Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 15: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần III — Erlend Nikulaussøn · Chương I

Chương 15 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby

Ragnfrid Ivarsdatter sống chưa tròn hai năm sau chồng; bà mất vào đầu mùa đông năm 1332. Từ Hamar đến Skaun đường xa, nên ở Husaby, mãi khi bà đã nằm dưới đất hơn một tháng, họ mới hay tin bà qua đời. Nhưng vào khoảng lễ Hiện xuống, Simon Andressøn đến đó; giữa những người thân tộc lúc này có đôi điều cần thỏa thuận về di sản của Ragnfrid. Kristin Lavransdatter nay sở hữu Jørundgaard, và họ thu xếp để Simon trông nom điền sản của nàng và nhận sổ sách tính toán từ những tá điền; chàng vốn đã quản lý đất đai của mẹ vợ trong thung lũng khi bà còn ở Hamar.

Đúng vào thời gian ấy, Erlend gặp không ít phiền toái và bực mình vì mấy vụ việc xảy ra trong địa hạt. Mùa thu năm trước, người nông dân ở Forbregd thuộc Updal tên Huntjov đã giết người láng giềng vì kẻ ấy gọi vợ ông ta là mụ phù thủy. Dân trong vùng trói hung thủ giải đến cho quan quản hạt, và Erlend giam ông ta trong một gian gác. Nhưng khi trời càng lúc càng rét vào giữa mùa đông, chàng cho người ấy được tự do đi lại giữa đám gia nhân của mình. Huntjov từng theo Erlend ra miền bắc trên Margygren, và trong chuyến ấy đã tỏ ra hết sức can trường. Khi gửi văn thư trình vụ Huntjov và xin cho ông ta được quyền lưu lại trong nước, Erlend cũng hết lời nói tốt cho người ấy; rồi khi Ulf Haldorssøn đứng bảo lãnh rằng Huntjov sẽ có mặt đúng kỳ tại pháp đình Orkedal, Erlend cho người nông dân về nhà trong dịp lễ Giáng sinh. Nhưng rồi ông ta cùng vợ lên Drivdalen thăm người coi nhà trú chân trên núi — đó là bà con của họ — và trong chuyến đi ấy cả hai mất tích. Erlend cho rằng họ đã bỏ mạng trong trận bão dữ xảy ra bấy giờ, nhưng nhiều người nói họ đã trốn đi — giờ người của quan quản hạt có lần theo dấu cũng chỉ uổng công. Rồi lại có những cáo buộc mới nhằm vào hai kẻ mất tích: rằng mấy năm trước Huntjov đã giết một người trong núi và vùi xác dưới một đống đá — một người mà Huntjov tin là đã rạch bị thương phần hông con ngựa cái của mình. Và người ta xác nhận được rằng vợ ông ta quả có hành nghề phù thủy.

Bấy giờ linh mục ở Updal cùng người đại diện của tổng giám mục bắt đầu điều tra những lời đồn về phép phù thủy ấy. Việc đó khiến nhiều chuyện xấu xa bị phơi bày về cách dân chúng ở nhiều nơi trong Orkdølafylke giữ đạo Kitô. Phần lớn là tại những vùng hẻo lánh như Rennabu, Updalsskogen, nhưng cả một ông già ở Budviken cũng bị đưa ra trước tòa của tổng giám mục tại Nidaros. Trong chuyện này Erlend tỏ ra ít sốt sắng đến nỗi người ta bàn tán. Có lão Aan từng sống dưới bờ biển gần Husaby, gần như có thể kể vào người trong nhà Erlend. Lão từng dùng chữ rune và đọc bùa chú, lại nghe nói trong gian nhà của lão có mấy hình tượng mà lão dâng lễ vật cho. Nhưng sau khi lão chết, người ta không tìm thấy vật nào như thế trong túp lều. Erlend và Ulf Haldorssøn hình như đã ở bên lão lúc lão trút hơi — và trước khi linh mục tới, hẳn họ đã dẹp đi không ít thứ, dân chúng bảo vậy. Vả chăng, bây giờ nghĩ lại, người dì ruột của Erlend từng bị cáo buộc dùng tà thuật, ngoại tình và giết chồng — mặc dù phu nhân Aashild Gautesdatter quá khôn ngoan, khéo léo, và có lẽ cũng có những người bạn quá quyền thế, nên chẳng điều gì có thể được chứng minh chống lại bà. Thế là người ta đồng thời nhớ ra rằng thời trẻ Erlend đã sống rất trái đạo và từng bất chấp vạ tuyệt thông của Giáo hội —.

Rốt cuộc tổng giám mục triệu Erlend Nikulaussøn đến Nidaros để hội kiến. Simon cùng người anh em đồng hao vào thành phố; chàng phải đón cháu trai mình ở Ranheim, vì đã định cho cậu bé theo chàng về thung lũng và ở thăm mẹ một thời gian.

Còn chừng một tuần nữa pháp đình Frostating mới họp trong thành phố, và phố chợ đông nghịt người. Khi hai người anh em đồng hao đến dinh tổng giám mục và được dẫn vào phòng hội kiến, trong đó đã có mấy kinh sĩ cùng một số lãnh chúa thế tục — giữa họ có Harald Nikulaussøn, thẩm phán trưởng của Frostating; Olav Hermanssøn, thẩm phán trưởng ở Nidaros; hiệp sĩ Guttorm Helgessøn, quan quản hạt Jemtland; và cả Arne Gjavvaldssøn, người lập tức bước đến chào Simon Darre hết sức thân tình. Arne kéo Simon tới một hốc cửa sổ, rồi hai người ngồi xuống đó.

Simon không được dễ chịu trong lòng. Chàng chưa gặp lại người kia kể từ lần đến Ranheim mười năm trước; mặc dù người ở đó đã tiếp đãi chàng thật nồng hậu, chuyến đi vì công việc ấy vẫn để lại một vết sẹo trong tâm trí chàng.

Trong lúc Arne hết lời khoe chàng Gjavvald trẻ tuổi, Simon ngồi để mắt tới người anh em đồng hao. Erlend đang trò chuyện với quan quản quốc khố — ông tên là ngài Baard Peterssøn, nhưng không có họ hàng với dòng họ Hestnæs. Không thể nói cử chỉ của Erlend thiếu nhã nhặn; tuy vậy chàng tỏ ra hết sức tự nhiên, thoải mái khi đứng nói chuyện với vị lão thần — khẽ nhún từ mũi chân sang gót chân, hai bàn tay đan vào nhau sau lưng. Như thường lệ, chàng mặc màu tối, nhưng y phục rất đẹp — chiếc áo chẽn dài màu xanh tím bó sát thân mình và xẻ hai bên, áo choàng vai màu đen có mũ trùm lật ra sau để lộ lớp lót lụa xám, thắt lưng nạm bạc và đôi ủng đỏ cao buộc chặt quanh bắp chân, làm nổi rõ đôi chân thon đẹp của chàng.

Trong ánh sáng sắc lạnh từ những cửa sổ kính của gian phòng đá, có thể thấy rõ tóc Erlend Nikulaussøn đã bạc khá nhiều nơi thái dương. Quanh miệng và dưới mắt, khuôn mặt thanh tú rám nắng nay đã hằn những nếp nhăn nhỏ, và trên chiếc cổ dài cong đẹp đã xuất hiện những đường nhăn ngang. Dẫu vậy, giữa các vị lãnh chúa kia trông chàng vẫn rất trẻ — mặc dù tuyệt nhiên không phải người trẻ nhất trong phòng. Chàng vẫn thanh mảnh, dong dỏng như xưa, vẫn mang thân mình với vẻ nhẹ nhõm, hơi bất cẩn như thời trẻ, vẫn bước êm và mềm mại khi quan quản quốc khố đã rời đi và chàng bắt đầu đi tới đi lui trong phòng, hai tay vẫn đan sau lưng. Tất cả các vị kia đều ngồi; họ nói khe khẽ với nhau bằng những giọng khô khan, nhỏ nhẹ. Tiếng chân nhẹ của Erlend và tiếng leng keng từ đôi đinh thúc bạc nhỏ của chàng nghe nổi lên quá rõ.

Cuối cùng một người trẻ tuổi bực bội bảo chàng ngồi xuống: “Và đừng có đi lại ầm ĩ thế nữa, anh bạn!”

Erlend đột ngột dừng lại, cau mày — rồi quay sang người vừa nói, bật cười:

“Tối nay anh uống ở đâu vậy, Jon bà con, mà đầu đau dữ thế —” chàng nói rồi ngồi xuống. Khi thẩm phán Harald bước tới, chàng cũng đứng dậy và đứng chờ cho đến khi người kia ngồi xuống; nhưng rồi chàng thả mình xuống bên cạnh vị thẩm phán, vắt chân nọ lên chân kia, hai tay ôm lấy đầu gối trong lúc ông ấy nói.

Erlend đã kể với Simon hết sức thẳng thắn về mọi rắc rối chàng gặp phải vì để tên sát nhân và người đàn bà phù thủy thoát khỏi tay mình như thế. Nhưng không một ai có thể trông vô tư hơn Erlend khi chàng ngồi bàn vụ việc với vị thẩm phán.

Bấy giờ tổng giám mục bước vào. Hai người dìu ông đến chiếc ghế cao rồi kê gối đỡ quanh người ông. Simon chưa từng gặp đức Eiliv Kortin. Ông trông già nua và yếu ớt, dường như rét run, mặc dù khoác áo choàng lông thú và đội chiếc mũ viền lông. Đến lượt mình, Erlend dẫn người anh em đồng hao tới trước mặt ông, và Simon quỳ một gối xuống khi hôn chiếc nhẫn của đức Eiliv. Erlend cũng kính cẩn hôn nhẫn.

Sau cùng, khi bước ra trước tổng giám mục — sau khi ông đã trò chuyện khá lâu với các vị khác về nhiều việc — Erlend cũng giữ thái độ hết sức đúng mực và kính cẩn. Nhưng chàng trả lời khá nhẹ tênh những câu hỏi của một kinh sĩ, với vẻ mặt táo bạo mà vô tội.

Phải, chàng đã nghe những lời dân chúng bàn tán về phép phù thủy này từ nhiều năm rồi. Nhưng chừng nào chưa có ai tìm đến chàng với tư cách người thi hành công lý, chàng không thể có lỗi vì không dò xét mọi chuyện đồn đại kiểu ấy giữa đám đàn bà trong một vùng quê. Hẳn phải là linh mục điều tra xem ở đây có căn cứ gì để khởi kiện hay không.

Rồi họ hỏi về ông già từng sống tại Husaby, người mà dân chúng bảo là có phép thuật.

Erlend khẽ mỉm cười: Phải, chính Aan từng khoe khoang chuyện đó, nhưng Erlend chưa bao giờ thấy bằng chứng nào về tài phép của lão. Từ thuở nhỏ, chàng đã nghe Aan nói về mấy người đàn bà mà lão gọi là Hærn, Skøgul và Snotra — nhưng chàng chưa từng xem đó là gì ngoài chuyện hoang đường và lời bông đùa. “Anh Gunnulf của tôi và linh mục của chúng tôi, cha Eiliv, hẳn đã tra hỏi lão nhiều lần, nhưng chắc họ không tìm thấy điều gì để buộc tội lão, vì họ chẳng làm gì cả. Lão vẫn đến nhà thờ vào mọi ngày có thánh lễ và thuộc các kinh nguyện Kitô giáo.” Chàng chưa bao giờ tin tưởng bao nhiêu vào phép thuật của Aan; sau khi ở miền bắc đã chứng kiến đôi chút thuật phù phép của người Finn và bùa chú, chàng hiểu rằng những trò Aan làm chỉ là trò bịp của một lão ngốc.

Bấy giờ vị linh mục hỏi có thật chính Erlend từng nhận được thứ gì đó từ Aan — một vật được cho là sẽ đem lại may mắn trong chuyện ái tình hay không?

Phải, Erlend đáp mau mắn, thẳng thắn và mỉm cười. Chắc là hồi chàng chừng mười lăm tuổi — khoảng hai mươi tám năm trước. Một túi da có viên đá trắng nhỏ cùng vài phần thân thể thú vật đã khô quắt, hình như thế. Nhưng ngay hồi ấy chàng cũng chẳng tin mấy vào những thứ đó — năm sau chàng đã đem cho, vào năm đầu tiên chàng ở trong cung vua. Chuyện xảy ra trong một nhà tắm trên thành phố — vì ngông nghênh, chàng đã đem vật phù phép ấy khoe với mấy thiếu niên khác. Sau đó có một thị vệ đến tìm chàng, muốn mua nó — Erlend đã đổi cho người ấy lấy một con dao cạo tốt.

Họ hỏi vị ấy là ai.

Thoạt đầu Erlend không chịu nói ra. Nhưng chính tổng giám mục truyền chàng phải nói. Erlend ngước lên, ánh tinh quái lóe trong đôi mắt xanh:

“Đó là ngài Ivar Ogmundssøn —”

Vẻ mặt mọi người trở nên hơi khác thường. Từ chỗ lão hiệp sĩ Guttorm Helgessøn vang lên mấy tiếng phì phì kỳ quặc. Chính đức Eiliv cũng phải cố sức để khỏi mỉm cười. Bấy giờ Erlend đánh bạo nói, mắt cúi xuống, răng khẽ cắn môi dưới:

“Thưa đức ông, hẳn ngài sẽ không quấy rầy vị hiệp sĩ đáng kính vì chuyện cũ này. Như tôi đã thưa với ngài — chính tôi cũng không tin bao nhiêu vào vật ấy — và tôi chưa từng nhận thấy việc trao món đồ đó cho ông ấy làm thay đổi điều gì đối với bất cứ ai trong hai chúng tôi —”

Ngài Guttorm gập người về phía trước, bật ra một tiếng cười rống; rồi hết người này đến người khác không nhịn nổi nữa, tất cả đều cười lớn. Tổng giám mục khúc khích, ho và lắc đầu. Ai cũng biết trong một số chuyện nhất định, ngài Ivar bao giờ cũng có lòng ham muốn nhiều hơn là gặp may.

Một lúc sau, cuối cùng một kinh sĩ cũng trấn tĩnh được đủ để nhắc rằng họ tụ họp nơi đây nhằm bàn những việc nghiêm trọng. Erlend hỏi, giọng hơi gay gắt, rằng có ai đã khởi kiện chàng hay không và đây có phải một cuộc thẩm vấn không — chàng vẫn tưởng mình được triệu tới một buổi hội kiến. Cuộc trao đổi lại tiếp tục, nhưng cứ chốc chốc Guttorm Helgessøn lại phì ra những tràng cười khúc khích, gây nên không ít xáo trộn.

Ngày hôm sau, khi hai người anh em đồng hao cưỡi ngựa từ Ranheim về nhà, Simon nhắc tới buổi hội kiến ấy. Simon thấy Erlend xem việc đó quá nhẹ — trong khi chàng cho rằng mình đã nhận ra có vài người trong giới quyền quý rất muốn kiếm chuyện với Erlend, nếu họ có thể.

Erlend nói chàng biết họ rất muốn, nếu họ có đủ sức. Bởi ở miền bắc này phần đông hiện đều ngả theo vị chưởng ấn — ngoại trừ tổng giám mục; nơi ông, Erlend nay có một người bạn hoàn toàn trung tín. Nhưng mọi việc Erlend làm đều đúng theo luật — trong mọi vụ chàng đều hỏi ý viên thư lại Kløng Aressøn, một người thông thạo pháp luật khác thường. Lúc này Erlend nói nghiêm túc, chỉ thoáng mỉm cười khi bảo rằng hẳn chẳng ai ngờ chàng lại nắm việc của mình chắc đến thế — cả những người bạn thân yêu của chàng tại các miền quê này lẫn các vị trong Hội đồng. Vả lại, chàng không chắc mình còn muốn giữ chức quản hạt nếu những điều kiện khác sẽ được áp đặt thay cho những điều kiện chàng từng có khi Erling Vidkunssøn đứng đầu chính quyền. Hoàn cảnh của chàng hiện giờ, nhất là sau khi cha mẹ vợ qua đời, đã đủ để chàng không cần mặc cả cầu ân với những kẻ lên nắm quyền nhờ việc nhà vua được tuyên bố đã trưởng thành. Phải, với thằng bé hư hỏng ấy, họ tuyên bố nó trưởng thành ngay bây giờ hay sau này cũng vậy; chắc nó chẳng nên người hơn nếu cứ bị giấu kín. Càng sớm thì càng thấy rõ nó mang gì trên tấm khiên — hoặc những lãnh chúa Thụy Điển đang điều khiển nó mang gì. Rồi dân chúng sẽ thấy rằng dẫu sao Erling cũng đã nhìn đúng. Chúng ta sẽ phải trả giá đắt nếu vua Magnus muốn đặt Skaane dưới vương miện Thụy Điển — và chiến tranh với người Đan Mạch sẽ nổ ra ngay khi _một_ kẻ, người Đan Mạch hay người Đức, giành được quyền lực tại đất nước ấy. Còn hòa ước ở miền bắc vốn phải có hiệu lực mười năm — nay đã qua nửa thời hạn, mà chưa biết người Nga có chịu giữ hòa ước được lâu đến thế hay không. Erlend không mấy tin — Erling cũng vậy. Phải rồi, chưởng ấn Paal là một người _học rộng_, trên nhiều phương diện cũng sáng suốt — có lẽ thế. Nhưng tất cả các vị trong Hội đồng đã chọn ông làm người dẫn đường, gộp lại cũng chẳng có nhiều trí khôn bằng Soten đây. Song giờ thì họ đã thoát được Erling — trong một thời gian. Và trong thời gian ấy Erlend cũng có thể lui sang một bên. Nhưng Erling cùng các bằng hữu của ông hẳn vẫn muốn Erlend duy trì quyền thế và của cải ở miền bắc này, nên chàng thật sự chưa biết phải làm sao.

“Tôi thấy giờ anh đã học được cách hát theo điệu của ngài Erling rồi đấy,” Simon Darre không nén được phải nói.

Erlend đáp, phải, quả là thế. Mùa hè năm ngoái, khi đến Bjørgvin, chàng đã ở trong nhà ngài Erling và từ đó hiểu con người ấy hơn. Trên hết, Erling muốn gìn giữ hòa bình trong nước. Nhưng ông muốn vương quốc Na Uy phải hưởng sự bình yên của sư tử — nghĩa là không ai được bẻ một chiếc răng hay cắt một móng vuốt của con sư tử thuộc về vua Håkon, người bà con của họ — và cũng không được thuần luyện nó thành chó săn cho dân tộc khác. Ngoài ra, Erling hiện hết sức mong giải quyết dứt điểm những tranh chấp cũ giữa người Na Uy và phu nhân Ingebjørg. Nay bà đã góa bụa sau khi ngài Knut qua đời, người ta chỉ có thể mong bà giành lại đôi chút ảnh hưởng đối với con trai mình. Quả thật bà yêu những đứa con đã sinh cho Knut Porse một cách lớn lao đến nỗi dường như phần nào quên mất người con trai cả — nhưng chắc mọi chuyện sẽ khác khi bà gặp lại chàng. Và không phải phu nhân Ingebjørg có lý do gì để muốn vua Magnus bị lôi vào tình hình rối ren ở Skaane chỉ vì những người em cùng mẹ khác cha của ngài có đất phong tại đó.

Simon nghĩ, nghe ra thì Erlend quả được thông báo khá đầy đủ. Nhưng chàng lấy làm lạ về Erling Vidkunssøn — vị cựu nhiếp chính ấy thật sự tin Erlend Nikulaussøn có năng lực phán đoán những việc như thế, hay giờ đây Erling đang vơ lấy bất cứ sự hậu thuẫn nào có thể tìm được? Hiệp sĩ xứ Bjarkøy hẳn không dễ dàng buông quyền lực. Chẳng ai từng có thể trách ông dùng nó để mưu lợi riêng, nhưng địa vị của ông cũng đâu khiến ông cần làm thế. Và ai cũng nói rằng theo năm tháng ông càng lúc càng ngoan cố, chuyên quyền; khi các vị khác trong Hội đồng vương quốc lần lượt tìm cách chống lại ông, ông càng trở nên độc đoán đến nỗi hầu như chẳng buồn nghe lời bất kỳ ai khác.

Thật đúng với Erlend khi mãi đến giờ, có thể nói chàng mới đặt cả hai chân lên con thuyền của Erling Vidkunssøn — đúng lúc nó gặp gió ngược và chưa biết việc chàng tỏ ra hết lòng đứng về phía người bà con giàu có sẽ có ích gì cho ngài Erling hay chính Erlend. Tuy vậy Simon phải tự thừa nhận rằng, dù Erlend nói về người và việc bằng giọng bất cần đến thế, lời lẽ của chàng vẫn không hoàn toàn thiếu sáng suốt.

Nhưng đến tối chàng lại hoàn toàn phấn khích và ngông nghênh. Lúc này Erlend ở tại Nikulausgaard, cơ ngơi người anh đã trao cho chàng khi vào tu viện. Kristin ở đó cùng chàng với ba đứa con, hai đứa lớn nhất và đứa nhỏ nhất, cùng Margret, con gái chàng.

Khi đêm xuống, khá đông người đến chỗ họ, trong số ấy có mấy vị đã dự buổi hội kiến tại dinh tổng giám mục sáng hôm trước. Erlend cười nói ầm ĩ bên bàn khi họ ngồi uống rượu sau bữa tối. Chàng lấy một quả táo trong chiếc bát trên bàn, dùng dao khắc và rạch lên đó — rồi lăn nó sang rơi vào lòng phu nhân Sunniva Olavsdatter đang ngồi đối diện.

Vị phu nhân ngồi bên Sunniva cũng muốn xem, bèn với lấy quả táo; người kia không chịu buông, hai người đàn bà vừa la hét cười vang vừa xô đẩy nhau. Nhưng Erlend gọi rằng phu nhân Eyvor cũng sẽ được chàng cho một quả táo. Chẳng bao lâu chàng đã ném táo cho tất cả các bà trong đám, và quả nào cũng có khắc những rune tình ái, chàng nói.

“Cậu sẽ kiệt sức mất, nếu phải chuộc hết những vật làm tin ấy,” một người đàn ông gọi lớn.

“Thế thì tôi chẳng chuộc nữa vậy—trước đây tôi cũng từng phải làm thế rồi,” Erlend đáp lại, và mọi người lại được một trận cười.

Nhưng Kløng người Iceland đã xem một quả táo và gọi rằng đó chẳng phải rune, chỉ là mấy nét nguệch ngoạc vô nghĩa. Bây giờ anh sẽ chỉ cho họ xem rune phải được khắc thế nào mới đúng phép. Erlend liền kêu lên rằng anh không được làm vậy:

“Rồi họ lại đòi tôi trói anh, Kløng—mà thiếu anh thì tôi không xoay xở nổi đâu.”

Giữa cảnh huyên náo ấy, đứa con trai út của Erlend và Kristin lẫm chẫm bước vào phòng. Lavrans Erlendssøn khi ấy mới hơn hai tuổi một chút, là một đứa trẻ đẹp hiếm thấy, trắng trẻo, bụ bẫm, với mái tóc vàng óng, xoăn và mịn như tơ. Những người đàn bà ngồi ở ghế ngoài lập tức cũng muốn giành lấy thằng bé—họ chuyền nó từ lòng người này sang lòng người khác mà nựng nịu, khá là suồng sã, bởi tất cả đều đã chếnh choáng và phấn khích. Kristin ngồi sát vách trên ghế danh dự bên chồng, đòi họ đưa con lại cho mình; thằng bé cũng mè nheo muốn về với mẹ, nhưng chẳng ích gì.

Thình lình Erlend nhảy qua bàn và giằng lấy đứa trẻ, lúc ấy đang khóc thét vì phu nhân Sunniva và phu nhân Eyvor kéo nó về hai phía, tranh giành nhau. Người cha bế con lên, dịu lời dỗ dành; thấy thằng bé vẫn khóc, chàng cất tiếng ầu ơ, vừa bế nó đi tới đi lui ngoài khoảng sàn tranh tối tranh sáng. Bấy giờ dường như Erlend đã quên hẳn các vị khách. Cái đầu nhỏ sáng màu của đứa trẻ nằm trên vai cha, nép dưới mái tóc đen của người đàn ông, và thỉnh thoảng Erlend hé môi âu yếm bàn tay bé xíu đang tựa trước ngực mình. Chàng cứ đi như thế cho đến khi cô hầu đáng lẽ phải trông nom đứa trẻ và đưa nó đi ngủ từ lâu bước vào.

Bấy giờ có mấy người khách gọi Erlend hát cho họ một khúc múa—chàng có giọng hát hay đến thế. Thoạt đầu chàng từ chối, nhưng rồi đi tới chỗ cô con gái trẻ đang ngồi trên dãy ghế dành cho phụ nữ. Chàng ôm lấy Margret, đưa cô ra giữa sàn:

“Lại đây nào, Margret của cha—nắm tay cha mà múa!”

Một người đàn ông trẻ bước tới cầm tay cô gái—“Margit đã hứa tối nay sẽ múa với tôi—” nhưng Erlend nhấc bổng con gái lên, đặt cô xuống phía bên kia mình:

“Cậu múa với vợ cậu đi, Haakon—hồi mới cưới như cậu, tôi đâu có múa với người đàn bà nào khác—”

“Ingebjørg bảo nàng không đủ sức—mà con đã hứa sẽ múa với Haakon rồi, cha,” Margret nói.

Simon Darre không muốn múa. Chàng đứng một lúc bên một vị phu nhân lớn tuổi mà nhìn—thỉnh thoảng ánh mắt chàng lướt qua Kristin. Trong khi các nữ tỳ của nàng dọn bàn, lau mặt bàn, mang thêm thức uống và hạt óc chó vào, nàng đứng ở đầu bàn. Sau đó nàng đến ngồi trước lò sưởi và trò chuyện với một linh mục trong số khách dự tiệc. Một lát sau Simon đến ngồi cùng hai người.

Họ đã múa được một hai bài thì Erlend đến bên vợ:

“Lại múa với chúng tôi đi, Kristin,” chàng nài nỉ, chìa tay ra.

“Em mệt rồi,” nàng nói và ngước lên trong chốc lát.

“Simon, anh thử mời nàng đi—nàng không thể từ chối múa với anh đâu.”

Simon nhổm nửa người khỏi ghế và đưa tay ra, nhưng Kristin lắc đầu: “Đừng mời tôi, Simon—tôi mệt lắm—”

Erlend đứng lại một lát; trông chàng có vẻ buồn vì chuyện ấy. Rồi chàng trở lại bên phu nhân Sunniva, cầm tay bà trong vòng múa, vừa gọi rằng bây giờ Margit có thể hát cho họ nghe.

“Người đang múa cạnh con gái riêng của anh là ai vậy?” Simon hỏi. Chàng nghĩ mình chẳng ưa gì khuôn mặt gã ấy—dẫu đó là một thanh niên vạm vỡ, đầy vẻ nam nhi—nước da nâu khỏe khoắn, hàm răng đẹp và đôi mắt lấp lánh, nhưng hai mắt nằm sát nhau bên sống mũi; miệng và cằm lớn, rắn rỏi, còn khuôn mặt lại hẹp ngang trán. Kristin nói đó là Haakon Eindridessøn ở Gimsar, cháu nội của Tore Eindridessøn, quan trấn thủ Gauldølafylke. Haakon vừa mới cưới người vợ trẻ nhỏ nhắn xinh đẹp đang ngồi trong lòng quan chấp pháp Olav—ông là cha đỡ đầu của nàng. Simon đã để ý người phụ nữ ấy, vì nàng có đôi nét giống người vợ đầu của chàng, tuy không đẹp bằng. Khi biết giữa họ còn có chút quan hệ họ hàng, chàng bước tới chào Ingebjørg, rồi ngồi xuống trò chuyện với nàng.

Một lúc sau vòng múa tan ra. Những người đứng tuổi quay về với rượu, còn đám trẻ vẫn tiếp tục ca hát và bày trò trên sàn. Erlend cùng mấy người đàn ông lớn tuổi đi về phía lò sưởi, nhưng chàng vẫn dắt tay phu nhân Sunniva, như thể chẳng hề để ý. Những người đàn ông ngồi xuống gần lửa, không còn chỗ cho vị phu nhân; bà đứng trước mặt Erlend ăn những hạt óc chó chàng dùng ngón tay bóc cho.

“Erlend, anh quả là người chẳng biết phép tắc,” bà chợt nói. “Anh thì ngồi, còn tôi phải đứng hầu anh thế này—”

“Bà ngồi đi,” Erlend vừa cười vừa kéo bà xuống lòng mình. Bà chống cự, cười lớn và gọi bà chủ nhà, hỏi nàng có thấy chồng mình đang đối xử với bà thế nào không.

“Erlend làm thế vì chàng tốt bụng đấy,” Kristin cười đáp. “Con mèo cái nhà tôi chẳng lần nào cọ mình vào chân chàng mà chàng không bế nó đặt lên lòng.”

Erlend và vị phu nhân vẫn ngồi như cũ, làm như không có chuyện gì, nhưng cả hai đều đỏ mặt. Chàng hờ hững vòng một tay quanh bà, như thể gần chẳng hay bà đang ngồi đó, trong lúc chàng và các vị quý ông lại bàn về mối bất hòa giữa Erling Vidkunssøn và quan chưởng ấn Paal, chuyện đang khiến mọi người bận tâm đến thế. Erlend nói Paal Baardssøn đã nhiều lần bộc lộ thái độ với Erling theo đúng thói đàn bà—họ có thể nghe một thí dụ đây:

Mùa hè năm ngoái, một trong những người con trai trẻ ở Finnen đến dự hội nghị các thủ lĩnh để phụng sự nhà vua. Chàng trai Voss tội nghiệp ấy nóng lòng học theo phong tục cận vệ và cung cách triều thần đến nỗi cũng muốn tô điểm lời ăn tiếng nói bằng những từ Thụy Điển—thời tôi còn trẻ thì người ta dùng tiếng Pháp, còn bây giờ lại là tiếng Thụy Điển—thế là một hôm cậu ta hỏi vài người khác từ traakig trong tiếng Na Uy nghĩa là gì. Ngài Paal nghe thấy, bèn nói: “Traakig ấy à, người anh em, ấy là như phu nhân Elin của ngài Erling vậy.” Chàng trai Finnen tưởng từ ấy có nghĩa là xinh đẹp hay nhã nhặn, bởi bà quả đúng là như thế, và tội nghiệp cậu ta hẳn chưa mấy khi có dịp nghe phu nhân _nói chuyện_. Nhưng một hôm Erling gặp cậu trên bậc thềm ngoài đại sảnh, ông dừng lại thân mật hỏi chàng trai có thích thành thị này không và những chuyện đại loại thế, rồi nhờ cậu gửi lời thăm cha. Cậu trai cảm ơn và nói chắc cha cậu sẽ vui mừng hơn hết khi cậu trở về mang theo lời thăm hỏi “của ngài, thưa ngài kính mến, và của vị phu nhân traakig của ngài.” Erling liền giáng cho cậu một cái vào mang tai, khiến chàng trai lộn ngược xuống ba bốn bậc thềm, cho đến khi một người đàn ông đỡ được vào tay. Lập tức nổi lên một phen náo động, người ta kéo tới và sự việc được làm sáng tỏ. Erling giận điên người—ông đã trở thành trò cười vì chuyện ấy—nhưng vẫn làm như không có gì. Còn lời duy nhất quan chưởng ấn nói về việc đó là ông cười và bảo, đáng lẽ ông nên nói traakig nghĩa là giống quan nhiếp chính—như thế chắc chàng trai không thể hiểu lầm được.

Mọi người đều nhất trí rằng cách hành xử như thế của quan chưởng ấn thật chẳng xứng đáng—nhưng họ vẫn cười rất nhiều. Simon im lặng nghe, tay chống dưới má. Chàng nghĩ Erlend quả thực biểu lộ tình bằng hữu với Erling Vidkunssøn theo một cách lạ lùng—phải, câu chuyện ấy đã cho thấy rõ rằng Erling hẳn đang mất bình tĩnh đến mức nào, mới có thể tin một thằng nhóc vừa từ thôn quê đến lại dám đứng giữa thềm đại sảnh hoàng cung mà chế nhạo thẳng vào mặt mình. Còn mong Erlend để tâm đến mối quan hệ thông gia trước kia của chàng với phu nhân Elin và ngài Erling thì hẳn là điều không thể.

“Em đang nghĩ gì vậy, Kristin?” chàng hỏi—nàng ngồi im lặng đến thế, lưng thẳng, hai tay đan trên lòng. Nhưng nàng đáp:

“Em đang nghĩ đến Margret.”

Đêm đã khuya, khi Erlend và Simon có việc phải ra ngoài sân, họ làm hai người đứng sau góc nhà giật mình tách khỏi nhau. Đêm mùa này sáng như ban ngày, và Simon nhận ra Haakon ở Gimsar cùng Margret Erlendsdatter. Erlend nhìn theo họ—chàng khá tỉnh táo, và Simon hiểu cảnh ấy khiến chàng không vui; nhưng chàng nói như để thanh minh rằng hai đứa đã quen nhau từ thuở nhỏ và xưa nay vẫn thường trêu ghẹo nhau như thế. Simon nghĩ nếu giữa họ quả chẳng có gì thì ít ra chuyện ấy cũng thật đáng tội cho người vợ trẻ Ingebjørg.

Nhưng hôm sau, chàng Haakon trẻ tuổi có việc đến gia trang Nikulaus, và cũng hỏi tìm Margit. Erlend liền xông tới trước mặt anh ta:

“Con gái ta không phải Margit đối với cậu. Và nếu hôm qua hai người vẫn chưa nói hết, thì điều gì còn muốn nói với nó, cậu cứ giữ lấy—”

Haakon nhún vai, và khi ra về, anh ta nhờ gửi lời chào _Margareta_.

Người Husaby ở lại Nidaros suốt kỳ hội nghị, còn Simon chỉ thấy vui thú vừa phải. Erlend thỉnh thoảng lại cáu kỉnh khi ngồi trong gia trang của mình ở thành thị, bởi Gunnulf đã cho nhà tế bần ở phía bên kia vườn táo quyền sử dụng một số căn nhà quay mặt về phía ấy, cùng một số quyền trong khu vườn. Erlend nhất quyết muốn mua lại những quyền ấy từ nhà tế bần; chàng không thích người bệnh đi lại trong vườn và sân gia trang—nhiều người trong số họ nom cũng rất ghê sợ—và chàng lo các con mình bị lây bệnh. Nhưng chàng không thể đạt được thỏa thuận với các tu sĩ cai quản nhà tế bần.

Lại còn chuyện Margret Erlendsdatter. Simon hiểu rằng người ta bàn tán khá nhiều về cô và Kristin rất khổ tâm vì điều ấy, nhưng người cha dường như chẳng mấy bận lòng; hẳn chàng tin chắc mình có thể bảo vệ con gái và chuyện đó không đáng kể. Tuy vậy, một hôm chàng nói với Simon rằng Kløng Aressøn có lẽ rất muốn lấy con gái chàng, còn chàng thì chưa biết nên xử trí việc ấy ra sao. Chàng không có gì phản đối người Iceland ngoài chuyện anh là con trai một linh mục—không nên để người ta có thể nói rằng xuất thân của cả cha lẫn mẹ những đứa con của Margret đều mang vết nhơ. Ngoài ra Kløng là một người đáng mến, vui tính, khôn ngoan và học vấn uyên thâm. Cha anh, cha Are, đã tự tay nuôi dạy và truyền dạy cho con; ông định cho con trai làm linh mục, thậm chí hình như đã tiến hành việc xin phép miễn chuẩn cho anh, nhưng rồi Kløng lại không chịu thụ phong. Dường như Erlend định cứ để việc ấy đấy—nếu không có đám nào tốt hơn tìm đến, chàng vẫn luôn có thể gả cô gái cho Kløng Aressøn.

Thực ra Erlend đã từng nhận được cho con gái một lời cầu hôn tốt đến mức người ta bàn tán rất nhiều về sự kiêu căng và thiếu khôn ngoan của chàng khi để mối ấy vuột đi. Người cầu hôn là cháu nội nam tước Sigvat ở Leirhole—ông ta tên Sigmund Finssøn; ông không giàu, vì Finn Sigvatssøn có tới mười một người con còn sống; ông cũng không còn trẻ—xấp xỉ tuổi Erlend—nhưng là người được kính trọng và sáng suốt. Với số đất đai Erlend đã ban cho con gái khi chàng cưới Kristin Lavransdatter, với tất cả châu báu và vật quý chàng đã tặng đứa con qua bao năm, cùng số của hồi môn chàng đã thỏa thuận với Sigmund, Margret có thể được sống trong cảnh sung túc nhất. Erlend cũng hết sức vui mừng vì có được một người cầu hôn như thế cho cô con gái ngoại hôn của mình. Nhưng khi chàng đưa vị hôn phu ấy về ra mắt con gái, cô gái lại nảy ra ý không chịu lấy ông, bởi Sigmund có mấy mụn thịt bên rìa một mí mắt, và cô nói chúng khiến cô ghê sợ ông. Erlend chấp nhận lý do ấy; khi Sigmund nổi giận, nói đến chuyện bội ước đã bắt tay giao kết, Erlend cũng nóng nảy, bảo người kia hẳn phải hiểu rằng mọi thỏa thuận đều được lập với điều kiện cô gái thuận lòng; con gái chàng sẽ không bị cưỡng ép bước vào giường cưới. Kristin đồng ý với chồng ở điểm này, rằng chàng không được dùng sức ép với cô gái—nhưng nàng cho rằng Erlend đáng lẽ phải nghiêm nghị nói chuyện với con và khiến cô hiểu rằng Sigmund Finssøn là một đám tốt đến mức, với xuất thân của mình, Margret không thể mong đợi ai hơn. Nhưng Erlend đã nổi trận lôi đình với vợ chỉ vì nàng dám nói điều ấy với chính chàng. Tất cả những chuyện này Simon đã nghe ở Ranheim. Người ở đó tiên đoán rằng việc ấy không thể nào kết thúc tốt đẹp—dẫu Erlend nay là một người đầy thế lực và cô gái đẹp rực rỡ, việc người cha nuông chiều cô, khơi thêm tính bướng bỉnh và kiêu căng của cô suốt bao năm vẫn không thể nào đem lại điều lành.

Sau kỳ hội nghị Frostating, Erlend trở về Husaby cùng vợ con và Simon Darre, khi ấy đang đưa cháu trai gọi mình bằng cậu là Gjavvald Gjavvaldssøn đi cùng. Simon sợ rằng cuộc tương phùng mà Sigrid mong mỏi khôn xiết sẽ không được tốt đẹp. Sigrid ở Kruke sống trong cảnh sung túc, có ba đứa con xinh xắn với chồng, còn Geirmund là người tốt hiếm ai trên đời sánh được; chính anh đã nói với anh vợ rằng Simon phải đưa Gjavvald xuống miền nam để người mẹ được gặp con—bởi đứa trẻ ấy không bao giờ rời khỏi tâm trí Sigrid. Nhưng Gjavvald đã được nuông chiều thành thói ở nhà ông bà nội—hai người già yêu đứa trẻ đến mất cả khôn, cho nó mọi thứ nó chỉ tay đòi và chiều theo mọi ý thích—mà ở Kruke lại không được như ở Ranheim. Cũng khó mong Geirmund vui lòng khi đứa con trai ngoại hôn của vợ đến làm khách với những thói quen của một đứa con vua—có riêng một người hầu đã đứng tuổi để nó sai khiến, ra lệnh, và người ấy chẳng dám hé răng phản đối bất cứ đòi hỏi vô lý nào của thằng bé. Nhưng đối với các con trai Erlend, ngày Gjavvald đến gia trang chẳng khác nào phiên chợ hội. Erlend cho rằng các con mình không việc gì phải thua kém cháu nội của Arne Gjavvaldssøn, thế là Naakkve và Bjørgulf được cha cho tất cả những gì chúng kể rằng vị khách có.

Giờ đây, khi hai người con trai lớn đã đủ tuổi ra ngoài cùng Erlend và cưỡi ngựa theo cha, chàng để tâm đến các con nhiều hơn. Simon nhận thấy Kristin không chỉ vui mừng vì chuyện ấy—nàng cho rằng bọn trẻ ở giữa những người của cha chúng không phải chỉ học được điều hay. Chính những chuyện liên quan đến con cái thường khiến vợ chồng họ nói với nhau những lời thiếu hòa khí—tuy chưa thẳng thừng cãi vã—nhưng nhiều lần họ đã đến gần điều đó hơn mức Simon cho là phải lẽ. Và chàng cảm thấy lỗi phần nhiều thuộc về Kristin. Erlend dễ nổi nóng—nhưng nàng thường nói như thể từ một mối oán hận sâu kín và che giấu. Một hôm, nàng đưa ra mấy lời than phiền về Naakkve. Người cha đáp rằng chàng sẽ nghiêm khắc nói chuyện với thằng bé—nhưng trước điều gì đó người vợ nói tiếp, chàng giận dữ bật ra rằng dẫu sao chàng cũng không thể đánh đòn đứa con trai đã lớn chỉ để chiều lòng người trong nhà.

“Không, bây giờ thì muộn rồi—nếu anh làm thế khi nó còn nhỏ, giờ đây nó đã chịu nghe lời anh. Nhưng hồi ấy anh chẳng bao giờ ngó xem nó đi đường nào.”

“Ồ, có chứ, anh vẫn ngó đấy thôi. Nhưng khi nó còn nhỏ, để nó theo em thì cũng là lẽ tự nhiên—vả lại, đánh đòn những đứa trẻ còn chưa mặc quần đâu phải việc đáng mặt đàn ông.”

“Tuần trước anh đâu có nghĩ như thế,” Kristin nói, giọng giễu cợt và cay đắng.

Erlend không đáp, chàng đứng dậy đi ra. Simon thấy người vợ nói vậy thật chẳng đẹp chút nào. Kristin ám chỉ một chuyện xảy ra tuần trước. Erlend và Simon đang cưỡi ngựa vào sân thì Lavrans con chạy ra đón họ, tay cầm một thanh kiếm gỗ; lúc sắp chạy ngang qua ngựa của cha, vì nghịch ngợm nó vung kiếm đánh vào chân con vật. Ngựa chồm lên, ngay sau đó thằng bé đã nằm dưới vó ngựa. Erlend giật cương lùi lại, thúc ngựa tránh sang bên, ném dây cương cho Simon; mặt chàng trắng bệch vì kinh hãi khi bế đứa bé lên. Nhưng thấy con hoàn toàn không hề hấn gì, chàng vắt nó trên cánh tay trái, cầm thanh kiếm gỗ quất vào cái mông trần của Lavrans — thằng bé vẫn chưa đến tuổi mặc quần. Trong cơn kinh động ban đầu, chàng không biết mình đánh mạnh đến thế nào, và đến giờ mông Lavrans vẫn còn thâm xanh. Nhưng sau đó chàng dành cả ngày tìm cách làm lành với con — thằng bé dỗi, cứ bám lấy mẹ, đánh và giơ tay dọa cha. Buổi tối, khi Lavrans đã được đặt nằm yên trên giường vợ chồng, nơi nó vẫn ngủ vì ban đêm còn bú mẹ, Erlend ngồi bên giường suốt tối ấy; chốc chốc chàng lại khẽ chạm vào đứa trẻ đang ngủ rồi cúi nhìn nó. Chính chàng đã nói với Simon rằng trong các con trai, chàng yêu thằng bé này nhất.

Khi Erlend lên đường tới các phiên ting mùa hè, Simon cũng trở về nhà. Chàng cưỡi về phương nam dọc thung lũng Gauldalen, đến nỗi tia lửa tóe dưới vó ngựa. Có lần, khi họ phải đi chậm hơn trên mấy con dốc, các gia nhân cười hỏi chàng có định cưỡi quãng đường ba ngày chỉ trong hai ngày hay không. Simon cũng cười, nói rằng chàng rất muốn thế — “vì giờ ta mong về Formo lắm rồi.”

Mỗi khi xa gia trang một thời gian, chàng vẫn luôn như vậy — chàng là người nặng lòng với mái nhà, và bao giờ cũng vui mừng khi quay đầu ngựa lên đường về. Nhưng chàng cảm thấy chưa bao giờ mình mong mỏi trở lại thung lũng, trở lại gia trang và với những đứa con gái nhỏ như lần này — phải, giờ chàng cũng mong gặp lại Ramborg. Thật ra chàng thấy mình có cảm giác như thế thật vô lý — nhưng ở Husaby, lòng chàng đã nặng nề đến mức giờ đây chàng tưởng mình hiểu được từ chính thân thể mình, gia súc cảm thấy ra sao khi giông tố đang kéo đến.