Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 5: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần I — Trái của tội lỗi · Chương V
Chương 5 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Ngày thứ mười sau khi đứa trẻ chào đời, thầy Gunnulf nói với em trai mình, khi buổi sáng hai người ở riêng trong đại sảnh:
“Giờ cũng đến lúc rồi, Erlend, em nên sai người đến báo cho thân quyến bên vợ biết tình hình của nàng.”
“Em thấy chưa cần vội đến thế,” Erlend đáp. “Ở Jørundgaard chắc họ chẳng mừng rỡ gì cho lắm khi nghe rằng nơi đây đã có một đứa con trai trong nhà.”
“Chẳng lẽ em cho rằng,” Gunnulf hỏi, “mẹ Kristin không nhận ra từ mùa thu rằng con gái mình không được khỏe? Hẳn bây giờ bà ấy đang lo sợ—”
Erlend không đáp.
Nhưng một lúc sau trong ngày, khi Gunnulf ngồi dưới gian phòng nhỏ trò chuyện với Kristin, Erlend bước vào. Chàng đội mũ da, mặc áo ngoài ngắn và dày bằng vải len thô, quần dài và đôi ủng lót lông. Chàng cúi xuống bên vợ, vuốt ve má nàng:
“Nào, Kristin của anh—em có lời gì muốn anh chuyển đến Jørundgaard không, vì giờ anh sẽ đi về phương nam, đến đó báo tin về con trai chúng ta—”
Kristin đỏ bừng mặt—nàng nom vừa kinh hãi vừa vui mừng.
“Đó là điều tối thiểu cha em có quyền đòi hỏi ở anh,” Erlend nghiêm trang nói. “Rằng anh phải đích thân mang tin này đến.”
Kristin nằm im một lúc.
“Xin nói với mọi người ở nhà,” nàng khẽ nói, “rằng từ ngày rời nhà, ngày nào con cũng khao khát được quỳ dưới chân cha mẹ và cầu xin cha mẹ tha thứ.”
Một lát sau Erlend đi. Kristin không nghĩ đến chuyện hỏi chàng sẽ đi bằng cách nào. Nhưng Gunnulf theo em trai ra sân. Bên ngoài cửa nhà đặt đôi ván trượt tuyết của Erlend và một cây gậy bịt mũi giáo.
“Em đi bằng ván trượt tuyết sao?” Gunnulf hỏi. “Ai sẽ đi cùng em?”
“Không ai cả,” Erlend cười đáp. “Chính anh phải biết rõ hơn ai hết, Gunnulf, chẳng dễ gì có người theo kịp em trên ván trượt tuyết.”
“Anh thấy thế liều lĩnh quá,” vị linh mục nói. “Nghe đâu năm nay rừng Høiland lắm sói—”
Erlend chỉ cười và bắt đầu buộc ván trượt vào chân. “Em tính sẽ đến các trại núi ở Gjeitskar trước khi trời tối. Bây giờ ngày đã dài rồi. Tối ngày thứ ba em có thể tới Jørundgaard—”
“Đường từ Gjeitskar ra đường cái khó đi lắm—ở đó lại có những hõm sương mù nguy hiểm. Và em biết các trại núi ấy vào mùa đông chẳng được yên ổn.”
“Vậy anh cứ đưa em thanh đánh lửa của anh,” người kia vẫn nói bằng giọng như trước, “phòng khi em buộc phải ném thanh của mình qua một mụ đàn bà yêu tinh nào đó, nếu mụ đòi em phải tỏ thứ nhã nhặn không hợp với một người đàn ông đã có vợ. Nghe này, anh, giờ em làm như anh bảo, đến gặp cha Kristin và để ông ấy đòi em bồi thường bao nhiêu tùy ông thấy phải lẽ—thì ít nhất anh cũng nên để em tự quyết lấy chuyện em muốn đi bằng cách nào.”
Thầy Gunnulf đành bằng lòng với chừng ấy. Nhưng ông nghiêm khắc dặn cả gia nhân phải giấu Kristin chuyện Erlend đã lên đường một mình.
Bầu trời trải một màu vàng nhạt ở phương nam, phía trên những vạt tuyết ánh xanh trên núi, vào buổi tối Erlend lao vun vút xuống ngang qua nền nhà thờ, khiến lớp tuyết đóng váng dưới chân ré lên rin rít. Trên cao, vầng trăng bán nguyệt tỏa ánh trắng đục như phủ sương trong bóng chiều chạng vạng.
Ở Jørundgaard, khói đen cuộn từ những lỗ thoát khói trên mái lên nền trời nhợt nhạt, trong trẻo. Tiếng rìu bổ vang lạnh lẽo, đều nhịp giữa tĩnh lặng.
Ngoài cổng gia trang, bầy chó sủa ầm ĩ về phía người đang đến. Trong sân, một đàn dê lông xù lững thững đi lại, thân hình sẫm màu giữa ánh chạng vạng trong veo—chúng nhấm nháp một đống cành vân sam giữa sân. Ba đứa trẻ nhỏ mặc đồ mùa đông chạy giữa đàn dê.
Cảnh yên ấm của mái nhà nơi đây lay động Erlend mãnh liệt một cách lạ lùng. Chàng đứng lúng túng chờ Lavrans, người đang bước ra đón khách—cha vợ chàng khi ấy đứng dưới kho củi, nói chuyện với một người đang chẻ thanh làm hàng rào. Vừa nhận ra con rể, ông đột ngột dừng lại—ấn mạnh cây giáo cầm trong tay xuống tuyết.
“Là _cậu_ đến sao?” ông khẽ hỏi. “Một mình—? Có chuyện gì—có chuyện gì xảy ra ư—. Sao cậu lại đến thế này—” một lát sau ông nói.
“Sự thể là thế này.” Erlend trấn tĩnh lại và nhìn thẳng vào mắt cha vợ. “Con thấy ít ra mình cũng phải đích thân đến báo cha tin này—. Kristin sinh một con trai vào sáng ngày lễ Đức Mẹ.—Vâng, giờ nàng khỏe rồi,” chàng vội nói thêm.
Lavrans đứng im một lúc. Ông nghiến răng vào môi dưới—cằm ông giật giật và hơi run lên.
“Quả là một tin lớn!” một lúc sau ông nói.
Ramborg bé nhỏ đã bước lại, đứng bên cạnh cha. Con bé ngước nhìn lên, mặt đỏ rực.
“Im đi,” Lavrans cộc cằn nói, mặc dù cô bé chưa thốt một lời mà chỉ đỏ mặt. “Đừng đứng đây—đi chỗ khác—”
Ông không nói thêm. Erlend đứng khom người về phía trước, bàn tay trái siết chặt quanh cây gậy. Chàng nhìn xuống tuyết. Bàn tay phải chàng nhét trong ngực áo. Lavrans chỉ vào đó:
“Cậu bị thương à—?”
“Một chút,” Erlend nói. “Tối qua trong bóng tối, con ngã xuống mấy triền đá.”
Lavrans nắm lấy cổ tay chàng, thận trọng xem xét: “Ta nghĩ xương không gãy,” ông nói. “Tự cậu nói chuyện ấy với mẹ nó đi—” Ông bước về phía nhà đúng lúc Ragnfrid đi ra sân. Bà ngạc nhiên nhìn theo chồng—rồi nhận ra Erlend và vội bước đến bên chàng.
Bà lắng nghe không nói một lời, trong khi Erlend phải trình bày lời báo tin lần thứ hai. Nhưng mắt bà long lanh ướt khi cuối cùng Erlend nói:
“Con nghĩ có lẽ mẹ đã nhận ra điều gì đó trước khi nàng rời đây vào mùa thu—rằng bây giờ mẹ có thể đang lo sợ cho nàng—”
“Cậu thật chu đáo, Erlend,” bà nói, giọng không vững. “Cậu còn nghĩ được đến chuyện ấy. Từ ngày cậu đưa nó rời khỏi chúng ta, ngày nào ta cũng lo sợ—”
Lavrans quay lại:
“Mỡ cáo đây—ta thấy má cậu bị tê cóng rồi. Cậu chờ một lát trong tiền sảnh, Ragnfrid sẽ lo vết ấy và ủ cho cậu ấm lại—còn chân cậu thế nào—cậu cởi ủng ra để chúng ta xem—”
Khi người nhà vào dùng bữa tối, Lavrans báo tin cho họ và sai mang bia vào để mọi người cùng vui. Nhưng cuộc uống mừng chẳng thật sự vui vẻ—chính ông chủ ngồi đó với một cốc nước. Ông xin Erlend thứ lỗi, nhưng từ thuở còn trai trẻ ông đã lập lời nguyện chỉ uống nước trong Mùa Chay. Vì thế mọi người ngồi khá im lặng, câu chuyện rời rạc bên vò bia ngon. Thỉnh thoảng lũ trẻ lại tìm đến bên Lavrans—ông vòng tay ôm chúng khi chúng đứng nép vào đầu gối mình, nhưng lơ đãng đáp lời chúng. Ramborg trả lời cụt lủn và chanh chua mỗi khi Erlend muốn trêu đùa với nó—con bé muốn tỏ rõ rằng nó không ưa người anh rể này. Giờ nó đã sang tuổi thứ tám, nhanh nhẹn và xinh xắn, nhưng không giống các chị.
Erlend hỏi hai đứa trẻ kia là ai. Lavrans đáp rằng cậu bé là Haavard Trondssøn, đứa con út ở Sundbu. Sống bên ấy giữa các anh chị đã lớn, thằng bé buồn chán quá, nên vào dịp Giáng sinh vừa rồi nó nằng nặc đòi theo cô ruột về đây. Cô bé là Helga Rolvsdatter—khi trở về sau tiệc tang, những người thân buộc phải đưa lũ trẻ rời Blakarsarv theo mình; thật tội nghiệp nếu chúng phải nhìn thấy cha mình trong tình cảnh ấy. Ramborg vui vì có được những anh chị em nuôi này. “Ragnfrid và ta giờ bắt đầu già rồi,” Lavrans nói. “Mà con bé này lại nghịch ngợm, ham chơi hơn Kristin.” Ông vuốt mái tóc xoăn của con gái.
Erlend đến ngồi bên mẹ vợ, và bà hỏi cặn kẽ chàng về cuộc sinh nở của Kristin. Chàng nhận thấy Lavrans đang lắng nghe hai người. Rồi ông đứng dậy, đi lấy mũ và áo choàng. Ông nói mình định sang nhà xứ—muốn mời cha Eirik đến uống rượu với họ.
Lavrans bước theo con đường mòn đã được giẫm thành lối băng qua đồng ruộng về phía Romundgaard. Mặt trăng sắp lặn sau núi—nhưng ngàn vạn vì sao lấp lánh trên những dãy núi trắng.—Ông hy vọng vị linh mục có nhà—giờ ông không còn chịu nổi việc ngồi đó cùng những người kia thêm nữa.
Nhưng khi đi vào giữa những hàng rào gần sân nhà, ông thấy một ngọn nến nhỏ đang tiến về phía mình. Lão Audun cầm ngọn nến—khi nhận ra có người trên đường, lão rung chiếc chuông bạc nhỏ. Lavrans Bjørgulfsøn quỳ sụp xuống đụn tuyết bên vệ đường.
Audun đi qua với ngọn nến và chiếc chuông ngân lên yếu ớt, dịu dàng. Cha Eirik cưỡi ngựa theo sau. Khi đi ngang người đàn ông đang quỳ, ngài nâng cao bình đựng Mình Thánh trong hai tay, không nhìn sang bên mà lặng lẽ đi qua, trong lúc Lavrans cúi mình, giơ hai tay lên chào Đấng Cứu Thế.
—Người đi cùng vị linh mục là con trai Einar Hnufa—vậy là ông lão sắp đến giờ lâm chung rồi—! Chao ôi. Lavrans đọc những kinh dành cho người hấp hối trước khi đứng lên đi về nhà. Dẫu sao, cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong đêm ấy đã đem lại cho ông rất nhiều sức mạnh và niềm an ủi.
Khi hai người đã nằm xuống, ông hỏi vợ:
“Bà có biết chuyện này không—rằng Kristin đã ở trong tình cảnh _như thế_?”
“Ông không biết sao?” Ragnfrid nói.
“Không,” người chồng đáp cộc lốc đến mức bà hiểu rằng dẫu sao ý nghĩ ấy hẳn cũng đã đôi lần hiện lên trong đầu ông.
“Hồi mùa hè có một thời gian tôi quả đã lo,” người mẹ ngập ngừng nói. “Tôi thấy nó không nuốt nổi thức ăn. Nhưng lâu dần, tôi lại nghĩ có lẽ mình đã lầm. Suốt thời gian chúng ta chuẩn bị đám cưới, trông nó vui đến thế—”
“Phải, nó quả có lý do chính đáng để _được thế_,” người cha nói, giọng hơi giễu cợt. “Nhưng nó chẳng nói gì với bà—bà là mẹ nó—”
“Bây giờ nó đã phạm lỗi, ông mới nhớ đến điều ấy,” Ragnfrid cay đắng đáp. “Ông biết Kristin chưa bao giờ quen tìm đến tôi—”
Lavrans không nói thêm. Một lát sau, ông dịu dàng chúc vợ ngủ ngon rồi nằm yên. Ông biết mình sẽ chưa thể ngủ được ngay.
Kristin—Kristin—đứa con gái bé bỏng của ông—.
—Ông chưa bao giờ dùng lấy một lời để nhắc lại chuyện Ragnfrid đã thú nhận với ông trong đêm hôm ấy. Và bà không thể nào có lý khi cho rằng ông đã để bà cảm thấy mình vẫn nghĩ đến chuyện đó. Ông không hề đổi khác trong cách đối xử với bà—trái lại còn cố gắng tỏ ra ân cần và thương yêu bà hơn nữa. Nhưng đây không phải lần đầu tiên trong mùa đông này ông nhận thấy vẻ cay đắng ấy ở Ragnfrid, hay thấy bà bới tìm một sự xúc phạm ngấm ngầm trong những lời vô ý của ông. Ông không hiểu nổi và cũng không biết phải làm sao—vậy thì đành để mặc thế.
Lạy Cha chúng con ở trên trời—. Ông cầu nguyện cho Kristin và đứa con của nàng. Rồi ông cầu nguyện cho vợ và cho chính mình. Cuối cùng, ông xin được ban sức mạnh để nhẫn nại chịu đựng Erlend Nikulaussøn, chừng nào ông còn buộc phải để người con rể ấy đi lại trong gia trang của mình.
Lavrans không cho phép con rể lên đường về nhà trước khi biết cổ tay chàng chuyển biến ra sao. Và ông không muốn Erlend trở về một mình.
“Kristin sẽ vui nếu cha cùng đi,” một hôm Erlend nói.
Lavrans im lặng một lúc. Sau đó ông nêu ra nhiều điều phản đối. Hẳn Ragnfrid sẽ không thích phải ở lại một mình tại gia trang. Và một khi ông đã đi xa đến tận phương bắc, e rằng khó lòng trở về kịp vụ mùa xuân. Nhưng cuối cùng ông vẫn đi cùng Erlend. Ông không mang theo gia nhân nào—lúc về ông định đi tàu đến Raumsdal; từ đó có thể thuê ngựa xuôi theo thung lũng—dọc đường ấy nơi nào ông cũng có người quen.
Trên chặng đường bằng ván trượt tuyết, họ không trò chuyện nhiều, nhưng hòa hợp với nhau. Lavrans phải gắng sức mới theo kịp người kia; ông không chịu thừa nhận rằng con rể đi quá nhanh đối với mình. Nhưng Erlend nhận ra và lập tức điều chỉnh theo cha vợ. Chàng hết sức cố gắng để làm đẹp lòng cha của vợ—và mỗi khi muốn chiếm được tình thân của ai, chàng có một cung cách lặng lẽ, mềm mỏng như thế.
Tối ngày thứ ba, họ trú đêm trong một túp lều đá. Họ đã gặp thời tiết dữ dội và sương mù, nhưng Erlend dường như vẫn tìm đường chắc chắn như thường. Lavrans để ý thấy Erlend am hiểu chính xác một cách kỳ lạ mọi dấu hiệu trên trời dưới đất, tính nết và tập quán của muông thú—và lúc nào chàng cũng biết mình đang ở đâu. Còn mọi điều chính ông, một người vốn quen thuộc núi non, đã học được nhờ quan sát, chú tâm và ghi nhớ, thì người kia dường như biết hoàn toàn bằng bản năng. Chính Erlend cũng cười về chuyện đó—nhưng chàng chỉ cảm thấy nó trong người.
Họ tìm thấy túp lều đá trong bóng tối, đúng vào lúc Erlend đã nói. Lavrans nhớ rằng trong một đêm như thế này, ông từng phải đào hang trong tuyết để trú, chỉ cách chỗ ngựa của mình một tầm tên bắn. Tuyết vun cao quanh lều đến nỗi họ phải phá lối vào qua lỗ thoát khói. Erlend lấy một tấm da ngựa nằm trong lều che kín miệng lỗ, ghim nó lại bằng những thanh củi chàng nêm giữa các rui mái. Chàng dùng một tấm ván trượt xúc lớp tuyết đã lùa vào trong sang bên, rồi nhóm lửa trong bếp bằng số củi đông cứng để sẵn ở đó. Chàng lôi từ dưới ghế ra ba bốn con gà gô tuyết—chàng đã để lại chúng nơi đây khi đi về phương nam—rồi bọc chúng trong đất sét lấy từ nền nhà, nơi đã tan băng quanh bếp, và ném những bọc đất xuống giữa than hồng.
Lavrans nằm trên bệ đất, nơi Erlend đã dùng túi hành lý và áo choàng của hai người để sửa soạn cho ông được tiện nghi hết mức có thể.
“Đám lính vẫn làm thế với gà ăn trộm đấy, Erlend,” ông cười nói.
“Vâng, con cũng học được đôi điều khi phục vụ bá tước,” Erlend cũng cười đáp.
Giờ chàng nhanh nhẹn và hoạt bát bao nhiêu, thì những lần trước cha vợ thường thấy chàng lặng lẽ và hơi uể oải bấy nhiêu. Ngồi dưới sàn trước mặt ông, chàng bắt đầu kể về những năm mình phục vụ bá tước Jacob ở Halland. Chàng từng chỉ huy một toán quân trong pháo đài, và từng cùng ba chiếc thuyền nhỏ tuần phòng ngoài khơi, canh giữ bờ biển. Đôi mắt Erlend hệt như mắt trẻ thơ—chàng không khoe khoang, chỉ để mặc lời nói tuôn ra. Lavrans nằm đó nhìn xuống chàng—.
Ông đã cầu xin Chúa ban cho mình lòng kiên nhẫn đối với chàng rể này — giờ đây ông gần như giận chính mình vì lại mến Erlend hơn mức ông muốn. Ông nhớ tới đêm nhà thờ của họ cháy, khi ấy ông đã có cảm tình với chàng rể. Erlend không thiếu khí phách đàn ông trong cái thân hình cao lêu nghêu ấy. Một nỗi đau nhói vào tim người cha — thật đáng tiếc cho Erlend, chàng có thể làm nên những việc tốt đẹp hơn là quyến rũ đàn bà. Nhưng những việc khác của chàng cũng chẳng đi xa hơn mấy trò trai trẻ là bao. Giá gặp thời một vị thủ lĩnh có thể nắm lấy tay người đàn ông này mà dùng chàng vào việc — nhưng trong thời thế hiện nay, khi mỗi người trong nhiều việc đều phải dựa vào sự xét đoán của chính mình — và một người ở địa vị Erlend phải tự lo liệu cho cơ nghiệp của mình cùng hạnh phúc của biết bao nhiêu người —. Mà đây lại là chồng của Kristin —.
Erlend ngước nhìn cha vợ. Chính chàng cũng trở nên nghiêm nghị. Rồi chàng nói:
“Con muốn xin cha một điều, Lavrans — trước khi chúng ta về đến nhà con — xin cha nói ra điều hẳn cha vẫn mang nặng trong lòng.”
Lavrans im lặng.
“Cha biết mà,” Erlend vẫn nói. “Rằng con sẵn lòng phủ phục dưới chân cha theo bất cứ cách nào cha muốn, và đền bù theo cách cha cho là hình phạt thích đáng đối với con —”
Lavrans nhìn xuống gương mặt người trẻ tuổi — rồi ông mỉm một nụ cười lạ lùng:
“E rằng việc ấy sẽ khó đấy, Erlend — khó cho ta nói mà cũng khó cho con làm. — Giờ con hãy dâng một lễ vật xứng đáng cho nhà thờ ở Sundbu và cho những linh mục mà hai đứa cũng đã biến thành những kẻ bị lừa,” ông nói gay gắt. “Ta không muốn nhắc đến chuyện ấy nữa! — Con cũng chẳng thể vin vào tuổi trẻ của mình. — Erlend, sẽ đáng trọng hơn nếu con phủ phục dưới chân ta trước khi ta cử hành lễ cưới cho hai đứa —”
“Vâng,” Erlend nói. “Nhưng khi ấy con không biết sự việc lại đến mức rồi nhất định phải lộ ra rằng con đã xúc phạm cha.”
Lavrans ngồi bật dậy:
“Khi cưới, con không biết rằng Kristin —”
“Không,” Erlend nói, vẻ chán nản. “Chúng con đã cưới nhau gần hai tháng rồi con mới hiểu ra.”
Lavrans nhìn chàng, có phần kinh ngạc, nhưng không nói gì. Erlend lại lên tiếng, yếu ớt và ngập ngừng:
“Con mừng vì cha đã đến, thưa cha vợ; suốt mùa đông Kristin cứ nặng trĩu trong lòng — nàng hầu như chẳng buồn nói với con một lời. Nhiều lần con có cảm tưởng nàng không sao sống vui được cả ở Husaby lẫn bên con.”
Lavrans đáp, hơi lạnh nhạt và xa cách:
“Hẳn người vợ trẻ nào cũng vậy. Giờ nó đã khỏe lại, chắc hai đứa sẽ lại thân thiết như trước thôi,” ông nói và mỉm cười hơi giễu cợt.
Nhưng Erlend ngồi nhìn chằm chằm vào đống than hồng. Giờ đây chàng bỗng biết điều ấy chắc chắn đến thế — nhưng thật ra chàng đã hiểu ngay từ giây phút đầu tiên trông thấy gương mặt đỏ hồng bé xíu của đứa trẻ áp bên vai trắng của Kristin. Giữa họ sẽ không bao giờ còn được như xưa nữa.
Khi cha bước vào gian phòng nhỏ của Kristin, nàng ngồi dậy trên giường và vươn tay về phía ông. Nàng ôm choàng lấy vai cha, khóc mãi, khóc mãi, đến nỗi Lavrans hoảng hẳn lên.
Nàng đã dậy được ít lâu, nhưng rồi nghe tin Erlend đi một mình lên thung lũng, và khi chàng mãi chưa về, nàng lo lắng đến mức phát sốt. Thế là nàng lại phải nằm giường.
Quả thật có thể thấy nàng vẫn còn yếu — chuyện gì nàng cũng khóc. — Vị linh mục gia đình mới, Sira Eiliv Serkssøn, đã đến gia trang trong lúc Erlend vắng mặt. Thỉnh thoảng ông vào đọc sách cho nữ chủ nhân nghe — nhưng nàng khóc vì những điều vô lý đến nỗi chẳng bao lâu ông không còn biết mình dám để nàng nghe những gì nữa.
Một hôm, khi cha đang ngồi bên nàng, Kristin muốn tự tay quấn tã cho đứa bé để ông có thể nhìn thật rõ con trai nàng xinh đẹp, lành lặn đến nhường nào. Thằng bé nằm trần truồng giữa những tấm da cáo, quẫy đạp trên lớp cành lót trước mặt mẹ.
“Trên ngực nó có dấu gì thế?” Lavrans hỏi.
Ngay trên chỗ trái tim, đứa bé có mấy đốm nhỏ đỏ như máu — nom như một bàn tay đẫm máu đã chạm vào nó ở đó. Chính Kristin cũng từng kinh hãi khi lần đầu trông thấy dấu ấy. Nhưng nàng đã cố tự an ủi mình, và giờ nàng cũng nói:
“Chắc chỉ là một vết bớt lửa thôi — con đã ôm lấy ngực khi trông thấy nhà thờ cháy.”
Người cha giật thót. Phải. Ông nào biết nàng đã che giấu bao lâu — hay bao nhiêu chuyện. Và ông không hiểu sao nàng có thể chịu đựng nổi — đứa con ruột của ông, lại giấu ông —.
“Con nghĩ cha không thật sự thích con trai con,” Kristin hỏi cha nhiều lần, còn Lavrans khẽ cười, bảo rằng tất nhiên ông thích nó. Ông cũng đã đặt những lễ vật hậu hĩnh cả trên nôi lẫn trên giường sản phụ. Nhưng Kristin vẫn thấy chẳng ai yêu quý con trai nàng cho đủ — Erlend lại càng ít hơn hết. “Cha nhìn nó đi,” nàng nài, “cha thấy không, nó vừa cười đấy — cha đã bao giờ trông thấy đứa trẻ nào đẹp như Naakkve chưa, cha?”
Nàng hỏi đi hỏi lại điều ấy. Có lần Lavrans nói, như đang nghĩ ngợi đâu đâu:
“Haavard, em trai con — đứa con trai thứ hai của cha mẹ — là một đứa bé đẹp lắm.”
Một lát sau Kristin hỏi, giọng yếu ớt:
“Đó là người sống lâu nhất trong số các em trai con — phải không?”
“Phải. Nó sống được hai mùa đông. — Giờ con đừng khóc nữa, Kristin của cha,” ông khẽ van nàng.
Cả Lavrans lẫn Gunnulf Nikulaussøn đều không thích người ta gọi thằng bé là Naakkve; nó đã được rửa tội với tên Nikulaus. Erlend khăng khăng rằng đó cũng chỉ là một tên, nhưng Gunnulf nói không; trong các truyện saga đã có những người mang tên Naakkve từ thời ngoại giáo. Dẫu vậy, Erlend vẫn không chịu dùng cái tên mà cha chàng từng mang. Còn Kristin bao giờ cũng gọi đứa bé bằng cái tên Erlend đã dùng khi lần đầu chào đón con trai họ.
Thế là theo Kristin, ngoài chính nàng ra, ở Husaby chỉ có một người hiểu trọn vẹn Naakkve là một đứa trẻ tuyệt diệu và đầy hứa hẹn đến thế nào. Đó là vị linh mục mới, Sira Eiliv —. Về mặt này, ông gần như sáng suốt ngang với người mẹ.
Sira Eiliv là một người thấp bé, tay chân mảnh khảnh, với cái bụng nhỏ tròn tròn — khiến ông có vẻ hơi buồn cười. Ông hết sức tầm thường — ngay cả những người đã nói chuyện với ông vài lần cũng khó nhận ra vị linh mục, gương mặt ông bình thường đến thế. Tóc và da ông cùng một màu — như cát vàng hung — còn đôi mắt tròn xanh nhạt như nước thì hoàn toàn phẳng lặng. Tính ông trầm lặng và nhút nhát, nhưng thầy Gunnulf nói Sira Eiliv uyên bác đến mức cũng có thể lấy được các học vị, giá như ông không quá thiếu khả năng tự tiến cử mình. Song còn hơn cả học vấn, ông được tô điểm bởi đời sống trong sạch, lòng khiêm nhường và tình yêu tha thiết dành cho Đức Kitô cùng Hội Thánh của Người.
Ông xuất thân thấp kém, và tuy không lớn hơn Gunnulf Nikulaussøn bao nhiêu, nom ông gần như đã hơi già. Gunnulf quen ông từ thuở hai người cùng học ở Nidaros, và bao giờ cũng nói về Eiliv Serkssøn với lòng trìu mến sâu sắc. Erlend thấy vị linh mục họ có được ở Husaby chẳng ra dáng linh mục bao nhiêu, nhưng Kristin lập tức tin cậy và yêu mến ông.
Kristin vẫn ở dưới gian phòng nhỏ với đứa trẻ, ngay cả sau khi đã làm lễ trở lại nhà thờ. Đó là một ngày nặng nề đối với Kristin — Sira Eiliv dắt nàng qua cửa nhà thờ, nhưng không dám trao Mình Thánh Chúa cho nàng. Nàng đã xưng tội với ông, song vì tội lỗi nàng phạm phải khi trở thành kẻ đồng lõa trong cái chết không được cứu rỗi của một người khác, nàng phải đến xin tổng giám mục ban phép giải tội. Buổi sáng hôm ấy, khi Gunnulf ngồi bên nàng trong cơn thống khổ của linh hồn, ông đã căn dặn rằng ngay khi thoát khỏi hiểm nguy đến tính mạng về phần xác, nàng phải mau chóng tìm phương thuốc chữa lành linh hồn mình. Vừa đủ sức khỏe, nàng phải thực hiện lời khấn với Thánh Olav. Nay nhờ lời chuyển cầu của ngài, con trai nàng đã được đưa ra ánh sáng và đến giếng rửa tội, lành lặn và sống sót; giờ nàng phải đi chân trần đến mộ ngài, đặt xuống đó vòng hoa bằng vàng của mình, món trang sức danh dự của người trinh nữ mà nàng đã giữ gìn quá tệ và mang một cách bất chính. Gunnulf cũng khuyên nàng chuẩn bị cho chuyến đi ấy bằng đời sống tĩnh cư, cầu nguyện, đọc sách và suy niệm, cùng với việc ăn chay, nhưng phải có chừng mực vì đứa con còn bú.
Buổi tối nàng ngồi buồn bã sau lễ trở lại nhà thờ, Gunnulf đã đến và trao cho nàng một chuỗi hạt Kinh Lạy Cha. Ông nói rằng ở các nước ngoài, không chỉ tu sĩ và linh mục mới dùng những chuỗi hạt như vậy để trợ giúp trong việc đạo đức. Chuỗi Mân Côi này đẹp vô cùng; các hạt làm từ một thứ gỗ vàng đến từ Ấn Độ, tỏa hương ngọt ngào dễ chịu, rất có thể gợi nhớ đến điều một lời cầu nguyện tốt lành phải trở thành — lễ vật của trái tim và niềm khao khát được trợ giúp để sống đẹp lòng Chúa. Xen giữa là những hạt hổ phách và vàng, còn cây thánh giá làm bằng men tuyệt đẹp.
Erlend khát khao nhìn theo người vợ trẻ mỗi khi gặp nàng ngoài sân. Nàng chưa bao giờ đẹp như lúc này — cao và mảnh mai trong chiếc áo đơn sơ màu nâu đất bằng vải len thô không nhuộm. Tấm khăn lanh thô phủ kín tóc, cổ và vai nàng chỉ càng làm nổi bật làn da sáng trong rạng rỡ. Khi nắng xuân chiếu thẳng vào mặt nàng, tưởng như ánh sáng thấm sâu vào da thịt, nàng trong trẻo đến thế — mắt và môi dường như trở nên trong suốt. Khi chàng xuống gian phòng nhỏ để thăm con, nếu chàng nhìn nàng, nàng liền rủ hàng mi trắng lớn xuống — nàng có vẻ e lệ và tinh sạch đến nỗi chàng hầu như không dám lấy ngón tay chạm vào bàn tay nàng. Nếu đang cho Naakkve bú, nàng liền kéo vạt khăn trùm đầu che đi khoảng da thịt trắng nhỏ bé vừa lộ ra. Tưởng như họ đang thực sự đưa vợ chàng lên trời, rời xa chàng —.
Bởi vậy, những buổi tối khi chỉ có đàn ông ngồi trong đại sảnh, chàng nửa đùa nửa bực với anh trai và cha vợ — Husaby đã biến hẳn thành một giáo đường kinh sĩ. Giờ ở đây có Gunnulf và Sira Eiliv, cha vợ thì có thể kể là nửa linh mục, và nay họ còn muốn biến chàng thành người như thế nữa. Vậy là trong gia trang có ba linh mục. Nhưng những người kia chỉ cười chàng.
Mùa xuân ấy, Erlend Nikulaussøn chăm lo rất nhiều cho công việc gia trang. Năm đó mọi hàng rào đều được sửa, các cổng được lắp đúng kỳ, việc cày bừa và mọi công việc đầu xuân được hoàn tất sớm và chu đáo; Erlend còn mua thêm gia súc thượng hạng — vào đầu năm chàng đã phải giết bỏ một phần khá lớn, mà thiệt hại cũng không đáng kể, vì trong đàn có quá nhiều con già nua, èo uột. Chàng thuê người đốt nhựa thông và bóc vỏ bạch dương, các tòa nhà trong gia trang được chỉnh sửa, mái nhà được tu bổ. Husaby chưa từng ngăn nắp như vậy kể từ khi ngài Nikulaus già còn sung sức. Dĩ nhiên, người ta biết chàng vẫn tìm lời khuyên và sự nâng đỡ ở cha vợ. Giữa những lúc vất vả như thế, Erlend cùng ông và người anh linh mục đi thăm bạn bè, thân tộc trong các làng. Nhưng giờ chàng đi lại theo cung cách đứng đắn, chỉ có đôi ba tùy tùng lanh lợi, đoan chính theo hầu. Trước kia Erlend thường cưỡi ngựa khắp nơi với cả một đoàn những kẻ ngông cuồng, phóng túng. Vì thế lời bàn tán của dân chúng, vốn từ lâu sôi sục phẫn nộ trước đời sống trụy lạc không biết hổ thẹn của Erlend Nikulaussøn cùng cảnh bỏ bê và tàn phá ở Husaby, nay dịu xuống thành những lời đùa vui thiện ý. Người ta mỉm cười bảo rằng nữ chủ nhân trẻ của Erlend đã làm được rất nhiều chỉ trong sáu tháng.
Ít lâu trước lễ Thánh Botolv, Lavrans Bjørgulfsøn đi vào Nidaros cùng thầy Gunnulf. Ông sẽ làm khách của vị linh mục ít ngày trong khi đến viếng thánh địa của Thánh Olav và các nhà thờ khác trong thành buôn, trước khi lại lên đường về nhà ở phương nam. Ông chia tay con gái và chồng nàng trong tình yêu thương và bằng hữu.