớn —”
Một ngày nọ Kristin ngồi may trên bậc cao nhất của cầu thang lên gác cỏ khô, thì Simon cưỡi ngựa vào sân và dừng lại ngay dưới chỗ nàng ngồi, nhưng chàng không trông thấy nàng. Cả cha lẫn mẹ nàng đều bước ra. Không, Simon không xuống ngựa đâu; Ramborg chỉ nhờ chàng tiện đường ghé hỏi — con cừu từng là cừu non nàng nuôi làm vật cưng, hẳn họ chưa đưa nó lên đồng cỏ trên núi chứ; nàng muốn đem nó về.
Kristin nghe thấy cha mình vò đầu. Con cừu của Ramborg, phải rồi —. Ông bật cười vì bực. Chuyện này thật không hay, ông đã hy vọng nàng quên nó rồi. Bởi ông đã cho hai đứa cháu ngoại lớn nhất mỗi đứa một chiếc rìu tay nhỏ. Và việc đầu tiên chúng dùng những chiếc rìu ấy để làm là đập chết con cừu của Ramborg.
Simon cười khẽ: “Phải, hai thằng nhóc Husaby ấy đúng là một lũ cướp —”
Kristin chạy xuống cầu thang, tháo chiếc kéo bạc khỏi sợi xích bên thắt lưng:
“Anh hãy đưa vật này cho Ramborg để đền việc các con tôi đã giết con cừu của em ấy — tôi biết em ấy ao ước có nó từ khi còn nhỏ. Không ai được nói rằng các con tôi —” Nàng đã nói đầy nóng nảy, nhưng giờ bỗng im bặt. Nàng đã trông thấy vẻ mặt cha mẹ mình — họ nhìn nàng, vừa phật ý vừa kinh ngạc.
Simon không nhận chiếc kéo; chàng có vẻ lúng túng. Rồi chàng trông thấy Bjørgulf, bèn cưỡi ngựa đến chỗ nó, cúi xuống nhấc thằng bé lên ngồi phía trước mình trên yên:
“Vậy là cháu đi cướp bờ ngay trong vùng đất của chúng ta đấy à — giờ cháu là tù binh của ta, ngày mai cha mẹ cháu có thể sang gặp ta, rồi chúng ta sẽ thương lượng tiền chuộc —”
Nói rồi chàng cười, chào những người phía sau và cưỡi đi, ôm thằng bé đang giãy chân và cười vang trong tay. Simon đã trở nên rất thân thiết với các con trai Erlend; Kristin nhớ chàng xưa nay vẫn có duyên với trẻ nhỏ; các em gái nàng từng rất yêu quý chàng. Nàng thấy tức tối một cách lạ lùng vì chàng yêu trẻ đến thế và khéo chơi với chúng đến thế, trong khi chồng nàng chẳng mấy khi buồn nghe con trẻ líu lo.
Tuy vậy, hôm sau khi đến Formo, nàng hiểu rằng Simon chẳng được vợ cảm ơn vì đã mang vị khách này về nhà.
“Chưa ai có thể mong Ramborg yêu thích trẻ con cho lắm,” Ragnfrid nói, “chính nó còn chưa qua khỏi tuổi thơ. Khi lớn hơn, mọi chuyện hẳn sẽ khác.”
“Hẳn là vậy.” Simon và mẹ vợ trao đổi một ánh mắt cùng một nụ cười rất khẽ. À, Kristin nghĩ — phải rồi, đám cưới đã diễn ra gần hai tháng —.
Trong tâm trạng rối bời và bất an lúc này, Kristin trút cả lên Erlend. Chàng vui vẻ, mãn nguyện tận hưởng những ngày lưu lại nơi gia trang của cha vợ, thanh thản như một người lòng ngay dạ thẳng. Chàng rất hòa thuận với Ragnfrid và tỏ rõ rằng mình hết lòng yêu mến cha vợ; Lavrans dường như cũng quý mến con rể. Nhưng Kristin lúc này đã trở nên dễ tổn thương và nhạy cảm đến nỗi nàng cảm thấy trong lòng tốt của cha dành cho Erlend có nhiều phần là thứ trìu mến bao dung mà Lavrans vẫn dành cho mọi sinh linh ông thấy không đủ sức tự lo liệu cho mình. Tình yêu ông dành cho người con rể kia không như vậy — ông đón tiếp Simon như một người bạn, một chiến hữu ngang hàng. Mặc dù tuổi Erlend gần với cha vợ hơn Simon rất nhiều, Simon và Lavrans lại xưng hô thân mật với nhau, còn từ khi Erlend trở thành vị hôn phu của Kristin, Lavrans đã gọi chàng bằng lối thân tình trong khi Erlend vẫn thưa gửi kính cẩn với ông. Lavrans chưa bao giờ ngỏ ý thay đổi điều ấy.
Simon và Erlend cũng hòa thuận mỗi khi gặp nhau, nhưng không ai tìm đến bầu bạn với người kia. Kristin vẫn thầm e ngại Simon Darre — vì những gì chàng biết về nàng, và còn hơn thế nữa, vì nàng biết rằng lần ấy chàng đã đứng về phía danh dự, còn Erlend đứng về phía nhục nhã. Mỗi khi nghĩ đến chuyện ngay cả điều đó dường như Erlend cũng có thể quên được, nàng lại nổi giận điên người. Bởi vậy nàng không phải lúc nào cũng dễ chịu với chồng. Nếu Erlend đang lúc vui vẻ, hiền lành và nhẫn nại trước tính cáu kỉnh của nàng, nàng lại bực tức vì lời mình nói chẳng khiến chàng tổn thương. Một ngày khác, lòng kiên nhẫn của chàng có thể rất ngắn, chàng sẽ nổi nóng, còn nàng đáp trả bằng giọng cay nghiệt, lạnh lùng.
Một tối nọ, họ ngồi trong gian nhà bếp lửa ở Jørundgaard. Lavrans vẫn thích gian nhà này hơn cả, nhất là vào những ngày mưa và không khí nặng nề như hôm ấy, bởi trong đại sảnh dưới gác chứa cỏ khô, trần nhà thấp và khói lò trở nên ngột ngạt; còn ở gian bếp lửa, khói dồn lên dưới sống mái ngay cả khi vì thời tiết họ phải đóng lỗ thoát khói.
Kristin ngồi bên bếp lửa may vá; nàng khó chịu trong người và buồn chán. Đối diện nàng, Margret vừa may vừa ngủ gà ngủ gật, thỉnh thoảng lại ngáp; lũ trẻ của chị chạy nháo nhào, làm ầm cả gian phòng. Ragnfrid đang ở Formo, còn phần lớn gia nhân đều đã ra ngoài. Lavrans ngồi trên ghế cao của mình, Erlend ngồi đầu trên của chiếc ghế dài phía ngoài; giữa hai người là bàn cờ, và họ lặng lẽ, trầm ngâm di chuyển các quân. Khi Ivar và Skule giằng co, suýt xé một con chó con làm đôi, Lavrans đứng dậy, giằng con vật nhỏ đang tru lên khỏi tay chúng; ông không nói gì, chỉ trở lại bàn cờ, đặt con chó trong lòng.
Kristin bước đến chỗ họ, đặt một tay lên vai chồng và nhìn ván cờ. Erlend chơi cờ kém cha vợ rất nhiều, nên những tối họ đấu cờ chàng thường thua, nhưng chàng chịu những chuyện ấy với vẻ hiền lành, thản nhiên. Tối hôm đó chàng chơi tệ khủng khiếp. Kristin đứng đó trách móc chàng — chẳng mấy dịu dàng ngọt ngào. Cuối cùng Lavrans nói, giọng có phần gay gắt:
“Erlend làm sao để tâm vào ván cờ được khi con cứ đứng đó quấy rầy nó như thế. Con muốn gì ở đây, Kristin — trò chơi bàn cờ xưa nay con có biết gì đâu!”
“Không, hẳn hai người cho rằng con chẳng biết gì cả—”
“Có một điều cha thấy con không biết,” người cha nói sắc lạnh, “ấy là một người vợ phải ăn nói với chồng thế nào cho phải phép. Tốt hơn hết con nên ra kia dẹp lũ trẻ của con đi — chúng làm loạn còn hơn đoàn quỷ đêm Giáng sinh—”
Kristin bước đi, đặt các con ngồi thành một hàng trên ghế dài, rồi ngồi xuống bên chúng.
“Các con im lặng nào,” nàng nói, “ông ngoại không muốn các con đùa nghịch, vui chơi trong này.”
Lavrans nhìn sang con gái, nhưng không nói gì. Một lát sau, các vú nuôi bước vào, Kristin, các thị nữ và Margret đưa lũ trẻ đi ngủ. Khi chỉ còn lại Erlend và cha vợ, chàng nói:
“Con ước gì cha đừng quở trách Kristin như thế. Nếu lúc nàng bực bội mà việc chì chiết con có thể khiến nàng nguôi ngoai — nói lý với nàng cũng chẳng ích gì, mà nàng lại không chịu nổi khi có ai nói một lời về các con của nàng—”
“Còn con,” Lavrans hỏi, “con định để mặc các con trai mình lớn lên vô phép tắc như thế sao? Những thị nữ có phận sự trông nom, chăm sóc chúng đâu cả rồi—”
“Chắc đang ở gian của đám gia nhân nam nhà cha,” Erlend cười nói rồi vươn vai. “Nhưng con nào dám hé một lời với Kristin về các tỳ nữ của nàng — nàng sẽ nổi trận lôi đình, rồi cho con nghe rằng nàng với con vốn chẳng làm gương được cho ai—”
Ngày hôm sau, Kristin đi hái dâu dọc theo một đồng cỏ phía nam gia trang; cha nàng đứng ở cửa lò rèn gọi nàng, bảo nàng vào gặp ông.
Kristin miễn cưỡng bước vào. Hẳn lại vì Naakkve — sáng hôm ấy thằng bé đã mở một cánh cổng, khiến đàn bò nhà đi vào một ruộng lúa mạch.
Người cha lấy một thanh sắt nung đỏ khỏi lò và đặt lên đe. Cô con gái ngồi chờ; hồi lâu không có tiếng động nào ngoài tiếng búa nện xuống phôi lưỡi đang tóe lửa và tiếng chiếc đe ngân vang đáp lại. Cuối cùng Kristin hỏi cha gọi nàng đến có việc gì.
Thanh sắt lúc này đã nguội. Lavrans đặt kìm và búa tạ xuống, bước lại chỗ nàng. Mặt và tóc lấm muội, quần áo cùng hai bàn tay đen nhẻm, chiếc tạp dề da lớn phủ trước người, trông ông nghiêm khắc hơn thường ngày.
“Cha gọi con đến vì muốn nói với con điều này, con gái ạ. Trong gia trang của cha, con phải tỏ lòng kính trọng người chồng chính danh của mình như một người vợ phải làm. Cha không muốn nghe con gái mình đối đáp và ăn nói với chồng như con đã nói với Erlend hôm qua.”
“Chuyện này mới đấy, thưa cha, rằng cha cho Erlend là một người đáng được thiên hạ kính trọng.”
“Nó là chồng _con_,” Lavrans nói. “Cha cũng đâu dùng vũ lực ép con phải nên duyên ấy. Con nên nhớ điều đó.”
“Hai người giờ là bạn bè nồng hậu quá,” Kristin đáp. “Nếu ngày trước cha biết chàng như bây giờ, hẳn cha đã vui lòng dùng vũ lực.”
Người cha nhìn xuống nàng, nghiêm nghị và đau buồn:
“Con đang nói hồ đồ đấy, Kristin, và nói điều chính con biết là không thật. Cha đã không tìm cách ép buộc con khi con muốn vứt bỏ vị hôn phu hợp pháp của mình, dù con biết cha hết lòng yêu quý Simon—”
“Không — nhưng trong hoàn cảnh ấy Simon cũng đâu còn muốn lấy con—”
“À. Nó cao thượng nên không muốn khăng khăng đòi quyền của mình khi con không thuận lòng. Nhưng cha không biết trong thâm tâm nó có thật sự phản đối đến thế không, nếu cha làm theo lời Andres Darre — rằng chúng ta không nên để tâm đến những ý thích nhất thời của hai đứa trẻ tuổi. Và giờ cha gần như không biết có phải vị hiệp sĩ ấy đã đúng chăng — khi cha thấy con không thể sống cho phải đạo với người chồng mà con đã ngang ngạnh đòi cho bằng được—”
Kristin bật cười lớn, tiếng cười xấu xí:
“Simon! Không bao giờ cha có thể dọa ép Simon cưới người đàn bà mà chàng đã bắt gặp ở cùng một người đàn ông khác trong một căn nhà như thế—”
Lavrans hớp lấy hơi — “Căn nhà—?” ông buột miệng.
“Vâng — thứ mà đàn ông các người gọi là nhà chứa. Người đàn bà sở hữu nơi ấy là tình nhân của Munan; chính mụ đã cảnh báo con đừng đến đó. Con nói con đến gặp người bà con của mình — con đâu biết chàng lại là họ hàng của _mụ ta_—” nàng lại cười, cuồng dại và xấu xí—
“Im đi!” người cha nói.
Ông đứng yên một lát. Một cơn run lướt qua gương mặt ông — một nụ cười nom như sắc mặt chợt tái đi. Nàng bỗng nhớ đến sườn núi phủ lá — lúc nó hóa trắng dưới luồng gió bão lật nghiêng từng chiếc lá, một khoảng sáng lấp lánh, nhợt nhạt.
“Kẻ không gặng hỏi lại biết được nhiều điều—”
Kristin gục xuống nơi nàng đang ngồi trên ghế, chống người trên một khuỷu tay và đưa bàn tay kia lên che mắt. Lần đầu tiên trong đời nàng sợ cha mình — sợ đến chết khiếp.
Ông quay lưng lại nàng, bước tới cầm chiếc búa tạ lên, đặt nó vào chỗ giữa những chiếc búa khác. Rồi ông thu nhặt giũa và những dụng cụ nhỏ, bắt đầu xếp chúng ngay ngắn trên thanh xà ngang giữa hai vách. Ông đứng quay lưng về phía nàng; hai bàn tay run dữ dội.
“Con chưa bao giờ nghĩ đến sao, Kristin — Erlend đã giữ kín chuyện này.” Ông đứng trước mặt nàng, nhìn xuống gương mặt trắng bệch, kinh hãi. “Cha đã thẳng thừng khước từ nó khi nó cùng những người họ hàng giàu sang đến Tunsberg xin cưới con — lúc ấy cha đâu biết chính _cha_ mới là người phải cảm tạ nó vì đã muốn cứu vãn danh dự cho con gái cha. Nhiều người đàn ông khác hẳn đã cho cha biết chuyện ấy ngay khi đó—”
“_Chính nó_ đã trở lại, đường đường chính chính cầu hôn con. Không phải người đàn ông nào cũng kiên trì đến thế để cưới một người vợ vốn đã — đã là — thứ mà con khi ấy đã trở thành.”
“Con nghĩ không một người đàn ông nào dám nói điều đó trước mặt cha—”
“Erlend xưa nay chẳng hề sợ thép lạnh—” Bỗng gương mặt Lavrans mệt mỏi khôn tả, giọng ông chìm xuống, chết lặng và không âm sắc. Nhưng rồi ông lại nói tiếp, lặng lẽ mà cứng rắn:
“Chuyện này đã tệ hại đến thế, Kristin — nhưng điều khiến cha thấy tệ hại nhất là con nói ra nó lúc này, khi nó đã là chồng con và là cha của các con trai con—
— Nếu đúng như lời con nói, vậy thì con đã biết điều tệ hại nhất về nó trước khi ngang ngạnh đòi kết duyên với nó. Thế mà nó vẫn sẵn lòng cưới con với cái giá đắt như thể con là một trinh nữ đoan chính. Nó đã cho con rất nhiều tự do để cai quản, định đoạt — vậy con phải đền tội bằng cách cai quản cho khôn ngoan và bù đắp những gì Erlend thiếu về sự thận trọng — đó là bổn phận con mắc với Thiên Chúa và các con mình.
Chính cha đã từng nói, và những người khác cũng nói như thế — rằng dường như Erlend chẳng làm nên trò trống gì ngoài việc quyến rũ đàn bà. Con cũng có lỗi khiến người ta nói như vậy — chính con vừa làm chứng cho điều ấy. Nhưng về sau nó đã cho thấy mình còn làm được những việc khác — chồng con đã giành được thanh danh tốt đẹp nhờ lòng can đảm và sự nhanh nhẹn trong chiến trận. Việc cha chúng nổi tiếng gan dạ và thạo binh khí chẳng phải món lợi nhỏ đối với các con trai con. Còn chuyện nó — thiếu khôn ngoan — thì _con_ hẳn phải biết rõ hơn tất cả chúng ta. Con sẽ chuộc lại nỗi nhục của mình tốt nhất bằng cách kính trọng và giúp đỡ người chồng do chính con lựa chọn—”
Kristin đã cúi gập người trên lòng, đầu vùi trong hai bàn tay. Giờ nàng ngẩng lên, mặt tái nhợt và tuyệt vọng:
“Con thật tàn nhẫn khi nói với cha chuyện này. Ôi — Simon đã cầu xin con, đó là điều duy nhất chàng cầu xin con, rằng con hãy tránh cho cha khỏi phải biết điều xấu xa nhất—”
“Simon xin con tránh cho cha—” nàng nghe thấy nỗi tổn thương trong giọng ông. Và nàng hiểu rằng mình cũng thật tàn nhẫn khi nói cho ông biết một người ngoài đã nhận ra nàng có thể cần được nhắc nhở phải biết thương cha mình.
Bấy giờ Lavrans ngồi xuống bên nàng, cầm một bàn tay nàng trong cả hai tay mình và đặt nó lên đầu gối:
“Tàn nhẫn lắm, Kristin của cha,” ông nói, giọng hiền từ và đau đớn. “Con tốt với tất cả mọi người, đứa con ngoan của cha, nhưng trước đây cha cũng đã hiểu rằng con có thể tàn nhẫn với những người con yêu quá đỗi. Vì Chúa Jesus, Kristin, xin con tránh cho cha nỗi phải sợ con đến thế. Cha sợ tính cuồng dại này sẽ đem thêm đau buồn đến cho con và những người thân của con. Con giằng giật như con ngựa non lần đầu bị buộc vào cọc chuồng, ngay nơi con đã bị trói bằng những rễ sâu nhất của trái tim mình.”
Nức nở, nàng nép vào ông, và người cha ôm nàng thật chặt, thật vững trong vòng tay. Họ ngồi như thế hồi lâu, nhưng Lavrans không nói thêm. Cuối cùng ông nâng đầu nàng lên:
“Con đen nhẻm cả rồi,” ông nói với một nụ cười nhỏ. “Có mảnh khăn trong góc kia — nhưng chắc con chỉ càng lau càng đen. Con về nhà rửa ráy đi — ai nhìn con cũng biết con vừa ngồi trong lòng bác thợ rèn—”
Ông dịu dàng đẩy nàng ra khỏi cửa, đóng cửa lại rồi đứng yên một lát. Sau đó ông lảo đảo bước mấy bước đến chiếc ghế dài, đổ xuống, ngồi tựa gáy vào những súc gỗ của vách, gương mặt ngửa lên, méo mó. Ông dốc hết sức ép một bàn tay vào chỗ trái tim
Cơn ấy chẳng bao giờ kéo dài lâu. Hơi thở ngạt lại, cơn choáng váng tối đen, nỗi đau từ trái tim đang vật lộn và run rẩy tỏa ra khắp tay chân; tim nện mấy nhịp dữ dội rồi lại đứng yên, rung rẩy. Máu đập thình thịch trong các mạch cổ.
Một lát nữa hẳn nó sẽ qua. Lần nào cũng vậy, chỉ cần ông ngồi yên một lúc là nó qua. Nhưng rồi nó lại trở lại, ngày một thường xuyên hơn.
Erlend đã hẹn thủy thủ đoàn của mình tập hợp tại Veøy vào đêm trước lễ Thánh Jakob, nhưng chàng ở lại Jørundgaard lâu hơn đôi chút để cùng Simon đi săn một con gấu dữ đã gây thiệt hại cho đàn gia súc trên núi. Khi chàng trở về sau chuyến săn, có tin báo rằng một số người của chàng đã đánh nhau với dân thị trấn, và chàng phải vội vã đi về phương bắc để chuộc họ ra. Lavrans cũng có công việc trên ấy, nên ông cưỡi ngựa đi cùng con rể.
Khi họ ra tới đảo thì đã gần đến lễ Thánh Olav kỳ sau. Thuyền của Erling Vidkunssøn đang neo ở đó, và trong buổi kinh chiều tại nhà thờ Thánh Peter, họ gặp quan nhiếp chính. Ngài theo họ vào khu tu viện, nơi Lavrans trọ, dùng bữa cùng họ ở đó rồi sai người xuống thuyền lấy một ít rượu vang Pháp đặc biệt ngon mà ngài đã kiếm được tại Nidaros.
Nhưng trong lúc uống, câu chuyện diễn ra gượng gạo. Erlend ngồi chìm trong ý nghĩ riêng, đôi mắt sáng rỡ như mọi khi chàng sắp lên đường làm một việc mới, nhưng lơ đãng mỗi lúc những người kia nói chuyện. Lavrans chỉ nhấp môi vào rượu, còn ngài Erling im lặng.
“Trông anh mệt mỏi quá, người anh em,” Erlend nói với ngài.
— Phải, đêm qua họ gặp thời tiết dữ dội khi vượt vịnh Husastad, ngài đã phải thức suốt—
“Và anh phải thúc ngựa thật nhanh mới kịp đến Tunsberg vào ngày lễ Thánh Lavrans. Ở đó chắc anh cũng chẳng được mấy yên ổn hay dễ chịu. Thầy Paal hiện đang ở bên nhà vua phải không—”
“Phải. Anh không ghé qua Tunsberg sao?”
“Có chăng là để hỏi nhà vua có muốn gửi lời thăm hỏi hiếu kính đến mẫu thân hay không” — Erlend cười. “Hoặc xem giám mục Audfinn có muốn nhờ gửi lời đến phu nhân chăng—”
“Nhiều người lấy làm lạ vì anh đi Đan Mạch đúng lúc các thủ lĩnh đang kéo đến hội họp tại Tunsberg,” ngài Erling nói.
“Phải, chẳng lạ sao khi thiên hạ lúc nào cũng phải lấy làm lạ về tôi? Tôi có thể muốn đi xem đôi chút những phong tục mà mình chưa được thấy từ lần cuối ở Đan Mạch — lại một lần nữa tham dự một cuộc đấu thương — và giờ người bà con của chúng ta đã mời. Trong cả họ hàng của bà ấy ở xứ này, ngoài Munan và tôi, chẳng còn ai chịu nhận bà ấy nữa.”
“Munan—” Erling cau mày. Rồi ông bật cười: “Con lợn nòi già ấy, suýt nữa tôi đã nói thế, vẫn còn đủ sức kéo tấm thân béo nục đi được sao? Vậy là công tước Knut sẽ mở hội đấu võ. Hẳn Munan cũng sẽ cưỡi ngựa đấu thương chứ?”
“Phải— thật đáng tiếc cho anh, Erling, không được đi xem cảnh ấy.” Erlend cũng cười. “Tôi biết anh sợ phu nhân Ingebjørg mời chúng tôi dự tiệc đầy tháng đứa trẻ là để chúng tôi phải nấu một mẻ bia khác mà mời bà ấy sang đáp lễ. Chính anh hiểu rõ hơn ai hết rằng tay tôi quá nặng mà lòng tôi quá nhẹ, chẳng thể dùng vào việc mật mưu. Còn Munan thì các anh đã nhổ sạch từng chiếc răng rồi—”
“Ồ không, chúng tôi cũng chẳng sợ những mưu ngầm từ phía ấy. Ingebjørg Haakonsdatter hẳn phải hiểu rõ rằng bà ta đã mất hết mọi quyền lợi trên chính quê hương mình khi lấy Porsen. Bà ta sẽ không sao đặt nổi một chân qua cửa nơi đây, từ khi đã trao tay mình vào tay kẻ mà đến ngón út của hắn chúng tôi cũng không muốn thấy lọt vào trong cương giới nước mình—”
“Phải, các anh thật khôn ngoan khi tách cậu bé khỏi mẹ nó,” Erlend nói, mặt tối sầm. “Nó vẫn chỉ là một đứa trẻ— thế mà ngay từ bây giờ, đàn ông Na Uy chúng ta đã có lý do để ngẩng cao đầu mỗi khi nghĩ đến vị vua mà chúng ta đã thề giữ lòng trung thành—”
“Im đi,” Erling Vidkunssøn nói khẽ, giọng tuyệt vọng. “Chuyện đó— chuyện đó chắc chắn là không thật—”
Hai người kia nhìn ông và biết rằng ông hiểu chuyện ấy là thật. Vua Magnus Eirikssøn vẫn còn là một đứa trẻ, vậy mà dường như đã nhiễm phải một tội lỗi không tiện nhắc đến giữa những người đàn ông theo đạo Kitô. Một giáo sĩ Thụy Điển được giao việc dạy vua học sách mỗi khi vua ở Thụy Điển đã dẫn cậu lạc lối theo một cách không thể gọi thành lời.
Erlend nói:
“Ở miền bắc chỗ chúng tôi, người ta thì thầm chuyện ấy trong mọi gia trang và mọi túp lều: Nhà thờ Chúa Kitô cháy là vì vua chúng ta không xứng ngồi trên ngai của Thánh Olav—”
“Nhân danh Chúa, Erlend— tôi đã bảo, chưa biết chắc chuyện ấy có thật hay không! Và đứa trẻ ấy, vua Magnus, chúng ta phải tin rằng trước mắt Chúa nó không có tội—. Nó có thể thanh tẩy mình—. Anh nói rằng chính chúng tôi đã tách nó khỏi mẹ sao! Tôi nói, xin Chúa trừng phạt người mẹ phản bội con mình như Ingebjørg đã phản bội con trai bà ta— và anh đừng đặt lòng tin vào hạng người ấy, Erlend— hãy nhớ rằng những kẻ anh sắp đến gặp là một lũ bất tín!”
“Tôi cho rằng họ đã giữ lòng chung thủy với nhau khá đẹp đẽ—. Nhưng anh nói cứ như ngày nào thư từ trời cũng rơi xuống vạt áo choàng của anh— hẳn vì thế anh mới cho rằng mình có quyền táo gan đến vậy, dám tìm cách cắn xé các bậc chức sắc của Giáo hội—”
“Thôi đi, Erlend. Chuyện gì anh biết thì hãy nói, cậu bé, còn không thì im đi—” Ngài Erling đã đứng dậy; ông và Erlend đứng đối diện nhau, giận dữ, mặt đỏ bừng.
Erlend nhếch miệng ghê tởm:
“Một con vật bị người ta làm cho hư hỏng, chúng ta sẽ đập chết rồi quẳng xác xuống thác—”
“Erlend!” Quan nhiếp chính nắm chặt mép bàn bằng cả hai tay. “— Chính anh cũng có con trai—” ông nói khẽ. “Sao anh có thể nói như thế—. Ôi, hãy giữ lấy miệng mình, Erlend. Đến nơi anh sắp đến, hãy nghĩ kỹ trước khi nói. Và trước khi làm bất cứ điều gì, hãy nghĩ kỹ hai mươi lần—”
“Nếu những người cai quản việc nước các anh hành xử như thế, tôi chẳng lấy làm lạ khi mọi sự đều rối tung. Nhưng hẳn anh không cần phải sợ”— chàng nhăn mặt giễu cợt— “Tôi— chắc chắn sẽ chẳng làm gì đâu. Nhưng sống ở đất nước này giờ thật là thú vị—.
— Thôi, sáng mai anh còn phải đi sớm. Mà cha vợ tôi đã mệt rồi—”
Sau khi chàng chúc ngủ ngon, hai người kia vẫn ngồi lại, không nói gì. Erlend ngủ trên tàu của mình. Erling Vidkunssøn ngồi xoay chiếc cốc giữa các ngón tay.
“Ngài ho đấy ư?” ông hỏi để có chuyện mà nói.
“Người già rất dễ sụt sịt. Chúng tôi có biết bao nhiêu chứng khó chịu, thưa ngài thân mến, mà người trẻ các ngài không biết tới,” Lavrans mỉm cười nói.
Rồi họ lại ngồi im. Một lúc sau Erling Vidkunssøn nói, gần như chỉ nói với chính mình:
“Phải, ai cũng nghĩ như thế— rằng vương quốc này đang ở trong tình cảnh tồi tệ. Sáu năm trước tại Oslo, tôi đã tưởng rằng người ta bộc lộ rất rõ một ý chí kiên định muốn giữ vững vương quyền— nơi những người thuộc các dòng họ sinh ra để gánh vác công việc ấy. Tôi— đã trông cậy vào điều đó.”
“Tôi tin khi ấy ngài đã nhìn đúng, thưa ngài. Nhưng chính ngài cũng nói, chúng ta vốn quen tụ họp quanh vua mình. Giờ vua chỉ là một đứa trẻ— mà nửa thời gian lại ở một nước khác—”
“Phải. Đôi khi tôi nghĩ— chẳng có điều gì xấu đến nỗi không đem lại chút ích lợi nào. Thuở trước, khi các vua của chúng ta nhảy chồm như ngựa đực— luôn có đủ những chú ngựa non khỏe mạnh để đưa ra; dân trong nước chỉ cần chọn con nào cắn trả dữ nhất—”
Lavrans khẽ cười: “Ừ—”
“Ba năm trước chúng ta đã chuyện trò với nhau, Lavrans Lagmanssøn, khi ngài trở về từ chuyến hành hương đến Skøvde và đã ghé thăm họ hàng ở Gautland—”
“Tôi còn nhớ, thưa ngài, ngài đã ban cho tôi vinh dự đích thân tìm đến gặp—”
“Không, không, Lavrans, ngài không cần phải khách sáo đến thế—” người kia hơi sốt ruột phẩy tay. “Mọi chuyện đã thành ra đúng như tôi nói,” ông cất giọng u tối. “Giờ đây chẳng ai có thể tập hợp được đám gia thần quý tộc trong nước. Kẻ nào háu ăn nhất thì chen lên trước— trong máng vẫn còn chút thức ăn. Nhưng những người có thể khát khao giành lấy quyền lực và giàu sang theo cách mà vào thời cha ông chúng ta còn đi kèm với danh dự, họ lại không bước ra.”
“Quả thực trông là như vậy. Giờ đây danh dự đi theo ngọn cờ của vị thủ lĩnh.”
“Vậy hẳn người ta cho rằng ngọn cờ của tôi chẳng đem theo bao nhiêu danh dự,” Erling khô khan nói.— “Ngài đã tránh xa mọi việc có thể khiến tên tuổi mình được biết đến, Lavrans Lagmanssøn—”
“Tôi vẫn làm thế từ khi thành gia thất, thưa ngài. Tôi lấy vợ sớm— vợ tôi đau yếu và không chịu nổi việc giao du giữa đông người. Mà dường như dòng họ chúng tôi không thể hưng thịnh ở Na Uy. Các con trai tôi đều chết sớm, và trong số các cháu trai bên anh em tôi, chỉ có một đứa sống đến tuổi trưởng thành.”
Ông hối tiếc vì đã lỡ nói ra điều ấy. Chính Erling Vidkunssøn cũng đã chịu nhiều đau buồn như thế trong gia đình. Các con gái ông đều là những đứa trẻ khỏe mạnh và đã lớn lên, nhưng ông cũng chỉ giữ được duy nhất một người con trai còn sống, mà nghe nói cậu bé ấy lại yếu ớt. Song ngài Erling chỉ hỏi:
“Bên họ mẹ, ngài cũng không có bà con gần, nếu tôi nhớ không lầm.”
“Không, chẳng có ai gần hơn các con của em gái ông ngoại tôi. Sigurd Lodinssøn chỉ có hai cô con gái ấy, và cả hai đều chết khi sinh đứa con đầu lòng— dì tôi mang cả con mình xuống mồ.”
Rồi họ lại ngồi im một lúc.
“Những kẻ như Erlend,” quan nhiếp chính nói nhỏ. “Đó là những kẻ nguy hiểm nhất. Họ nghĩ xa hơn lợi ích của chính mình một chút. Nhưng chưa đủ xa. Chẳng phải Erlend giống một đứa trẻ lười biếng sao—” ông bực bội xoay chiếc cốc rượu vòng quanh trên bàn, “chàng ta có tài đấy chứ? Lại xuất thân cao quý và táo bạo nữa? Nhưng chẳng bao giờ chịu nghe về một việc cho đủ để hiểu thấu đến tận cùng—. Mà giả như chàng ta chịu nghe một người nói hết lời, thì hẳn trước khi người ấy nói đến đoạn cuối, chàng ta đã quên mất đoạn đầu rồi—”
Lavrans nhìn sang người kia. Ngài Erling đã già đi rất nhiều kể từ lần cuối ông gặp. Ông nom hao mòn và mệt mỏi— dường như thân hình cũng nhỏ lại trên ghế. Những đường nét trên gương mặt ông thanh tú và sáng rõ, nhưng hơi nhỏ quá, còn sắc diện thì như đã phai nhạt— mà xưa nay vẫn vậy. Lavrans cảm thấy người đàn ông này— dẫu là một hiệp sĩ chính trực, khôn ngoan, sẵn lòng phụng sự không gian dối và chẳng tiếc thân mình— trong mọi phương diện vẫn hơi nhỏ bé quá để đứng hàng đầu. Giá ông cao hơn một cái đầu, có lẽ ông đã dễ dàng thu phục được đông người đi theo hơn.
Lavrans khẽ nói:
“Ngài Knut cũng là người đủ khôn ngoan để nhìn ra điều ấy— nếu họ đang tính chuyện gì ở dưới đó— thì trong những cuộc mật nghị, ông ta chẳng thể dùng Erlend được bao nhiêu—”
“Dường như ngài có cảm tình với người con rể này, Lavrans,” người kia nói, gần như bực bội. “Nói thật, ngài đâu có lý do gì để yêu mến chàng ta—”
Lavrans dùng ngón tay vạch những nét trên chút rượu đổ ra bàn. Ngài Erling nhận thấy giờ đây những chiếc nhẫn đeo trên tay ông đã rộng đến thế nào.
“Còn ngài thì có sao?” Lavrans ngẩng lên với nụ cười nhỏ nhẹ, thanh nhã. “Ấy vậy mà tôi tin ngài cũng có cảm tình với cậu ấy!”
“Ừ. Có Chúa biết—
— Nhưng ngài có thể quả quyết, Lavrans, lúc này có biết bao điều đang khuấy động trong lòng ngài Knut— ông ta là cha của một đứa con trai, mà đứa trẻ ấy lại là cháu ngoại của vua Haakon—”
“Ngay cả Erlend cũng phải hiểu rằng cha đứa trẻ ấy có tấm lưng quá rộng, vị tiểu công tử này chẳng bao giờ có thể vượt qua nổi. Còn người mẹ thì vì cuộc hôn nhân ấy mà bị toàn dân trong nước chống lại.”
Một lát sau, Erling Vidkunssøn đứng cài thanh kiếm vào người; Lavrans đã lễ độ lấy áo choàng của khách xuống khỏi móc và đang cầm nó trong tay— thì đột nhiên ông chao đảo, sắp đổ gục, nhưng ngài Erling đã đỡ lấy ông trong hai cánh tay. Ông phải khó nhọc lắm mới đưa được người kia, vốn cao lớn, tới giường. Không phải chứng đột quỵ— Lavrans nằm đó, mặt trắng bệch, môi xanh tím, tay chân mềm nhũn. Ngài Erling chạy băng qua sân, đánh thức chủ quán trọ.
Khi tỉnh lại, Lavrans tỏ ra vô cùng hổ thẹn. Phải, đó là một cơn yếu sức thỉnh thoảng vẫn tái phát— bắt đầu từ một chuyến săn nai sừng tấm hai mùa đông trước, khi ông lạc đường giữa trận tuyết dồn. Hẳn phải có những chuyện thế này thì một người đàn ông mới chịu hiểu rằng tuổi trẻ đã rời khỏi thân thể mình, ông mỉm cười như để xin lỗi.
Ngài Erling nán lại cho đến khi vị tu sĩ đã trích máu người bệnh, mặc dù Lavrans xin ông đừng bận tâm, bởi ngay từ lúc rạng đông ông còn phải lên đường đi tiếp—
Trăng đứng cao, soi sáng trên những ngọn núi ở đất liền; nước gần bờ đen thẫm, nhưng ngoài vịnh, ánh trăng trôi như những phiến bạc. Không một làn khói bay lên từ bất cứ lỗ thoát khói nào— cỏ trên những mái nhà lấp lánh sương dưới ánh trăng. Không một bóng người trên con phố ngắn ngủi duy nhất của thị trấn buôn bán khi ngài Erling bước nhanh mấy bước xuống vương trang, nơi ông nghỉ đêm. Dưới ánh trăng, ông trông nhỏ bé và mảnh khảnh lạ thường— chiếc áo choàng đen quấn chặt quanh mình— người hơi run lên vì lạnh. Hai gia nhân ngái ngủ đã thức chờ ông lảo đảo chạy ra sân, cầm theo một ngọn đèn. Quan nhiếp chính cầm lấy đèn, bảo họ đi ngủ— rồi lại khẽ run vì lạnh khi bước lên cầu thang dẫn đến căn gác trên kho, nơi ông nằm nghỉ.