Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 16: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần III — Erlend Nikulaussøn · Chương II
Chương 16 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Suốt mùa hè, Kristin hầu như chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài những gì Simon đã kể về cái chết của mẹ nàng.
Ragnfrid Ivarsdatter đã chết một mình — lúc bà trút hơi thở cuối cùng, không có ai ở bên ngoài một người đàn bà hầu đang ngủ. Những lời Simon nói cũng chẳng an ủi được bao nhiêu — rằng dẫu sao bà đã chết trong sự chuẩn bị chu toàn. Dường như có sự dẫn dắt riêng của Thiên Chúa trong việc mấy ngày trước đó bà bỗng cảm thấy trong lòng một niềm khao khát mãnh liệt đối với Mình Đấng Cứu Thế, nên đã xưng tội và được vị tu sĩ linh mục trong tu viện, người chăm sóc linh hồn bà, cho rước lễ. Quả thật bà đã được một cái chết lành — Simon đã nhìn thấy thi hài bà và nói rằng cảnh ấy khiến chàng hết sức kinh ngạc. Trong cái chết bà trở nên đẹp đẽ lạ lùng; bà vốn đã gần sáu mươi tuổi, và suốt nhiều năm gương mặt đã hằn đầy nếp nhăn và rãnh sâu — thế mà giờ đây hoàn toàn đổi khác, trẻ lại và phẳng phiu, trông hệt một thiếu phụ đang ngủ. Nay bà đã được đặt nằm yên bên cạnh chồng; hài cốt của Ulvhild Lavransdatter cũng đã được đưa về đó không lâu sau khi người cha qua đời. Trên những ngôi mộ đặt một phiến đá lớn, ở giữa có cây thập giá chạm trổ đẹp đẽ chia đôi mặt đá, và trên một dải băng uốn lượn khắc một bài thơ dài bằng tiếng Latinh do tu viện trưởng sáng tác — nhưng Simon không nhớ đúng được, vì chàng chẳng hiểu bao nhiêu thứ tiếng ấy.
Ragnfrid có một chỗ ở riêng trong cơ ngơi trên thành phố, nơi những người được tu viện cấp dưỡng trú ngụ — tầng dưới là một gian kho, bên trên là căn gác đẹp đẽ. Bà sống ở đó một mình với một phụ nữ nông dân nghèo đã xin nương nhờ các tu sĩ, nộp một khoản tiền nhỏ, đổi lại phải giúp việc cho một trong những phụ nữ được cấp dưỡng giàu có hơn. Nhưng ít nhất trong nửa năm cuối, xem chừng chính Ragnfrid mới là người hầu hạ bà kia, bởi người đàn bà góa — tên là Torgunna — vốn yếu đuối bệnh tật, và Ragnfrid chăm nom bà ta với lòng thương yêu cùng sự tận tụy lớn lao.
Buổi tối cuối cùng còn sống, bà đã dự giờ kinh Tối trong nhà thờ tu viện, rồi sang nhà bếp trong cơ ngơi dành cho những người được cấp dưỡng; bà nấu một bát súp ngon, bỏ thêm chút thuốc bổ, và nói với những phụ nữ khác có mặt ở đó rằng bà sẽ mang cho Torgunna ăn, hy vọng sáng mai bà ấy đủ khỏe để hai người cùng đi dự lễ sớm. Đó là lần cuối có người trông thấy bà góa Jørundgaard còn sống. Cả bà lẫn người đàn bà nông dân đều không đến giờ kinh Khuya, rồi cũng không đến giờ kinh Nhất. Khi mấy tu sĩ trong ca đoàn nhận ra Ragnfrid cũng không có mặt trong nhà thờ vào thánh lễ ban ngày, họ lấy làm lạ — trước đó bà chưa từng bỏ ba buổi lễ trong cùng một ngày. Họ bèn sai người lên thành phố hỏi xem góa phụ của Lavrans Bjørgulfsøn có phải đang đau ốm không. Khi người ta bước vào căn gác, họ thấy bát súp còn nguyên trên bàn; Torgunna ngủ ngon lành sát bên vách, còn Ragnfrid Ivarsdatter nằm dưới chân giường, hai tay bắt chéo trên ngực, đã chết và thân thể gần như lạnh hẳn. Simon và Ramborg xuống dự lễ an táng của bà, một tang lễ rất đẹp đẽ.
Giờ đây Husaby có cả một đoàn gia nhân đông đúc và Kristin đã có sáu con trai, nàng không còn đủ sức tự tay dự phần vào từng công việc trong nhà. Nàng phải có một người quản gia dưới quyền mình, vì thế phần lớn thời gian bà chủ ngồi trong đại sảnh may vá; lúc nào cũng có người cần quần áo, Erlend, Margret hoặc lũ trẻ.
Hình ảnh cuối cùng nàng thấy về mẹ là bà cưỡi ngựa theo sau cáng chồng — vào ngày xuân sáng trong ấy, khi chính nàng đứng trên đồng cỏ ngoài Jørundgaard, nhìn đoàn đưa tang cha đi trên tấm thảm lúa mạch đen mùa đông xanh biếc dưới chân bãi đá.
Mũi kim của Kristin cứ bay thoăn thoắt, và nàng nghĩ về cha mẹ cùng mái nhà xưa ở Jørundgaard. Giờ đây, khi tất cả đã thành kỷ niệm, nàng tưởng mình nhận ra biết bao điều mà thuở còn sống giữa chúng nàng không hề nhìn thấy, chỉ thản nhiên đón nhận như chuyện đương nhiên sự âu yếm và che chở của cha, cùng sự chăm nom và làm lụng bền bỉ, lặng lẽ của người mẹ ít lời, u sầu. Nàng nghĩ đến các con mình — nàng yêu chúng hơn cả máu trong tim, không một phút tỉnh thức nào chúng vắng khỏi tâm trí nàng. Thế nhưng trong lòng nàng còn biết bao điều nàng _ngẫm nghĩ_ nhiều hơn — còn các con, nàng yêu chúng mà chẳng hề suy xét về tình yêu ấy. Khi còn ở nhà, nàng chưa từng nghĩ gì khác ngoài việc toàn bộ cuộc đời, mọi nỗ lực và công việc của cha mẹ đều dành cho nàng cùng các em gái. Bây giờ nàng dường như hiểu rằng giữa hai con người thuở trẻ đã được cha họ gả cho nhau, gần như chẳng ai hỏi ý, từng cuộn chảy những dòng nước dữ dội của buồn đau và vui sướng — nàng không biết gì về tất cả những điều ấy, ngoài việc họ đã cùng nhau đi khuất khỏi đời nàng. Giờ đây nàng hiểu cuộc đời hai con người ấy còn chứa đựng biết bao điều khác ngoài tình yêu dành cho con cái — vậy mà tình yêu ấy vẫn mạnh mẽ, bao la và sâu không đáy, trong khi tình yêu nàng đáp lại lại yếu ớt, vô tâm và ích kỷ, ngay cả thuở ấu thơ, khi hai người ấy là cả thế giới đối với đứa trẻ. Nàng tưởng như thấy chính mình đứng xa, xa lắm — bé nhỏ xiết bao qua khoảng cách của thời gian và đường đời; nàng đứng dưới dòng nắng tuôn qua lỗ thoát khói trong gian nhà có bếp lửa cũ ở quê nhà, căn nhà mùa đông của tuổi thơ nàng. Cha mẹ đứng lùi lại đôi chút trong bóng tối, vóc dáng họ vẫn lớn lao như trong mắt nàng thuở nhỏ, và họ mỉm cười với nàng — bằng nụ cười mà giờ đây chính nàng đã hiểu, nụ cười của người lớn khi một đứa trẻ chạy đến và gạt sang bên những ý nghĩ nặng nề, khó nhọc.
“Mẹ đã nghĩ, Kristin, khi chính con sinh con rồi, có lẽ con sẽ hiểu rõ hơn —”
Nàng nhớ lúc mẹ nói câu ấy. Người con gái buồn bã nghĩ — chắc hẳn đến giờ nàng vẫn chưa hiểu được mẹ. Nhưng nàng đã bắt đầu hiểu mình còn biết bao điều không hiểu.
Mùa thu năm ấy, tổng giám mục Eiliv qua đời. Gần cùng thời gian đó, vua Magnus cho sửa đổi các điều khoản đối với nhiều sysselmann trong nước, nhưng không sửa đổi đối với Erlend Nikulaussøn. Mùa hè cuối cùng khi nhà vua còn ở tuổi vị thành niên, trong lúc ở Bjørgvin, Erlend đã nhận được chiếu thư cho phép chàng hưởng một phần tư tiền phạt về các tội phá vỡ bình an, trái thư lệnh và gian dâm — người ta đã bàn tán nhiều về việc chàng nhận được một quyền ban cấp như thế vào cuối thời kỳ nhiếp chính. Vì lúc này Erlend sở hữu nhiều đất đai trong fylke và thường nghỉ tại các điền trang của mình khi đi thi hành chức vụ, nhưng lại cho phép nông dân nộp tiền để khỏi phải thực hiện nghĩa vụ khoản đãi, nên lợi tức của chàng rất lớn. Quả thật vì thế chàng thu được ít tô đất, mà cách sống lại tốn kém; ngoài người trong điền trang, ở Husaby chàng chưa bao giờ giữ bên mình dưới mười hai gia nhân có vũ trang; họ cưỡi những con ngựa tốt nhất, được trang bị tuyệt hảo, và khi chàng đi khắp địa hạt thi hành chức vụ, người của chàng ăn uống theo bậc lãnh chúa.
Một ngày nọ, chuyện ấy được nhắc đến khi chánh án Harald và sysselmann của Gauldølafylke đang ở Husaby. Erlend đáp rằng nhiều gia nhân trong số ấy đã theo chàng khi chàng ở miền bắc: “Khi đó chúng tôi chia nhau những thứ kiếm được ở đấy, cá khô với bia đắng. Giờ đây những người được tôi cấp áo quần và thức ăn đều biết rằng tôi muốn họ có bánh mì trắng cùng bia ngon, và nếu lúc nổi giận tôi bảo họ xuống địa ngục, họ vẫn hiểu rằng tôi không thực sự muốn họ lên đường trước khi chính tôi cưỡi ngựa dẫn đầu —”
Sau đó Ulf Haldorssøn, lúc này là đội trưởng các gia nhân của Erlend, cũng nói với phu nhân rằng quả đúng như thế. Người của Erlend yêu mến chàng, và chàng hoàn toàn nắm họ trong tay.
“Chính bà cũng biết mà, Kristin — chẳng ai nên quá coi trọng những lời Erlend nói; muốn xét ông ấy, phải xét những việc ông ấy làm.”
Ngoài ra, người ta còn nói đến việc bên cạnh những gia nhân trong nhà, Erlend có nhiều người sống rải rác trong các miền quê — cả ngoài Orkdølafylke — đã tuyên thệ trung thành với chàng trên chuôi kiếm. Sau cùng chiếu thư của nhà vua về việc này được gửi đến, nhưng Erlend đáp rằng những người ấy từng là thủy thủ trên thuyền chàng và chàng đã bắt họ tuyên thệ vào mùa xuân đầu tiên khi chàng sắp dong buồm lên phía bắc. Chàng bèn được lệnh phải giải họ khỏi lời thề tại phiên ting kế tiếp do chàng triệu tập để công bố những phán quyết và nghị định của lagting; còn những người ngoài fylke, chàng phải triệu họ tới và đài thọ phí đi đường. Quả thực chàng cũng đã triệu đến phiên ting ở Orkedal một số thủy thủ cũ từ Møre — nhưng chẳng ai nghe nói chàng đã giải họ, hay bất cứ người nào khác từng nhận chàng làm thủ lĩnh, khỏi lời thề. Tuy vậy, vụ việc không được đưa ra thêm lần nào nữa, và sang cuối mùa thu, người ta thôi bàn tán về nó.
Cuối mùa thu, Erlend đi xuống miền nam và đón Giáng sinh bên vua Magnus, năm ấy đang ngự tại Oslo. Chàng bực bội vì không thể đưa vợ theo, nhưng Kristin không dám đương đầu với chuyến đi mùa đông nhọc nhằn nên ở lại Husaby.
Ba tuần sau lễ Giáng sinh, chàng trở về, mang theo những món quà đẹp đẽ cho vợ và tất cả các con. Kristin được một chiếc chuông bạc để gọi các tỳ nữ, còn Margret được một chiếc trâm bằng vàng ròng, vì trước đó cô chưa có món nào như thế, mặc dù đã sở hữu rất nhiều đồ trang sức đủ kiểu bằng bạc và bạc mạ vàng. Nhưng khi hai người phụ nữ đứng cất những vật quý ấy vào rương, có một thứ gì đó mắc vào tay áo Margret. Cô gái vội nắm tay che giấu nó đi, đồng thời nói với mẹ kế:
“Con có vật này của mẹ con để lại — vì thế cha không muốn con cho mẹ xem.”
Nhưng Kristin còn đỏ mặt hơn cả cô gái. Tim nàng đập thình thịch vì sợ hãi, song nàng cảm thấy mình _phải_ nói với người trẻ tuổi đôi lời và cảnh báo cô.
Một lúc sau, nàng khẽ nói, giọng ngập ngừng:
“Nó giống chiếc ghim cài bằng vàng mà phu nhân Helga ở Gimsar thường đeo trong những ngày lễ trọng —”
“Phải, nhiều món đồ bằng vàng trông giống nhau lắm,” cô gái đáp cụt lủn.
Kristin khóa rương lại rồi vẫn đứng đó, hai tay chống lên nắp rương để Margret không thấy chúng đang run.
“Margret của mẹ,” nàng nói khẽ, dịu dàng — rồi phải dừng lại, nhưng sau đó nàng gom hết sức lực:
“Margret của mẹ, mẹ đã cay đắng hối hận — chưa bao giờ mẹ được vui trọn vẹn trong bất cứ niềm vui nào, mặc dù cha mẹ đã hết lòng tha thứ cho mẹ mọi điều mẹ phạm đến người — con biết vì cha con mà mẹ đã đắc tội rất nhiều với cha mẹ mình. Nhưng mẹ càng sống lâu, càng học được cách hiểu biết, thì mỗi khi nhớ rằng mình đã lấy nỗi buồn gây cho họ để báo đáp lòng tốt của họ, gánh nặng ấy lại càng đè nặng hơn. Margret của mẹ — cha con vẫn luôn đối xử tốt với con suốt cả đời con —”
“Mẹ không cần phải sợ,” cô gái đáp. “Con đâu phải con ruột của mẹ; mẹ không cần sợ con sẽ mặc chiếc áo lót nhơ bẩn của mẹ hay bước vào đôi giày của mẹ —”
Kristin quay gương mặt tóe lửa giận dữ về phía con gái kế. Rồi nàng siết chặt cây thập giá đeo trên cổ trong bàn tay và nuốt xuống những lời đã chực bật khỏi đầu lưỡi.
Ngay tối hôm ấy, sau giờ kinh Chiều, nàng đến gặp Sira Eiliv để nói chuyện này, và nàng dò tìm trên gương mặt vị linh mục một dấu hiệu nhưng vô ích — phải chăng tai họa đã xảy ra rồi, và ông đã biết? Nàng nhớ lại thời tuổi trẻ lầm lạc của mình, nhớ gương mặt Sira Eirik không để lộ điều gì trong khi ông đứng giữa nàng và cha mẹ nàng, những người cả tin không chút ngờ vực, còn bí mật tội lỗi của nàng thì được khóa kín trong lòng ông — và nàng câm lặng, chai lì trước những lời cảnh cáo cùng đe dọa nghiêm khắc của ông. Nàng cũng nhớ lúc chính mình cho mẹ xem những món quà Erlend đã tặng nàng ở Oslo — khi ấy nàng đã được đính hôn hợp pháp với chàng. Vẻ mặt mẹ vẫn bình thản không lay chuyển khi bà cầm từng món lên, ngắm nhìn, khen ngợi rồi đặt chúng sang một bên.
Nàng sợ đến chết khiếp, tuyệt vọng, và canh chừng Margret hết sức mình. Erlend nhận thấy vợ có điều bất ổn, và một buổi tối khi hai người đã lên giường, chàng hỏi có phải nàng lại đang mang thai không.
Kristin nằm im một lúc rồi đáp rằng nàng nghĩ là phải. Khi chồng âu yếm ôm nàng vào lòng và không hỏi thêm nữa, nàng không đủ sức nói rằng còn một chuyện khác đang đè nặng lên mình đến thế. Nhưng lúc Erlend thì thầm rằng lần này nàng phải liệu mà sinh cho chàng một đứa con gái, nàng không sao đáp được, chỉ nằm cứng đờ vì sợ hãi và nghĩ rồi chẳng bao lâu nữa Erlend sẽ biết một người đàn ông có thể nhận được niềm vui gì từ những đứa con gái của mình —.
Mấy đêm sau, người trong Husaby lên giường trong tình trạng hơi say và bụng căng cứng vì ăn quá nhiều, bởi đó là những ngày cuối cùng trước khi bước vào Mùa Chay, nên ai nấy đều ngủ say. Nhưng giữa đêm, Lavrans bé nhỏ tỉnh giấc trong giường cha mẹ, vừa khóc vừa quấy trong cơn ngái ngủ, đòi bú mẹ. Song đã đến lúc phải cai sữa cho thằng bé. Erlend tỉnh dậy, bực bội càu nhàu, nhưng vẫn bế con lên, cho nó uống sữa trong chiếc cốc đặt trên bậc giường, rồi đặt nó nằm xuống bên kia mình.
Kristin đã lại chìm sâu vào cơn mê ngủ thì cảm thấy Erlend ngồi bật dậy trên giường. Nửa tỉnh nửa mê, nàng hỏi có chuyện gì — chàng khẽ ra hiệu cho nàng im lặng bằng một giọng nàng chưa từng nghe thấy. Không gây một tiếng động, chàng trượt khỏi giường; nàng hiểu chàng đang mặc vội vài thứ quần áo, nhưng khi nàng chống khuỷu tay nhổm lên, chàng dùng một tay ấn nàng xuống gối, đồng thời cúi vào lấy thanh kiếm treo trên đầu giường.
Chàng di chuyển lặng lẽ như một con linh miêu, nhưng nàng hiểu chàng đang đi về phía chiếc thang dẫn lên buồng Margret phía trên tiền sảnh.
Trong khoảnh khắc nàng nằm đó, hoàn toàn bất lực vì khiếp sợ — rồi nàng ngồi bật dậy, tìm áo lót và váy, mò mẫm trong bóng tối kiếm đôi giày trên sàn ngoài giường.
Đúng lúc ấy, một tiếng thét của phụ nữ xé toạc căn gác — hẳn khắp điền trang đều nghe thấy. Giọng Erlend quát lên một hai tiếng — rồi nàng nghe tiếng kiếm va nhau loảng xoảng và tiếng chân giẫm thình thịch phía trên — kế đó là tiếng một món vũ khí rơi xuống sàn, còn Margret cứ thét mãi, thét mãi.
Kristin quỳ co người bên bếp lửa — dùng tay trần cào lớp tro nóng sang một bên rồi thổi vào than hồng. Khi đã châm được thanh gỗ thông nhựa và nâng nó lên trong đôi tay run rẩy, nàng thấy Erlend ở phía trên trong bóng tối — chàng nhảy thẳng xuống, không buồn dùng thang, thanh kiếm trần cầm trong tay — rồi chạy ra cửa tiền sảnh.
Trong bóng tối, đầu lũ trẻ thò ra từ khắp các phía. Nàng đi đến chiếc giường phía bắc, nơi ba đứa lớn nhất ngủ, bảo chúng nằm xuống rồi đóng cửa lại. Ivar và Skule đang ngồi bật dậy trên ghế dài, sợ hãi và hoang mang chớp mắt nhìn ánh lửa; nàng ra lệnh cho chúng bò vào giường của cha mẹ rồi cũng nhốt chúng ở đó. Sau đó nàng thắp một ngọn nến và bước ra sân.
Trời đang mưa — trong khoảnh khắc ánh nến phản chiếu trên lớp băng trơn bóng, ướt sũng, nàng thấy đầy người đứng trước cửa ngôi nhà bên cạnh — gian nhà nơi các gia nhân của Erlend ngủ. Rồi nến tắt phụt — trong khoảnh khắc đêm tối đen như mực — nhưng sau đó một ngọn đèn từ gian nhà gia nhân đi ra, Ulf Haldorssøn cầm nó.
Ông cúi xuống một thân người sẫm màu đang co quắp trên mô băng ướt. Kristin quỳ xuống, đưa tay sờ người ấy — đó là Haakon trẻ tuổi từ Gimsar, chàng ta đã bất tỉnh hoặc đã chết. Hai tay nàng lập tức đẫm máu. Cùng với Ulf, nàng duỗi thẳng và lật thân thể chàng ta lại. Máu phun xối xả từ cánh tay phải, nơi bàn tay đã bị chém lìa.
Theo bản năng, nàng ngước nhìn lên nơi cánh cửa che ô cửa sổ trong buồng Margret đang đập phần phật vì gió. Nàng không nhận ra được gương mặt nào trên đó — nhưng trời cũng tối lắm.
Trong lúc quỳ giữa những vũng nước, dùng hết sức siết lấy cổ tay Haakon để chặn dòng máu đang phun, nàng nhận ra các gia nhân của Erlend đứng chung quanh, người nào cũng chỉ mặc được nửa quần áo. Rồi nàng thấy gương mặt xám ngoét, méo mó của Erlend — chàng dùng một vạt áo ngoài lau thanh kiếm đẫm máu — bên dưới không mặc gì và hai chân để trần.
“Một người trong các anh — tìm cho tôi một dải dây — còn anh, Bjørn, lên đánh thức Sira Eiliv — chúng ta phải khiêng cậu ta lên nhà linh mục —”
Nàng đón lấy sợi dây da được đưa tới rồi quấn quanh mỏm cánh tay. Bỗng Erlend nói, giọng khắc nghiệt và dữ dội:
“Không ai được động vào hắn! Cứ để hắn nằm đúng chỗ hắn tự gieo mình xuống—”
“Mình hẳn cũng hiểu,” Kristin điềm tĩnh nói, dù tim nàng đập dữ dội tưởng chừng nàng sắp nghẹt thở, “rằng việc ấy không thể được.”
Erlend chống nặng thanh kiếm xuống đất:
“Phải— nó đâu phải máu thịt của em— điều ấy suốt những năm này, ngày nào anh cũng phải cảm thấy.”
Kristin đứng dậy, khẽ nói sát bên chàng:
“Dẫu vậy, em vẫn mong chuyện này được giấu kín— nếu còn cách. Các anh,” nàng quay sang những gia nhân đang đứng quanh, “nếu trung thành với chủ mình, thì đừng nói gì về chuyện này trước khi chủ các anh bàn với các anh xem mối xung đột giữa Haakon và chủ các anh đã nảy sinh thế nào—”
Tất cả những người đàn ông đều đáp vâng. Một người đánh bạo nói thêm— họ thức giấc vì nghe tiếng một người đàn bà thét lên như đang bị cưỡng bức— ngay sau đó có kẻ nhảy xuống mái nhà của họ, nhưng chắc hắn trượt trên lớp băng đóng; họ nghe tiếng hắn lăn rầm xuống mái rồi một tiếng bịch dưới đất. Nhưng Kristin bảo người gia nhân im đi. Bấy giờ cha Eiliv chạy tới.
Khi Erlend quay mình đi vào nhà, vợ chàng chạy theo, định chen vượt qua. Chàng tiến về phía cầu thang lên gác, nàng lại lao ra chắn đường và ôm lấy hai cánh tay chàng:
“Erlend— anh định làm gì đứa trẻ?” nàng hỏi gấp, ngước lên khuôn mặt xám ngoét, dữ dại của chàng.
Chàng không đáp, cố hất nàng ra, nhưng nàng bám chặt lấy chàng.
“Khoan đã, Erlend, khoan đã— con của anh! Anh đâu biết chắc— người đàn ông ấy vẫn mặc nguyên quần áo mà,” nàng tuyệt vọng van nài.
Chàng hét lớn một tiếng rồi mới trả lời— nàng tái nhợt vì kinh hãi— lời chàng thô bạo đến ghê người, còn giọng nói thì biến dạng bởi nỗi đau cuồng dại.
Rồi nàng lặng câm vật lộn với người đàn ông đang nổi cơn điên; chàng gầm gừ, nghiến chặt răng. Cho đến khi nàng bắt được ánh mắt chàng trong bóng tối lờ mờ:
“Erlend— hãy để em đến với nó trước. Em chưa quên cái ngày em cũng chẳng hơn gì Margret—”
Bấy giờ chàng buông nàng ra, lảo đảo lùi vào sát vách căn buồng, đứng đó run lên như một con vật sắp chết. Kristin đi lấy lửa thắp đèn, rồi trở lại, bước qua chàng và lên căn phòng của Margret trên gác.
Thứ đầu tiên hiện ra dưới ánh đèn là một thanh kiếm nằm trên sàn, cách giường không xa, và bàn tay bị chặt đứt nằm ngay bên cạnh. Kristin giật tấm khăn trùm đầu xuống; trước khi ra ngoài gặp đám đàn ông, nàng đã vô thức phủ nó hờ hững lên mái tóc xổ tung. Giờ nàng thả tấm khăn phủ lên những thứ nằm trên sàn.
Margret co mình ngồi trên những chiếc gối ở đầu giường— nhìn trừng trừng vào ngọn đèn của Kristin bằng đôi mắt mở lớn, hoảng loạn. Nàng kéo chăn lên quanh người, nhưng hai bờ vai trắng vẫn để trần, sáng lên giữa mái tóc vàng óng quăn thành lọn. Máu vương khắp căn phòng.
Sự căng thẳng trong Kristin vỡ òa thành một trận khóc dữ dội— cảnh cô gái trẻ đẹp đẽ ấy giữa nỗi kinh hoàng này thật thảm hại đến không chịu nổi. Bấy giờ Margret thét lớn:
“Mẹ— cha sẽ làm gì con—”
Kristin không sao ngăn được giữa lúc thương xót cô gái sâu sắc, trái tim nàng dường như co lại và chai cứng hơn trong lồng ngực. Margret không hỏi cha mình đã làm gì Haakon. Trong một thoáng, cảnh tượng khác lóe lên trước mắt nàng— Erlend nằm dưới đất, cha nàng đứng trên chàng với thanh kiếm đẫm máu, còn chính nàng—. Nhưng Margret đã không nhúc nhích khỏi chỗ ấy. Nàng không sao ngăn được nỗi ác cảm khinh miệt từ lâu đối với con gái của Eline trỗi dậy, khi Margret lao vào lòng nàng, run bần bật, gần như hóa dại vì sợ; nàng ngồi xuống mép giường và cố làm cô gái dịu lại đôi chút.
Họ đang ngồi như thế thì Erlend hiện ra ở đầu cầu thang. Bấy giờ chàng đã mặc quần áo chỉnh tề. Margret lại thét lên và vùi mình vào lòng mẹ kế— Kristin ngước nhìn chồng trong chốc lát— giờ chàng đã bình tĩnh, nhưng khuôn mặt tái nhợt và xa lạ. Lần đầu tiên chàng trông già đúng với tuổi thật của mình.
Nhưng khi chàng bình thản nói: “Em xuống dưới đi, Kristin— anh muốn nói chuyện riêng với con gái anh”— nàng vâng lời. Nàng nhẹ nhàng đặt cô gái nằm xuống, kéo chăn phủ tới cằm rồi đi xuống.
Nàng làm như Erlend, mặc quần áo chỉnh tề— hẳn đêm ấy không còn ai ở Husaby ngủ thêm được nữa— rồi đi trấn an lũ trẻ và đám gia nhân đang kinh hoảng.
Sáng hôm sau, khi tuyết đã bắt đầu cuộn thành từng đợt, nữ tỳ của Margret vừa khóc vừa rời đi, mang đồ đạc trong một chiếc bao trên lưng. Ông chủ xua cô ta ra khỏi nhà bằng những lời tồi tệ nhất và dọa sẽ lột da cô ta, vì cô ta đã bán đứng cô chủ của mình như thế.
Rồi chàng tra hỏi những gia nhân khác— đám nữ tỳ có đoán ra điều chẳng lành hay không, bởi từ mùa thu sang mùa đông, thỉnh thoảng Ingeleiv lại ngủ cùng họ thay vì trong phòng với Margret; cả những con chó cũng bị nhốt chung với họ. Nhưng như lẽ thường, họ đều chối.
Cuối cùng chàng gọi riêng vợ vào phòng. Lòng đau như bệnh và mệt lả đến chết được, Kristin nghe chàng nói, cố lấy những lời nhu mì đáp lại sự bất công của chàng. Nàng không phủ nhận rằng mình đã lo sợ, nhưng nàng không nói rằng sở dĩ nàng không kể với chàng về nỗi sợ ấy là vì mỗi khi nàng thử khuyên chàng hoặc Margret vì điều tốt lành cho cô gái, nàng chưa từng nhận lại gì ngoài lời trách móc. Và nàng thề trước Thiên Chúa cùng Đức Trinh nữ Maria rằng nàng chưa bao giờ biết hay có thể ngờ tới một chuyện như việc người đàn ông này đêm đêm lên gác với Margret.
“Em!” Erlend nói giọng khinh miệt. “Chính em bảo rằng em còn nhớ cái thời mình chẳng hơn gì Margret.— Và Thiên Chúa trên trời biết rằng suốt những năm chúng ta chung sống, ngày nào em cũng khiến anh cảm thấy em vẫn nhớ điều sai trái anh đã làm với em— dù ý em khi ấy cũng thuận chẳng kém gì anh; chính cha em chứ không phải anh đã gây nên phần lớn tai họa khi từ chối cho anh lấy em làm vợ— ngay từ đầu anh đã hết lòng muốn sửa lại tội lỗi ấy. Khi em nhìn thấy vàng Gimsar”— chàng nắm mạnh tay vợ, giơ lên; trên đó lấp lánh hai chiếc nhẫn Erlend đã trao nàng khi họ ở bên nhau tại Gerdarud, “em không hiểu được điều ấy sao? Suốt những năm này, ngày nào em cũng mang những chiếc nhẫn anh đã trao khi em giao danh dự của mình cho anh—”
Kristin gần như khuỵu xuống vì mệt mỏi và đau buồn; nàng khẽ đáp:
“Em tự hỏi, Erlend, liệu anh có còn nhớ cái thời anh giành được danh dự của em không—”
Bấy giờ chàng quăng hai tay lên ôm đầu, đổ vật xuống ghế dài, lắc lư và quằn quại. Kristin ngồi xuống cách đó một quãng ngắn— nàng ước gì mình có thể giúp chồng. Nàng hiểu tai họa này đè lên chàng càng nặng nề hơn bởi chính chàng từng phạm tội với người khác như giờ đây người ta đã phạm tội với chàng. Và chàng, người chưa bao giờ chịu nhận lỗi về bất cứ tai họa nào do chính mình gây nên, tuyệt nhiên không thể gánh nổi lỗi lầm trong chuyện này— mà ngoài nàng ra, chẳng còn ai để chàng trút nó lên. Nhưng nàng không thấy giận bằng đau buồn và khiếp sợ trước những gì sắp xảy ra—.
Thỉnh thoảng nàng lên thăm Margret. Cô gái nằm hoàn toàn bất động, trắng bệch, mắt nhìn trừng trừng. Nàng vẫn chưa hỏi đến số phận Haakon— Kristin không biết đó là vì nàng không dám hỏi, hay vì nỗi thống khổ của chính mình đã khiến nàng hoàn toàn tê dại.
Đến xế chiều, Kristin thấy Erlend và Kløng người Iceland cùng nhau đi xuyên qua màn tuyết cuộn tới nhà gác của hiệp sĩ. Nhưng chỉ một lát sau, Erlend đã trở về một mình. Kristin ngước lên trong chốc lát khi chàng bước vào vùng sáng rồi đi ngang qua nàng— từ đó nàng không dám đưa mắt về góc phòng nơi chàng ẩn mình. Nàng đã thấy chàng hoàn toàn suy sụp.
Sau đó, khi nàng sang nhà kho có chút việc, Ivar và Skule chạy đến báo với mẹ rằng Kløng người Iceland sẽ đi ngay tối nay— hai đứa trẻ buồn bã, vì viên thư lại là người bạn tốt của chúng. Giờ ông đang thu xếp đồ đạc, định xuống Birgsi trong đêm—.
Nàng đã đoán ra chuyện gì xảy đến. Erlend đã ngỏ gả con gái mình cho viên thư lại, nhưng ông ta không chịu nhận cô gái tóc quăn ấy. Còn cuộc trò chuyện đó hẳn đã là gì đối với Erlend— nàng choáng váng, buồn nôn và không chịu nổi việc nghĩ cho hết ý nghĩ ấy.
Hôm sau có lời nhắn từ nhà xứ. Haakon Eindridessøn xin được nói chuyện với Erlend. Erlend trả lời rằng giữa chàng và Haakon chẳng còn gì để nói. Cha Eiliv bảo Kristin rằng nếu Haakon sống được, hắn cũng sẽ thành một kẻ tàn phế hoàn toàn— ngoài việc mất bàn tay phải, lưng và hông hắn cũng bị tổn thương nặng khi ngã từ mái cổng lầu xuống. Nhưng dù trong tình trạng ấy, hắn vẫn muốn về nhà, và vị linh mục đã hứa kiếm cho hắn một chiếc xe trượt tuyết. Giờ hắn hết lòng ăn năn tội lỗi— hắn nói cha của Margret có quyền làm như thế, cho dù luật pháp có được diễn giải ra sao; nhưng hắn mong mọi người cùng cố gắng dập chuyện này xuống, để tội lỗi của hắn và nỗi ô nhục của Margret được che giấu nhiều hết mức có thể. Buổi chiều, hắn được khiêng ra chiếc xe trượt mà cha Eiliv mượn ở Repstad, và chính vị linh mục cưỡi ngựa đi cùng hắn sang Gauldalen.
Ngày hôm sau nữa là thứ Tư Lễ Tro, người ở Husaby phải đến nhà thờ của giáo xứ dưới Vinjar. Nhưng đến giờ kinh chiều, Kristin nhờ người phụ tá mở cửa cho nàng vào nhà thờ ở nhà.
Nàng vẫn còn cảm thấy tro trên đầu khi quỳ xuống bên mộ con trai riêng của chồng và đọc những kinh Lạy Cha cầu cho linh hồn cậu.
Giờ đây dưới phiến đá kia, chắc chẳng còn lại gì nhiều ngoài những đốt xương của cậu bé. Xương, tóc và chút ít quần áo đã được chôn theo cậu. Nàng từng nhìn thấy di hài người em gái nhỏ khi họ khai quật em lên để đưa về với cha ở Hamar. Bụi và tro— nàng nghĩ đến khuôn mặt đẹp đẽ của cha, đến mẹ với đôi mắt lớn trên khuôn mặt đầy nếp nhăn, cùng dáng người cứ trẻ trung, mảnh mai và nhẹ nhõm một cách lạ lùng, mặc dù nét mặt bà đã sớm già đi. Họ nằm dưới một phiến đá rồi tan rã, như những ngôi nhà sụp xuống khi người sống đã dọn đi. Bao hình ảnh chập chờn trước mắt nàng— tàn tích cháy đen của nhà thờ quê nhà, một gia trang trong thung lũng Silsaadalen mà họ thường cưỡi ngựa ngang qua trên đường sang Vaage: nhà cửa đứng hoang phế rồi dần sụp xuống; những người cày cấy đất đai ở đó không dám đến gần sau khi mặt trời lặn. Nàng nghĩ đến những người thân yêu đã chết— nét mặt, giọng nói, nụ cười, thói quen và cử chỉ của họ— khi chính họ đã đi tới miền đất bên kia, nghĩ đến hình hài họ thật đau đớn biết bao; giống như nhớ lại mái nhà của mình khi biết rằng giờ nó đứng hoang, những thân gỗ mục đang trượt chìm xuống lớp cỏ bùn.
Nàng ngồi trên bục trong nhà thờ trống vắng; mùi hương trầm cũ lạnh ngắt giữ chặt tâm trí nàng giữa những hình ảnh về cái chết và sự tiêu hoại của những vật hữu hạn. Nàng không đủ sức nâng linh hồn mình lên để thoáng nhìn miền đất nơi họ _đang ở_, nơi mọi lòng tốt, tình yêu và sự thủy chung cuối cùng đều được đưa tới và _còn mãi_. Mỗi ngày, khi cầu nguyện cho linh hồn họ được an nghỉ, chính nàng lại thấy thật vô lý khi _nàng_ phải cầu cho những người ngay khi còn sống trên thế gian đã có trong tâm hồn nhiều bình an hơn nàng từng biết đến dù chỉ một lần, kể từ khi trưởng thành. Cha Eiliv vẫn nói rằng lời cầu nguyện cho người chết bao giờ cũng tốt lành— tốt cho chính người cầu, nếu những người kia đã được bình an bên Thiên Chúa.
Nhưng điều ấy không giúp được nàng. Nàng tưởng rằng khi thân xác mỏi mệt của mình cuối cùng mục rữa dưới một phiến đá, linh hồn bất an của nàng vẫn sẽ phải chập chờn đâu đó gần bên, như một oan hồn lang thang than khóc quanh những căn nhà sụp đổ của một gia trang hoang phế. Bởi trong lòng nàng, tội lỗi vẫn còn nguyên, như rễ cỏ dại mục nát chằng chịt trong đất. Nó không còn nở hoa, bùng cháy hay tỏa hương, nhưng trong lòng đất nó vẫn ở đó, nhợt nhạt, bền chắc và sống động. Dẫu lòng nàng trào dâng bao dịu dàng khi nhìn thấy nỗi tuyệt vọng của chồng— nàng vẫn không có ý muốn dập tắt tiếng nói bị tổn thương và cay đắng đang cật vấn bên trong mình— anh có thể nói với _em_ như thế sao, anh đã quên lúc em trao anh lòng chung thủy cùng danh dự của em rồi sao, đã quên lúc em là người bạn yêu dấu của anh rồi sao—. Dẫu nàng hiểu rằng chừng nào tiếng nói ấy còn cật vấn trong lòng, chính nàng vẫn sẽ nói với chàng như thể _nàng_ mới là người đã quên.—
Trong ý nghĩ, nàng gieo mình xuống trước hòm thánh tích của Thánh Olav, vươn tay tìm những đốt xương bàn tay mục nát của thầy Edvin trong nhà thờ trên núi Vatsfjeldet, siết hai tay quanh những hộp thánh tích chứa vài mảnh nhỏ từ tấm vải liệm của một người đàn bà đã chết và những mảnh xương vụn của một vị tử đạo vô danh— nàng tìm sự che chở nơi những di vật nhỏ bé đã vượt qua cái chết và sự hủy diệt mà gìn giữ được chút sức mạnh của linh hồn đã khuất— giống quyền phép có thể còn ẩn trong những thanh kiếm không gỉ của các dũng sĩ thời xưa, được đào lên từ lòng đất.
Ngày hôm sau, Erlend cưỡi ngựa vào phố thị, chỉ có Ulf và một gia nhân đi theo. Suốt Mùa Chay chàng không trở về Husaby, nhưng Ulf đến đón đoàn tùy tùng của chàng rồi lên đường gặp chàng tại phiên nghị hội giữa Mùa Chay ở Orkedal.
Khi ở riêng với Kristin, Ulf kể rằng Erlend đã thỏa thuận với Tiedeken Paus, người thợ kim hoàn Đức ở Nidaros, để Margret kết hôn với Gerlak, con trai Tiedeken, ngay sau lễ Phục Sinh.
Erlend về nhà vào dịp lễ. Giờ chàng đã bình tĩnh và tự chủ, nhưng Kristin dường như hiểu rằng chàng sẽ không vượt qua được chuyện này như từng vượt qua biết bao điều khác— có thể vì chàng không còn trẻ nữa, hoặc vì chưa điều gì từng làm chàng nhục nhã sâu sắc đến thế. Margret dường như hoàn toàn dửng dưng trước sự sắp đặt của cha.
Tuy vậy, một buổi tối khi hai vợ chồng ở riêng, Erlend nói:
“Nếu nó là đứa con hợp pháp của anh— hoặc mẹ nó là một người đàn bà chưa chồng— thì anh sẽ không bao giờ gả nó cho một người xa lạ trong khi nó đang mang tình cảnh này; anh đã có thể cho cả nó lẫn đứa con của nó chốn nương náu và che chở. Đây là điều xấu xa nhất— nhưng với thân phận do huyết thống của nó, một người chồng hợp pháp sẽ bảo vệ nó tốt hơn cả.—”
Nhưng trong khi Kristin sửa soạn mọi thứ cho con gái riêng của chồng lên đường, một hôm Erlend nói cộc lốc:
“Em hẳn không được khỏe đến mức có thể đi cùng bọn anh vào phố thị?”
“Nếu anh muốn, anh có thể tin chắc rằng em sẽ đi,” Kristin nói.
“Sao anh lại phải muốn thế? Trước đây em đã không đứng vào chỗ một người mẹ đối với nó, thì giờ em có thể khỏi phải làm— đây cũng chẳng phải một đám cưới vui vẻ gì. Phu nhân Gunna ở Raasvold và con dâu bà ấy đã hứa sẽ nhớ đến tình họ hàng mà tới dự.”
Thế là Kristin ở lại Husaby, trong khi tại Nidaros, Erlend gả con gái mình cho Gerlak Tiedekenssøn.