Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 6: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần I — Trái của tội lỗi · Chương VI
Chương 6 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby
Kristin sẽ lên đường tới Nidaros ba ngày sau lễ Các Thánh Selje—về cuối tháng, thành phố đã bắt đầu xôn xao, tất bật chuẩn bị cho lễ Thánh Olav, mà trước đó đức tổng giám mục lại chưa có mặt trong thành.
Chiều hôm trước, thầy Gunnulf đã đến Husaby, và sáng sớm hôm sau, ông cùng cha Eiliv vào nhà thờ hát kinh sáng. Sương phủ xám trên cỏ như một tấm áo choàng khi Kristin đi tới nhà thờ, nhưng nắng đã dát vàng khu rừng trên đỉnh đồi, và chim cu cất tiếng trong sườn núi—xem ra nàng sẽ gặp thời tiết đẹp trên đường hành hương.
Trong nhà thờ không có ai ngoài Erlend, vợ chàng và hai vị linh mục trong gian cung nguyện sáng đèn. Erlend nhìn đôi chân trần của Kristin. Đứng trên nền đá hẳn nàng phải lạnh buốt. Nàng sẽ đi ba dặm đường mà không có gì hộ tống ngoài lời cầu nguyện của họ. Chàng cố sức nâng lòng mình lên cùng Thiên Chúa, như đã bao năm rồi chàng không làm thế.
Nàng mặc áo dài màu tro và thắt một sợi dây thừng quanh eo. Chàng biết bên trong nàng mặc một tấm áo lót bằng vải bố thô. Một mảnh vải len dày buộc chặt che kín tóc nàng.
Khi họ bước ra khỏi nhà thờ, vào trong nắng sớm, một nữ tì bế đứa trẻ tới. Kristin ngồi xuống mấy thân gỗ. Quay lưng về phía chồng, nàng cho con bú thật no trước khi lên đường. Erlend đứng bất động cách đó một quãng—hai má chàng trắng bệch và lạnh ngắt vì căng thẳng.
Hai vị linh mục ra sau một lát—họ đã cởi áo lễ trong phòng áo. Họ dừng lại bên Kristin. Chẳng bao lâu sau, cha Eiliv đi xuống phía gia trang, còn Gunnulf giúp nàng buộc đứa trẻ thật chắc trên lưng. Trong chiếc túi đeo trước ngực, nàng mang theo vòng hoa bằng vàng, tiền, một ít bánh mì và muối. Nàng cầm gậy, cúi mình thật thấp trước vị linh mục rồi lặng lẽ đi về phía bắc, theo con đường mòn dẫn lên rừng.
Erlend đứng lại—mặt trắng bệch như không còn giọt máu. Bỗng chàng cắm đầu chạy. Phía bắc nhà thờ có mấy gò nhỏ, cỏ mọc thưa thớt, những bụi bách xù và bạch dương non bị dê gặm trụi—dê vẫn thường lên đó ăn. Erlend chạy lên dốc—từ nơi ấy chàng còn có thể trông thấy nàng thêm một quãng ngắn, cho đến khi nàng khuất vào rừng.
Gunnulf chậm rãi đi lên theo em trai. Trong buổi sáng rạng rỡ, vị linh mục trông cao lớn và tối sẫm. Ông cũng tái nhợt vô cùng.
Erlend đứng đó, miệng hé mở, nước mắt ròng ròng trên đôi má trắng bệch. Bỗng chàng gục người về phía trước, quỳ sụp xuống—rồi gieo mình nằm úp mặt, duỗi dài trên lớp cỏ ngắn, cứ nức nở mãi, hai bàn tay dài rám nắng giật xé từng nắm thạch nam.
Gunnulf đứng bất động. Ông nhìn xuống người đàn ông đang khóc—rồi nhìn về phía khu rừng nơi người đàn bà đã khuất bóng.
Erlend hơi ngẩng đầu lên:
“Gunnulf—anh có nhất thiết phải bắt nàng chịu điều này không—?—Có nhất thiết không?” chàng lại hỏi. “Anh không thể giải tội cho nàng sao?”
Người kia không đáp; Erlend lại nói tiếp.
“Em đã xưng tội và đền tội rồi mà.” Chàng ngồi dậy. “Em đã xin cho _nàng ấy_ ba mươi thánh lễ, lễ cầu hồn hằng năm và một huyệt mộ trong đất thánh—em đã xưng tội ấy với giám mục Helge, và em đã hành hương tới Thánh Huyết ở Schwerin—. Chừng ấy không thể giúp được chút nào cho Kristin sao—?”
“Nếu em đã làm những điều ấy,” vị linh mục khẽ nói, “—đã dâng lên Thiên Chúa một trái tim tan nát và được hoàn toàn hòa giải với Người—thì em hẳn hiểu rằng những dấu vết tội lỗi của em trên cõi đời này, em vẫn còn phải khó nhọc năm này qua năm khác mới xóa sạch được. Điều em đã gây ra cho người nay là vợ em, khi trước hết em kéo nàng sa vào đời sống ô uế, rồi sau đó vào tội giết người—em không thể sửa lại cho nàng; chỉ Thiên Chúa mới làm được. Hãy cầu xin Người đặt tay che chở nàng trên hành trình này, nơi em không thể đi theo mà bảo vệ nàng. Và chớ quên, em trai, chừng nào cả hai còn sống, rằng em đã thấy vợ mình rời khỏi gia trang của em trong bộ dạng này—vì tội lỗi của em nhiều hơn vì tội lỗi của chính nàng.”
Một lúc sau Erlend nói:
“Trước khi đoạt danh tiết của nàng, em đã thề trước Thiên Chúa và đức tin Kitô giáo của mình rằng em sẽ không bao giờ có người vợ nào khác; còn nàng hứa sẽ không bao giờ lấy người đàn ông nào khác chừng nào chúng em còn sống trên cõi đời. Chính anh đã nói, Gunnulf, rằng khi ấy hôn phối của chúng em đã được kết buộc trước mặt Thiên Chúa; ai sau đó kết hôn với người khác thì sống trong tội ngoại tình trước mắt Người. Vậy thì việc Kristin thuộc về em đâu thể là sống ô uế—.”
“Tội lỗi không nằm ở việc em chung sống với nàng,” một lúc sau vị linh mục nói. “Giá như điều ấy có thể xảy ra mà em không xâm phạm quyền của người khác—nhưng em đã xô nàng vào cuộc nổi loạn tội lỗi chống lại tất cả những người được Thiên Chúa đặt lên trên đứa con gái này—và sau hết, em còn khiến nàng mang tội máu. Lần ấy, khi chúng ta nói với nhau về việc này, anh cũng đã bảo em rồi—chính vì thế mà Giáo hội đặt ra luật lệ về hôn nhân: phải rao hôn phối, và các linh mục chúng ta không được làm phép cưới cho một người nam và một thiếu nữ trái ý thân tộc của họ.” Ông ngồi xuống, đan hai tay trên một đầu gối và nhìn đăm đăm ra miền quê chan hòa ánh sáng mùa hạ, nơi mặt hồ nhỏ ánh lên sắc xanh dưới lòng thung lũng. “Chính em hẳn phải biết điều ấy chứ, Erlend—em đã gieo quanh mình cả một bụi gai rậm, toàn gai nhọn và tầm ma—làm sao em có thể kéo một thiếu nữ trẻ vào với em mà nàng không bị lột da đến máu me, mình đầy thương tích—”
“Hơn một lần anh đã đứng ra bênh vực em, anh ạ, hồi chuyện giữa em với Eline,” Erlend khẽ nói. “Em chưa bao giờ quên ơn ấy—”
“Ta không tin mình đã làm thế,” Gunnulf đáp, giọng run lên, “nếu ta có thể ngờ rằng chú lại nhẫn tâm đối xử như vậy với một trinh nữ thanh sạch, mảnh mai—một đứa trẻ nếu so tuổi với chú.”
Erlend không đáp. Gunnulf khẽ hỏi:
“Hồi ở Oslo—chú chưa từng nghĩ Kristin sẽ lâm vào cảnh nào nếu nàng mang thai—khi còn sống trong nữ tu viện, lại đã là vị hôn thê của người khác—cha nàng là một người kiêu hãnh, trọng danh dự—họ hàng nàng đều thuộc những dòng tộc lớn, không quen chịu nhục—”
“Anh hẳn biết là em có nghĩ đến chuyện ấy.”—Erlend ngoảnh đầu sang một bên. “Munan đã hứa sẽ lo liệu cho nàng—em cũng đã nói với nàng như vậy.—”
“Munan! Chú nỡ đem danh tiết của Kristin ra nói với một kẻ như Munan sao—”
“Anh ấy không phải hạng người như anh tưởng,” Erlend nói cộc lốc.
“Vả lại còn có phu nhân Katrin, bà con của chúng ta. Chắc hẳn hắn đâu định đưa nàng đến một trong những điền trang khác của hắn, nơi các tình nhân của hắn đang ở—”
Erlend đấm tay xuống đất, khiến các khớp ngón tay bật máu:
“—Quả là chính quỷ dữ cũng nhúng tay vào việc nhà người ta, khi vợ lại đi xưng tội với em chồng mình—!”
“Nàng không xưng tội với ta,” vị linh mục nói, “và ta cũng không phải linh mục quản xứ của nàng. Trong nỗi kinh hoàng và khốn quẫn cay đắng, nàng đã giãi bày cùng ta—còn ta đã cố giúp nàng, khuyên nhủ và an ủi nàng theo cách mà ta cho là tốt nhất.”
“Được.” Erlend ngửa đầu ra sau, nhìn anh mình. “Điều ấy chính em cũng biết—em không nên làm thế, không nên để nàng đến với em tại nhà Brynhild—”
Vị linh mục ngồi lặng đi một hồi.
“Tại nhà Brynhild Fluga—”
“Phải, nàng không kể chuyện ấy khi đã kể những chuyện kia sao—”
“—Hẳn Kristin đã đủ khổ sở khi phải nói những điều như thế về người chồng chính thức của mình trong lúc xưng tội,” vị linh mục nói sau một lát. “Ta nghĩ nàng thà chết còn hơn nói ra ở bất cứ nơi nào khác—” Ông ngồi im một lúc, rồi nói gay gắt, dữ dội:
“Erlend, nếu chú cho rằng trước mặt Thiên Chúa, chú là chồng nàng, là người phải che chở và bảo vệ nàng—thì ta thấy những việc chú làm còn tệ hơn nữa. Chú dụ nàng vào những lùm cây, những kho thóc, dẫn nàng bước qua ngưỡng cửa nhà một con điếm. Và sau cùng lại đưa nàng lên chỗ Bjørn Gunnarssøn và phu nhân Aashild—”
“Đừng nói về dì Aashild như thế,” Erlend khẽ nói.
“Trước kia chính anh đã nói rằng anh tin dì gây nên cái chết của bác trai chúng ta — dì và người đàn ông Bjørn ấy —”
“Tôi chẳng cần biết chuyện đó,” Erlend nóng nảy nói. “Tôi yêu quý dì Aashild —”
“Phải, điều ấy thì tôi đã hiểu,” vị linh mục đáp. Miệng ông nhếch thành một nụ cười giễu cợt, hơi lệch. “Bởi thế anh mới ban cho _bà ấy_ cái may được gặp Lavrans Bjørgulfsøn, sau khi anh đã mang con gái ông ấy đi mất. Xem ra, Erlend, anh cho rằng tình bạn của anh đáng để người khác phải mua bằng một giá rất đắt —”
“Lạy Chúa Jesus!” Erlend vùi mặt vào hai bàn tay. Nhưng vị linh mục vẫn tiếp tục:
“Giá anh đã thấy nỗi quằn quại trong linh hồn vợ anh, khi nàng run rẩy kinh hoàng vì những tội lỗi của mình, chưa được xưng tội, không được ai cứu giúp — mà nàng ngồi đó, sắp sinh con cho anh, cái chết đứng ngay ngoài cửa — bản thân nàng còn quá trẻ, chẳng khác gì một đứa trẻ, lại khốn khổ đến thế —”
“Tôi biết, tôi biết!” Erlend run lên. “Tôi biết trong lúc quằn quại nàng đã nằm đó mà nghĩ đến chuyện ấy. Vì Chúa Jesus, Gunnulf, thôi đi — dẫu sao chúng ta cũng là anh em!”
Nhưng ông vẫn tiếp tục, không chút xót thương:
“Nếu tôi là người đời như anh, chứ không phải linh mục — và nếu tôi đã dẫn một thiếu nữ trẻ trung, tốt lành lạc đường — tôi hẳn đã giải thoát mình khỏi người đàn bà kia. Xin Chúa cứu giúp tôi, tôi thà làm như dì Aashild đã làm với chồng mình và vì thế phải cháy đời đời trong địa ngục, còn hơn chịu để người yêu dấu vô tội của mình phải nếm những đau khổ mà anh đã giáng xuống nàng —”
Erlend ngồi một lúc, toàn thân run rẩy:
“Anh nói anh là linh mục —” anh khẽ nói. “Anh là một linh mục _đạo hạnh đến thế_ sao, chưa bao giờ phạm tội — với đàn bà?”
Gunnulf không nhìn em trai. Một làn máu dồn lên, nhuộm đỏ gương mặt ông.
“Anh không có quyền hỏi như thế — nhưng tôi vẫn sẽ trả lời. Đấng đã chết vì chúng ta trên cây thập giá biết tôi cần lòng thương xót của Người đến nhường nào. Nhưng tôi nói cho anh biết, Erlend — dẫu trên khắp mặt đất tròn này Người không có lấy một tôi tớ thanh sạch, không vương tội lỗi, và trong Giáo hội thánh thiện của Người không có lấy một linh mục nào trung tín và xứng đáng hơn tôi, kẻ phản Chúa khốn nạn — thì ở đó người ta vẫn giảng dạy giới răn và luật pháp của Chúa. Lời Người không thể bị miệng một linh mục ô uế làm cho nhơ bẩn; lời ấy chỉ có thể đốt cháy và thiêu rụi môi chúng ta — nhưng có lẽ anh không hiểu điều này. Song anh cũng biết rõ như tôi và như mọi tên nô lệ nhơ bẩn của ma quỷ mà Người đã mua lại bằng máu mình — luật Chúa không thể lay chuyển và vinh quang của Người không thể suy giảm. Cũng chắc chắn như mặt trời của Người vẫn quyền năng như nhau, dù chiếu xuống biển hoang và những đồng hoang xám vắng, hay xuống những miền quê tươi đẹp này —”
Erlend đã vùi mặt trong hai bàn tay. Anh ngồi rất lâu, nhưng khi lên tiếng, giọng anh khô khốc và cứng rắn:
“Linh mục hay không phải linh mục — bởi anh đâu phải người giữ mình thanh sạch nghiêm nhặt đến thế — anh không hiểu sao... Anh có thể làm điều ấy với một người đàn bà từng ngủ trong vòng tay anh — sinh cho anh hai đứa con — có thể đối xử với nàng như dì đã đối xử với chồng mình sao?”
Vị linh mục im lặng một lúc. Rồi ông nói, giọng hơi giễu cợt:
“Chính anh có xét đoán dì Aashild nghiêm khắc đến thế đâu —”
“Đối với một người đàn ông hẳn không thể giống như đối với một người đàn bà. Tôi nhớ lần cuối cùng họ đến đây, tại Husaby, và ngài Bjørn đi cùng họ. Mẹ và dì ngồi đây bên bếp lửa, còn ngài Bjørn gảy đàn hạc và hát cho họ nghe — tôi đứng bên đầu gối ông. Bấy giờ bác Baard gọi dì — bác đang nằm trên giường và muốn dì vào nghỉ cùng ngay — bác dùng những lời hết sức trơ trẽn, nhục nhã... Dì đứng dậy, ngài Bjørn cũng vậy; ông đi ra khỏi phòng, nhưng trước đó hai người nhìn nhau... Về sau, khi đã đủ lớn để hiểu, tôi nghĩ — có lẽ chuyện ấy quả là thật... Tôi đã nài xin được cầm đèn đưa ngài Bjørn tới gian nhà kho nơi ông sẽ ngủ, nhưng tôi không dám, mà nằm lại trong đại sảnh tôi cũng không dám — tôi chạy ra ngủ cùng đám gia nhân nam trong phòng của họ. Nhân danh Chúa Jesus, Gunnulf — đối với một người đàn ông không thể nào giống như điều Aashild hẳn đã phải chịu trong đêm ấy —”
“Không, Gunnulf — giết một người đàn bà mà... trừ phi tôi bắt gặp nàng với một kẻ khác —”
Nhưng Erlend quả đã làm _điều ấy_ —. Dẫu vậy, Gunnulf không sao nói ra được với em trai mình. Vì thế vị linh mục lạnh lùng hỏi:
“Vậy thì chuyện Eline đã không chung thủy với anh cũng không phải là thật hay sao —”
“Không chung thủy!” Erlend đột ngột quay sang phía anh trai, mắt bừng bừng. “Anh cho rằng tôi phải kể là lỗi của nàng khi nàng dan díu với Gissur sao — sau khi tôi đã bao lần, hết lần này đến lần khác, cho nàng biết rằng giữa chúng tôi từ nay đã chấm dứt.”
Gunnulf cúi đầu.
“Không. Có lẽ anh nói đúng,” ông mệt mỏi khẽ nói.
Nhưng chút đồng tình nhỏ nhoi vừa giành được ấy khiến Erlend bừng bừng trở lại — anh hất đầu ra sau và nhìn vị linh mục.
“Anh quá đỗi săn sóc Kristin, Gunnulf. Suốt cả mùa xuân anh cứ quẩn quanh bên nàng như thế — gần như quá cả phận một người anh em và một linh mục. Cứ như thể anh không muốn để tôi có được nàng... Nếu khi anh gặp nàng lần đầu, nàng không ở trong tình cảnh như khi ấy, người ta có thể tưởng —”
Gunnulf nhìn anh. Mất tự chủ dưới ánh mắt của anh trai, Erlend bật dậy — Gunnulf cũng đứng lên. Khi ông vẫn nhìn không thôi, Erlend vung nắm đấm về phía ông. Vị linh mục chộp lấy cổ tay anh. Erlend định xông vào anh trai, nhưng Gunnulf đứng vững không hề lay chuyển.
Anh lập tức dịu xuống. “Lẽ ra tôi phải nhớ anh là linh mục,” anh khẽ nói.
“Anh thấy đấy, vì chuyện ấy anh khỏi cần ăn năn,” Gunnulf nói với một nụ cười nhẹ — Erlend đứng xoa hai cổ tay.
“Ừ, đôi tay anh bao giờ cũng khỏe như quỷ ấy —”
“Chuyện này giống hệt thuở chúng ta còn là con trẻ.” Giọng Gunnulf bỗng trở nên mềm mại và hiền hòa lạ thường. “Tôi thường nghĩ đến thuở ấy trong những năm xa nhà — thuở chúng ta còn là con trẻ. Hồi ấy chúng ta thường bất hòa, nhưng chẳng bao giờ kéo dài, Erlend.”
“Nhưng bây giờ, Gunnulf,” người kia buồn bã nói, “không bao giờ còn có thể như thuở chúng ta còn là con trẻ nữa.”
“Không,” vị linh mục khẽ đáp. “Hẳn là không thể nữa —”
Họ đứng im lặng hồi lâu. Cuối cùng Gunnulf nói:
“Anh đi đây, Erlend. Anh sẽ xuống chỗ Eiliv từ biệt ông ấy, rồi lên đường. Phải, anh sẽ đến chỗ vị linh mục ở Orkedal; anh sẽ không tới Nidaros chừng nào _cô ta_ còn ở đó.” Anh khẽ mỉm cười.
“Gunnulf! Em không có ý như thế—anh đừng bỏ em mà đi thế này—”
Gunnulf đứng nguyên đó. Anh thở mạnh mấy lần, rồi nói:
“Em phải biết một điều về anh, Erlend—bởi em đã biết rằng anh hay rõ hết mọi chuyện này của em.—Ngồi xuống đi!”
Vị linh mục lại ngồi xuống như trước. Erlend duỗi mình nằm trước mặt anh, chống tay dưới cằm, ngước nhìn gương mặt cứng đờ và căng thẳng khác thường của anh trai. Rồi chàng khẽ cười:
“Có chuyện gì vậy, Gunnulf—anh định xưng tội với em sao?”
“Phải,” người anh khẽ nói. Nhưng rồi anh lại im lặng rất lâu. Erlend thấy có lúc môi anh máy động, hai bàn tay đan vào nhau siết chặt quanh đầu gối.
“Chuyện gì thế?” Chàng thoáng mỉm cười. “Không lẽ anh—có một phu nhân xinh đẹp nào đó dưới những xứ phương nam—”
“Không,” vị linh mục nói. Giọng anh bỗng trở nên khô khốc khác thường. “Không phải chuyện ái tình—”
“Erlend, em có biết vì sao anh được hiến cho đời linh mục không—?”
“Có. Khi các anh của chúng ta đã chết, và cha mẹ tưởng rồi sẽ mất cả hai chúng ta nữa—”
“Không,” Gunnulf nói. “Người ta tưởng Munan vẫn khỏe, còn Gaute hoàn toàn không mắc dịch bệnh; mãi mùa đông năm sau anh ấy mới chết. Nhưng em nằm đó, nghẹt thở, và mẹ đã hứa hiến anh phụng sự Thánh Olav, nếu ngài cứu mạng em—”
“Ai đã kể anh nghe chuyện ấy?” Một lúc sau Erlend hỏi.
“Ingrid, mẹ nuôi của anh.”
“Quả thật em cũng sẽ là một lễ vật kỳ quặc dâng lên Thánh Olav,” Erlend nói và khẽ cười. “Có em phụng sự, hẳn ngài chẳng được ích gì.—Nhưng anh vẫn từng nói, Gunnulf, rằng anh rất bằng lòng vì đã được gọi vào đời linh mục từ thuở nhỏ—”
“Phải,” vị linh mục nói. “Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Anh còn nhớ ngày em từ Husaby lên đường cùng Munan Baardssøn, để đến với người bà con của chúng ta là nhà vua và vào hầu ngài. Con ngựa nhảy múa dưới mình em, còn những binh khí mới của em sáng lóa, long lanh. Còn anh thì sẽ chẳng bao giờ được mang binh khí—. Em đẹp lắm, em trai của anh—em mới mười sáu mùa đông, vậy mà đã một năm một ngày trôi qua kể từ khi anh hiểu rằng các phu nhân và thiếu nữ đều ưa thích em—”
“Vẻ huy hoàng ấy chẳng kéo dài bao lâu,” Erlend nói. “Em học được cách cắt móng tay ngang phè, cứ cách một lời lại thề nhân danh Chúa Jesus, và dùng dao găm bù vào mỗi khi đấu kiếm. Rồi em bị đưa lên phương bắc và gặp _nàng_—sau đó bị đuổi khỏi đoàn cận vệ trong ô nhục, còn cha đóng cửa không cho em vào—”
“Rồi em rời khỏi đất nước cùng một phu nhân xinh đẹp,” Gunnulf vẫn điềm tĩnh nói. “Và tin báo về nhà rằng em đã trở thành viên chỉ huy trong thành của Bá tước Jacob—”
“Thực ra cũng chẳng lớn lao như lời đồn truyền về quê đâu,” Erlend vừa nói vừa cười.
“Cha và em không hòa thuận—còn anh, cha coi nhẹ đến mức chẳng buồn bất hòa với anh nữa. Mẹ thương anh, điều đó anh biết—nhưng mẹ thấy anh chẳng đáng là bao so với em—anh nhận ra rõ nhất sau khi em rời khỏi đất nước. Em, em trai của anh, là người duy nhất thật lòng thương anh. Và Chúa biết rằng em là người bạn thân thiết nhất của anh trên cõi đời này. Nhưng vào thuở anh còn trẻ dại, đã có lúc anh nghĩ rằng em được ban cho quá nhiều, hơn anh quá nhiều. Giờ anh đã nói cho em biết rồi, Erlend!”
Erlend nằm úp mặt xuống đất.
“Anh đừng đi, Gunnulf,” chàng van.
“Anh phải đi,” vị linh mục nói. “Giờ chúng ta đã nói với nhau quá nhiều rồi. Xin Chúa và Đức Maria ban cho chúng ta được gặp lại nhau vào một thời khắc tốt lành hơn. Vĩnh biệt, Erlend—”
“Vĩnh biệt,” Erlend nói mà không ngẩng lên.
Mấy giờ sau, khi Gunnulf trong y phục lên đường bước ra khỏi nhà linh mục, anh trông thấy một người cưỡi ngựa đi về phía nam, băng qua những cánh đồng hướng tới khu rừng. Người ấy khoác một cây cung trên vai, ba con chó chạy quanh chân ngựa. Đó là Erlend.
Trong lúc ấy, Kristin bước nhanh theo con đường mòn xuyên rừng lên sườn đồi. Mặt trời đã lên cao trên trời, những ngọn vân sam sáng rực dưới vòm trời mùa hạ, nhưng trong rừng vẫn mát lành và tươi mới như buổi sớm. Hương thơm của lá kim, đất đầm lầy và những khóm hoa chuông đôi đang nở, với từng cặp chuông nhỏ màu hồng nhạt mọc khắp các gò đất, tràn ngập không khí; con đường cỏ phủ ẩm, mềm và êm dưới chân. Kristin vừa đi vừa đọc kinh, thỉnh thoảng lại ngước nhìn những cụm mây trắng nhỏ báo trời đẹp đang bơi trong màu xanh trên các ngọn cây.
Nàng không ngừng nghĩ đến thầy Edvin. Thầy đã đi mãi như thế, năm này qua năm khác, từ đầu xuân đến cuối thu. Trên những lối mòn miền núi, men dưới các khe đá đen và những vạt tuyết trắng. Thầy từng nghỉ chân tại các trại chăn thả trên núi, uống nước suối và cắn miếng bánh mà những cô gái vắt sữa cùng đám trẻ chăn ngựa mang ra cho thầy; rồi thầy từ biệt họ, cầu bình an và phúc lành của Chúa xuống trên người và gia súc. Qua những sườn rừng rì rào, vị tu sĩ đi xuống thung lũng; người cao, vai xuôi, đầu cúi thấp, thầy bước trên đường cái qua những gia trang có người ở và những cánh đồng đã khai khẩn—và bất cứ nơi đâu thầy từng đi qua, những lời chuyển cầu đầy yêu thương của thầy cho hết thảy mọi người đều còn lưu lại phía sau như tiết trời quang đãng.
Nàng không gặp một sinh linh nào, ngoài đôi lúc có vài con bò—trên sườn đồi này có những trại chăn thả mùa hạ. Nhưng đường mòn chắc chắn, qua các bãi lầy đều có cầu ghép bằng thân cây. Kristin không hề sợ hãi—nàng cảm thấy vị tu sĩ vô hình đang đi bên mình. Thầy Edvin, nếu quả thật thầy là người thánh thiện, nếu giờ đây thầy đã được đứng trước nhan Chúa, xin hãy cầu cho con!
Lạy Chúa Jesus Kitô, Đức Maria thánh thiện, Thánh Olav—. Nàng khao khát tới đích của chuyến đi—khao khát được quẳng khỏi mình gánh nặng của những tội lỗi đã giấu kín suốt nhiều năm, sức nặng của những thánh lễ và nghi thức nàng đã chiếm đoạt khi chưa xưng tội, chưa đền tội—nàng khao khát được tự do và thanh sạch—một niềm khao khát mà nàng chưa từng cảm thấy khi mong được giải thoát khỏi gánh nặng trong bụng hồi mùa xuân, lúc còn mang thai đứa bé—.
Cậu bé ngủ ngon lành và yên ổn trên lưng mẹ. Mãi tới khi nàng đã vượt qua khu rừng, xuống các gia trang Snefugl và nhìn ra Budviken cùng nhánh vịnh bên Saltnes, nó mới thức dậy. Nàng ngồi xuống trên bãi đất hoang, đưa bọc đứa trẻ ra trước lòng rồi cởi áo nơi ngực. Thật dễ chịu khi được áp con vào mình, thật dễ chịu khi được ngồi xuống; khắp thân thể nàng là một cảm giác nhẹ nhõm phúc lành khi đôi vú căng sữa, cứng như đá, dần vơi đi trong lúc nó bú.
Xóm làng nằm im lìm, hầm hập dưới nắng bên dưới nàng—những đồng cỏ xanh và ruộng lúa sáng màu giữa rừng tối. Khói bay lên lơ thơ từ vài mái nhà đây đó. Một đôi nơi đã bắt đầu vụ cắt cỏ khô.
Nàng sẽ đi thuyền nhờ từ bãi Saltnes sang Steine. Giờ nàng đã ở giữa những xóm làng hoàn toàn xa lạ. Con đường đi sâu vào Byneset chạy qua các gia trang một quãng, rồi lại vào rừng, nhưng nay khoảng cách giữa mỗi lần nàng trông thấy nhà cửa của con người cũng không còn xa lắm. Nàng mệt rã rời. Nhưng rồi nàng nghĩ đến cha mẹ mình—họ đã đi chân trần suốt con đường từ Jørundgaard ở Sil, vượt Dovre, xuống tận Nidaros, cùng khiêng Ulfhild trên một chiếc cáng giữa hai người. Nàng không được phép nghĩ rằng Naakkve nặng trên lưng.
—Dẫu đầu nàng ngứa khủng khiếp vì mồ hôi đổ bên trong chiếc khăn trùm bằng dạ thô dày. Và quanh eo, nơi sợi dây giữ áo quần sát vào người, chiếc áo lót đã cọ sâu vào da thịt, hẳn đến rách cả thịt rồi.
Trên đường bắt đầu có người qua lại. Thỉnh thoảng có người cưỡi ngựa vượt qua nàng, theo hướng này hoặc hướng kia. Nàng bắt kịp một cỗ xe nông dân chở hàng ra phố chợ—những bánh xe nặng ghép bằng khoanh gỗ xóc nảy, nện thình thịch trên rễ cây và đá, kêu cót két, rin rít. Hai người đàn ông dắt một con bò đi giết thịt. Họ nhìn người đàn bà hành hương trẻ tuổi một chút, bởi nàng xinh đẹp—ngoài ra, dân những vùng này đã quá quen với hạng người đi đường như thế. Tại một chỗ, mấy người đàn ông đang dựng nhà cách đường không xa; họ gọi nàng, rồi một người lớn tuổi chạy theo, mời nàng một ngụm bia. Kristin nhún gối, uống và cảm tạ bằng những lời người nghèo vẫn thường nói với nàng khi nàng bố thí.
Một lúc sau nàng lại phải nghỉ. Nàng tìm được một gò cỏ xanh nhỏ bên đường, nơi có dòng suối chảy qua. Kristin đặt đứa trẻ xuống cỏ; nó thức giấc và gào lên giận dữ, khiến nàng vội vã đọc cho xong những lời kinh mình phải đọc, lòng trí tản mạn. Rồi nàng bế Naakkve vào lòng và mở tã quấn. Nó đã làm bẩn mình mà nàng chẳng có mấy tấm vải sạch để thay; nàng bèn giặt những tấm vải của nó dưới suối, rồi trải lên mấy phiến đá phẳng nóng bỏng dưới nắng cho khô. Nàng quấn những lớp áo ngoài lỏng lẻo quanh cậu bé. Hẳn nó thích thế, được nằm quẫy đạp trong khi bú sữa mẹ. Kristin vui sướng nhìn những chân tay mảnh mai trắng hồng như hoa hồng của con, và kẹp một bàn tay nó giữa hai bầu ngực trong lúc cho nó bú.
Hai người đàn ông cưỡi ngựa chạy nước kiệu gấp gáp ngang qua. Kristin thoáng ngẩng lên—đó là một vị quyền quý cùng người hầu. Nhưng bất chợt vị chủ nhân ghìm ngựa, nhảy khỏi yên rồi đi trở lại chỗ nàng ngồi. Đó là Simon Andressøn.
“Có lẽ cô không muốn tôi đến chào cô?” anh hỏi. Anh đứng giữ ngựa, nhìn xuống nàng. Anh mặc y phục đi đường, bên ngoài chiếc áo chẽn vải lanh xanh nhạt là một áo da không tay, trên đầu đội mũ lụa nhỏ; mặt anh khá đỏ và đẫm mồ hôi. “Thật không ngờ lại gặp cô—nhưng có lẽ cô không muốn nói chuyện với tôi—?”
“Anh hẳn phải biết chứ—anh sống thế nào, Simon—?” Kristin rụt đôi chân trần vào dưới váy áo và định nhấc đứa trẻ khỏi vú. Nhưng cậu bé khóc ré, há miệng tìm kiếm, nên nàng đành cho nó ngậm vú trở lại. Nàng kéo áo che ngực hết sức có thể rồi cúi mặt ngồi đó.
“Con cô đấy ư?” Simon hỏi, chỉ vào đứa trẻ. “Phải, hỏi thế thật ngớ ngẩn,” anh cười. “Con trai phải không? Erlend Nikulaussøn quả là người có phúc!” Anh đã buộc ngựa vào một thân cây; giờ anh ngồi xuống một tảng đá cách Kristin một quãng. Anh đưa thanh kiếm ra trước, kẹp giữa hai đầu gối, hai tay nắm quanh chuôi và lấy mũi vỏ kiếm xới đất.
“Thật không ngờ lại gặp anh ở miền bắc núi, Simon,” Kristin nói để có điều mà nói.
“Phải,” Simon đáp. “Trước đây tôi chưa từng có việc phải đến miền này.”
Kristin nhớ mình đã nghe loáng thoáng trong tiệc mừng trở về nhà—rằng người con trai út của Arne Gjavvaldssøn ở Ranheim sẽ lấy cô con gái út của Andres Darre; thế là nàng hỏi anh có phải vừa từ đó tới không.
“Cô biết chuyện ấy sao?” Simon hỏi. “À phải, hẳn tin đã lan khắp các xóm làng quanh đây rồi—”
“Vậy chuyện ấy sẽ thành,” Kristin nói, “Gjavvald sẽ lấy Sigrid?”
Simon chợt ngẩng lên, mím chặt môi:
“Tôi hiểu rồi, hóa ra cô vẫn chưa biết.”
“Suốt mùa đông tôi không bước ra ngoài sân Husaby,” Kristin nói. “Và cũng chẳng gặp mấy người. Tôi chỉ nghe nói cuộc hôn nhân này đang được bàn đến—”
“Vậy cô nghe chính miệng tôi cũng được—đằng nào tin rồi cũng sẽ lan tới đây.” Anh ngồi im một lúc. “Gjavvald chết ba ngày trước Đêm Mùa đông—ngựa ngã, cậu ấy bị gãy lưng. Cô có nhớ ngay trước khi đến Dyfrin, nơi con đường chạy về phía đông dòng sông và dốc xuống dựng đứng—à không, hẳn cô không nhớ đâu. Chúng tôi đang trên đường tới dự tiệc đính hôn của họ; Arne cùng các con trai đã đi thuyền tới Oslo—” Nói đến đó Simon im bặt.
“Có lẽ Sigrid đã vui vì sắp được lấy Gjavvald?” Kristin hỏi, rụt rè và sợ hãi.
“Phải,” Simon nói. “Và con bé đã sinh cho cậu ấy một đứa con trai—vào ngày lễ Các Thánh Tông đồ mùa xuân này—”
“Ôi, Simon!”
Sigrid Andresdatter với những lọn tóc nâu bao quanh gương mặt tròn nhỏ. Khi cô bé cười, hai má hiện lên những lúm sâu. Những lúm đồng tiền và hàm răng trắng nhỏ thơ trẻ—Simon cũng từng có những nét ấy. Kristin nhớ rằng khi lòng nàng bắt đầu kém dịu dàng với vị hôn phu, nàng đã thấy những nét ấy thiếu vẻ nam nhi, nhất là sau khi quen Erlend. Sigrid và Simon giống nhau vô cùng—nhưng ở cô bé, thân hình tròn trĩnh và tính hay cười ấy chỉ khiến cô thêm xinh đẹp. Khi đó cô bé mới mười bốn mùa đông—. Kristin chưa bao giờ nghe tiếng cười nào vui tươi như tiếng cười của Sigrid. Simon vẫn thường chọc ghẹo cô em út và đùa với cô bé luôn miệng—Kristin đã hiểu rằng trong các anh chị em, anh yêu quý cô bé nhất.
“Cô biết cha tôi thương Sigrid nhất,” Simon nói. “Vì thế cha muốn con bé và Gjavvald thử xem chúng có ưa nhau không, trước khi ông chốt cuộc hôn nhân này với Arne. Và chúng đã ưa nhau—tôi còn thấy có phần quá mức là đằng khác—mỗi khi gặp nhau, chúng cứ tìm cách chạm khẽ vào nhau, liếc nhau rồi cười—chuyện ấy xảy ra mùa hè vừa rồi ở Dyfrin. Nhưng chúng còn trẻ quá—. Chẳng ai có thể nghĩ rồi sẽ ra nông nỗi này. Còn Astrid, cô biết đấy, đã đính hôn ngay từ khi cô và tôi—. Thôi, con bé cũng không phản đối; Torgrim rất giàu, lại tử tế theo một cách nào đó—nhưng chẳng có người nào hay việc gì khiến anh ta vừa ý, rồi anh ta lại tin mình mắc đủ mọi bệnh tật và thương tổn mà người đời biết gọi tên. Bởi vậy tất cả chúng tôi đều vui mừng khi Sigrid mãn nguyện đến thế với cuộc hôn nhân dành cho nó—
Và khi chúng tôi đưa Gjavvald về nhà trong tình trạng ấy—. Halfrid, vợ tôi, thu xếp để Sigrid theo chúng tôi về Mandvik. Rồi sau đó mới lộ ra rằng Gjavvald đã không để con bé lại một thân một mình—”
Họ im lặng một lúc. Rồi Kristin khẽ nói:
“Vậy chuyến đi này chẳng phải việc gì vui vẻ đối với anh, Simon.”
“Không, quả là không.” Rồi anh khẽ cười. “Nhưng giờ tôi cũng gần quen với việc cưỡi ngựa lo những chuyện bất hạnh rồi, Kristin. Và việc này hẳn đến tay tôi là phải nhất—cha không còn sức, còn Sigrid và đứa bé đang ở với tôi tại Mandvik. Nhưng thằng bé sẽ được nhận địa vị của cha nó trong dòng họ, và qua thái độ của tất cả mọi người trong ấy, tôi hiểu rằng khi nó được đưa tới đó, đứa bé tội nghiệp ấy chắc chắn sẽ không bị hắt hủi—”
“Còn em gái anh,” Kristin hỏi, hơi thở đứt quãng. “Cô ấy sẽ ở đâu?”
Simon cúi nhìn xuống đất:
“Giờ cha muốn đưa con bé về Dyfrin,” anh nói nhỏ.
“Simon! Ôi, sao anh có thể nỡ lòng dự vào chuyện này—!”
“Cô hiểu điều đó chứ,” anh đáp, mắt vẫn không ngẩng lên, “được nhận vào họ nội ngay từ đầu là một mối lợi lớn cho thằng bé. Halfrid và tôi, chúng tôi cũng rất muốn giữ cả hai mẹ con ở với mình. Không một người chị em nào có thể tận tụy và thương yêu người kia hơn Halfrid đối với Sigrid. Không ai trong họ hàng chúng tôi đối xử khắc nghiệt với em ấy — cô đừng nghĩ thế. Cha cũng không — dẫu chuyện này đã khiến cha thành một người suy sụp. Nhưng cô không hiểu sao — sẽ là bất công nếu bất kỳ ai trong chúng tôi ngăn cản đứa trẻ vô tội ấy được hưởng gia tài và thuộc về dòng họ của cha nó.”
Con Kristin nhả vú. Người mẹ vội kéo áo khép lại trước ngực và run rẩy ghì đứa bé vào mình. Nó khoan khoái ợ lên đôi lượt rồi trớ đầy lên người nó và hai tay mẹ.
Simon liếc sang hai mẹ con và nói với một nụ cười khó hiểu:
“Cô gặp may hơn em gái tôi, Kristin.”
“Phải, anh hẳn không thể cho rằng số phận ấy là công bằng,” Kristin khẽ nói, “rằng tôi được gọi là vợ và con trai tôi là con chính thức. Có lẽ tôi mới đáng phải ngồi đây với một đứa con hoang không cha —”
“Đó hẳn là tin dữ nhất tôi có thể nghe,” Simon nói. “Tôi mong cô được mọi điều tốt lành, Kristin,” anh nói nhỏ hơn.
Ngay sau đó anh hỏi đường. Anh nhắc rằng mình đã đi tàu từ Tunsberg lên phía bắc. “Giờ tôi phải đi tiếp, cố đuổi kịp người của mình —”
“Có phải Finn đi cùng anh không?” Kristin hỏi.
“Không. Finn đã lấy vợ, giờ không còn ở với tôi nữa. Cô vẫn còn nhớ anh ta sao?” Simon hỏi, giọng hơi vui lên.
“Con trai Sigrid có xinh không?” Kristin hỏi, mắt nhìn Naakkve.
“Tôi nghe người ta bảo là có. Với tôi, đứa trẻ quấn tã nào trông cũng giống đứa nào,” Simon đáp.
“Vậy hẳn anh chưa có con,” Kristin nói và bất giác mỉm cười.
“Chưa,” anh đáp cộc lốc. Rồi anh từ biệt nàng và cưỡi ngựa đi.
Khi đi tiếp, Kristin không đặt đứa bé lên lưng. Nàng bế nó trong tay, ép mặt nó vào hõm cổ mình. Nàng không thể nghĩ đến điều gì khác ngoài Sigrid Andresdatter.
Nhưng cha nàng đã không thể làm thế. Lavrans Bjørgulfsøn phải cưỡi ngựa đi cầu xin cho đứa con hoang của con gái mình một chỗ ngồi, một địa vị giữa họ hàng bên cha nó — ông không bao giờ làm nổi. Và không bao giờ, không bao giờ ông có thể nhẫn tâm cướp đứa con thơ khỏi nàng — giằng một thằng bé khỏi vòng tay mẹ, giằng nó khỏi bầu vú nàng khi sữa mẹ vẫn còn trên đôi môi vô tội. Naakkve của mẹ, không, ông hẳn không nỡ làm thế — dẫu việc ấy có công bằng gấp mười lần, cha nàng cũng không làm —
Nhưng nàng không sao xua được hình ảnh ấy. Một đoàn kỵ mã khuất về phía bắc tại Rosten, nơi thung lũng thắt lại và những ngọn núi đen rừng ép sát vào nhau. Hơi lạnh từ dòng sông phả lên; nước xanh màu băng, sủi bọt, ầm ầm tràn qua những phiến đá, xen giữa là những vực nước đen. Ai gieo mình xuống đó sẽ lập tức bị đập nát từ ghềnh này sang ghềnh khác —. Lạy Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria —.
Rồi nàng thấy những cánh đồng quê nhà bên Jørundgaard trong một đêm hè sáng — thấy chính mình chạy theo lối mòn xuống khoảng cỏ xanh trong rừng trăn bên sông — nơi họ vẫn thường giặt quần áo. Nước chảy xiết với tiếng réo đều đều trong lòng sông phẳng, đầy đá tảng —. Lạy Chúa Kitô, con không còn cách nào khác —.
Ôi, nhưng cha nàng sẽ không nhẫn tâm làm thế. Dẫu công lý có đòi hỏi đến đâu. Khi nàng quỳ gối trần mà van xin, van xin mãi: Cha ơi, cha đừng cướp con của con —.
Kristin đứng trên Feginsbrekka, nhìn thành thị nằm phía dưới trong ánh chiều vàng. Bên kia khúc sông uốn rộng và sáng loáng là những gia trang màu nâu với mái cỏ xanh, những vòm cây lá sẫm trong vườn, những ngôi nhà đá sáng màu có đầu hồi răng cưa, những nhà thờ nhô lên các sống mái đen lợp ván và những nhà thờ mang mái chì ánh mờ. Nhưng trên miền đất xanh, trên thành phố huy hoàng, Nhà thờ Chúa Kitô vươn lên đồ sộ và rực sáng đến nỗi dường như muôn vật đều nằm dưới chân nó. Đón thẳng nắng chiều trên lồng ngực và những ô kính sáng ngời, với các ngọn tháp, những chóp nhọn cao đến choáng váng cùng các cánh gió vàng, nó nằm đó, chỉ lên bầu trời mùa hè trong sáng.
Chung quanh là những miền quê xanh màu hạ, mang trên các sườn đồi những đại gia trang đường bệ. Ngoài kia, vịnh mở ra sáng và rộng, bóng những đám mây mùa hè lớn trôi trên các dãy núi xanh lấp lánh ở bờ bên kia. Klosterholmen tựa một vòng hoa xanh điểm những đóa nhà trắng màu đá, nằm thấp trên mặt biển giữa tiếng sóng vỗ nhẹ. Biết bao cột buồm ngoài những doi cát, biết bao ngôi nhà đẹp đẽ —.
Choáng ngợp, nức nở, người vợ trẻ phủ phục trước cây thập giá bên đường, nơi hàng nghìn khách hành hương từng nằm xuống tạ ơn Thiên Chúa vì những bàn tay cứu giúp đã vươn ra đón con người trên hành trình qua thế gian hiểm nguy và tươi đẹp.
Chuông kinh chiều đang ngân trong các nhà thờ và tu viện khi Kristin bước vào sân Nhà thờ Chúa Kitô. Trong khoảnh khắc nàng đánh bạo liếc lên đầu hồi phía tây của nhà thờ — rồi chói mắt cúi nhìn xuống.
Con người không thể bằng sức mình làm nên công trình này — Thần khí Thiên Chúa đã hành động trong thánh Øistein và những người kế tục ông xây dựng ngôi nhà. Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời — giờ nàng đã hiểu những lời ấy. Một ánh phản chiếu từ vinh quang Nước Chúa chứng thực trong đá rằng ý Người là tất cả những gì đẹp đẽ. Kristin run rẩy. Phải, Thiên Chúa hẳn phải giận dữ ngoảnh mặt khỏi mọi điều xấu xa — khỏi tội lỗi, ô nhục và ô uế.
Trong những hành lang của thành trời đứng các thánh nam và thánh nữ đẹp đến nỗi nàng không dám nhìn họ. Những dây leo không bao giờ héo của cõi vĩnh hằng lặng lẽ, duyên dáng quấn lên cao — vươn ra trên các chóp nhọn và ngọn tháp, nở thành những mặt nhật bằng đá. Trên cánh cửa giữa, Chúa Kitô chịu treo trên thập giá; Đức Mẹ Maria và thánh Gioan Thánh sử đứng bên Người, trắng như được ép nên từ tuyết, và vàng lấp lánh trên nền trắng ấy.
Ba lần nàng vừa cầu nguyện vừa đi quanh nhà thờ. Những khối tường đồ sộ với vô vàn trụ, vòm và cửa sổ khiến mắt người lạc lối, mặt mái dốc khổng lồ thấp thoáng, ngọn tháp, sắc vàng của chóp nhọn tít trên không trung — Kristin quỵ xuống dưới sức nặng tội lỗi của mình.
Nàng run rẩy khi hôn phiến đá chạm của cổng vào. Trong một tia chớp, nàng thấy những nét chạm gỗ sẫm màu quanh cửa nhà thờ quê nhà — nơi thuở bé nàng từng dùng miệng trẻ thơ hôn theo cha mẹ —.
Nàng rảy nước thánh lên đứa bé và chính mình — nhớ lại cha từng làm như thế khi nàng còn nhỏ. Ghì chặt con trong tay, nàng đi sâu vào nhà thờ.
Nàng bước đi như giữa một khu rừng — những cây cột có đường rãnh như thân cây cổ thụ, ánh sáng len vào rừng, muôn màu và trong trẻo như tiếng hát qua những ô kính ghép hình. Trên cao, phía trên nàng, thú vật và con người vui đùa giữa lá đá, các thiên thần hòa nhạc — và cao hơn nữa đến choáng váng, những mái vòm căng rộng, nâng nhà thờ lên hướng về Thiên Chúa. Trong một gian sảnh mở sang bên, lễ đang được cử hành trước một bàn thờ. Kristin quỳ xuống bên một cây cột. Tiếng hát cứa vào nàng như ánh sáng quá mạnh. Giờ nàng thấy mình nằm thấp đến đâu trong bụi đất —.
Pater noster. Credo in unum Deum. Ave Maria, gratia plena. Nàng đã học những lời cầu nguyện bằng cách đọc theo cha mẹ từ trước khi hiểu nổi một từ — từ trước cả ký ức đầu tiên. Lạy Chúa Giêsu Kitô. Có kẻ tội lỗi nào như nàng chăng —.
Trên cao dưới vòm khải hoàn, được nâng lên khỏi loài người, Chúa Kitô chịu đóng đinh đang treo đó. Đức Trinh Nữ tinh tuyền, mẹ Người, đứng nhìn lên người con vô tội trong nỗi thống khổ chết chóc khi Người bị hành hạ đến chết như một tên đại ác.
Còn nàng quỳ đây với trái quả của tội lỗi trong vòng tay. Nàng siết chặt đứa bé vào mình — nó tươi lành như một trái táo, đỏ trắng như đóa hồng — giờ nó đã thức, nằm nhìn lên nàng bằng đôi mắt trong veo, ngọt ngào —
Được tạo sinh trong tội lỗi. Được cưu mang dưới trái tim cứng cỏi, độc ác của nàng. Được kéo ra khỏi thân thể nhiễm tội của nàng mà tinh tuyền, lành lặn, xinh xắn không sao tả xiết, tươi tắn và trong sạch đến thế. Ân sủng nàng không hề xứng đáng được nhận đã làm trái tim nàng tan vỡ; nàng nằm đó, nát lòng vì ăn năn, và nước mắt trào ra khỏi linh hồn như máu tuôn từ một nhát chém chí tử.
Naakkve, Naakkve, con của mẹ —. Thiên Chúa trừng phạt sự gian ác của cha mẹ nơi con cái —. Chẳng phải mẹ đã biết sao, phải, mẹ đã biết. Nhưng mẹ không có lòng thương xót đối với sinh mạng vô tội có thể được đánh thức trong dạ mẹ — để nó phải chịu nguyền rủa và đày đọa vì tội lỗi của mẹ —.
Mẹ có ăn năn tội mình khi mang con trong dạ không, hỡi đứa con trai yêu dấu, yêu dấu của mẹ? Ôi không, đó không phải là ăn năn —. Trái tim mẹ chai cứng vì oán hận và những ý nghĩ xấu xa vào giờ phút đầu tiên mẹ cảm thấy con cựa mình, nhỏ bé và không được chở che đến thế —. Magnificat anima mea Dominum. Et exultavit spiritus meus in Deo salutari meo —. Đức Bà, nữ vương hiền dịu của mọi người nữ, đã hát như thế khi được chọn cưu mang Đấng sẽ chết vì tội lỗi chúng con. Con đã chẳng nhớ đến Đấng cứu chuộc tội con và tội của con mình —. Ôi không, đó đâu phải ăn năn — con chỉ tự hạ mình thành kẻ nhỏ bé, khốn khổ và van xin điều răn của công lý bị phá bỏ, vì con không thể chịu nổi nếu Thiên Chúa giữ luật Người và trừng phạt con theo lời con đã biết suốt đời —.
Ôi phải, giờ nàng đã biết. Nàng từng nghĩ Thiên Chúa giống như cha mình, rằng thánh Olav cũng giống như cha nàng. Suốt thời gian ấy, nơi sâu nhất trong lòng, nàng vẫn chờ đợi rằng đến lúc hình phạt trở nên nặng nề hơn sức nàng chịu đựng, nàng sẽ gặp không phải công lý mà là lòng thương xót —.
Nàng khóc đến nỗi không đủ sức đứng lên khi mọi người đứng dậy trong buổi lễ — cứ nằm sụp thành một khối trên đứa con. Gần nàng có mấy người cũng quỳ mà không đứng lên — hai người đàn bà nông dân ăn mặc tươm tất, giữa họ là một chàng trai trẻ.
Nàng nhìn lên phía cung thánh. Sau những cánh cửa lưới vàng, hòm thánh tích của thánh Olav lấp lánh trong bóng tối, được đặt cao phía sau bàn thờ. Một luồng lạnh buốt chảy dọc sống lưng nàng. Thánh thể của ngài nằm đó, chờ ngày phục sinh. Bấy giờ nắp hòm sẽ bật mở và ngài sẽ đứng dậy. Cầm chiếc rìu trong tay, ngài sẽ bước xuống qua lòng nhà thờ này. Và từ dưới nền đá, từ lòng đất ngoài kia, từ mỗi nghĩa địa trên khắp xứ Na Uy, những bộ xương vàng ệch của người chết sẽ bật lên, được khoác thịt da và tụ thành hàng ngũ quanh đức vua của họ. Những người đã nhọc nhằn bước theo dấu chân đẫm máu của ngài, cùng những kẻ chỉ tìm đến nương náu nơi ngài để được giúp mang những gánh nặng tội lỗi, đau buồn và bệnh tật mà khi sống họ đã tự buộc lên mình và con cái. Giờ họ chen chúc quanh vị quân vương, cầu xin ngài nhắc Thiên Chúa nhớ đến cảnh khốn cùng của họ. Lạy Chúa, xin nghe lời con cầu cho dân tộc này, dân tộc con yêu quý đến nỗi thà chịu lưu đày, thiếu thốn, thù ghét và cái chết còn hơn để bất cứ người nam hay nữ nào lớn lên tại Na Uy mà không biết rằng Người đã chết để cứu rỗi mọi kẻ có tội. Lạy Chúa, Người đã truyền chúng con ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Người — bằng máu mình, con, Olav Haraldssøn, đã viết lại sứ điệp của Người bằng tiếng Na Uy cho những thần dân khốn khó của con —.
Kristin nhắm mắt, buồn nôn và choáng váng. Gương mặt đức vua hiện ra trước nàng — đôi mắt rực lửa của ngài nhìn thấu tận đáy linh hồn nàng — giờ nàng run rẩy trước ánh mắt thánh Olav.
Ngoài miền bắc, nơi quê con, Kristin, nơi ta từng nghỉ chân khi chính đồng bào mình xua ta khỏi vương quốc tổ tiên vì họ không chịu tuân luật Thiên Chúa — chẳng phải một nhà thờ đã được dựng lên ở đó sao? Chẳng phải những người thông hiểu đã đến và dạy các con những điều răn của Thiên Chúa sao —?
Con phải tôn kính cha mẹ. Con không được giết người. Thiên Chúa trừng phạt sự gian ác của cha mẹ nơi con cái —. Ta đã chết để các con được biết những lời giáo huấn ấy. Chẳng phải con đã được nhận chúng sao, Kristin Lavransdatter —?
Vâng, vâng, lạy đức vua!
Nhà thờ Olav ở quê nhà — nàng thấy gian phòng ấm áp, nâu màu gỗ. Mái không cao đến mức khiến nàng sợ hãi. Nó vững chãi, được dựng để tôn vinh Thiên Chúa bằng thứ gỗ sẫm màu quét hắc ín, giống loại gỗ người ta dùng cất phòng ở, kho lẫm và chuồng gia súc. Nhưng những thân gỗ đã được đẽo thành các thanh cột thanh nhã, dựng đứng và ghép lại thành tường nhà Chúa. Cha Eirik vẫn dạy như thế mỗi năm vào ngày thánh hiến nhà thờ: chúng ta cũng phải dùng những khí cụ của đức tin mà đẽo gọt con người tự nhiên, tội lỗi của mình thành một chi thể trung tín trong Hội Thánh Chúa Kitô —.
Con đã quên điều ấy sao, Kristin. Đâu là những việc làm sẽ làm chứng cho con trong ngày sau hết rằng con là một chi thể của Hội Thánh Chúa — những việc lành chứng thực trước loài người rằng Thiên Chúa sở hữu con?
Lạy Chúa Giêsu, những việc lành của nàng! Nàng đã đọc những lời cầu nguyện người khác đặt vào miệng mình. Nàng đã trao đi những của bố thí cha đặt vào tay; nàng đã giúp mẹ khi mẹ mặc áo cho kẻ nghèo, cho người đói ăn và chăm nom vết thương của người bệnh —.
Nhưng những việc ác là của chính nàng.
Nàng đã bám lấy tất cả những ai cho nàng chốn nương náu và chỗ dựa. Nàng đón nhận những lời răn bảo đầy yêu thương của tu sĩ Edvin, nỗi đau của ông trước tội lỗi nàng, lời chuyển cầu dịu dàng của ông — rồi lao mình vào dục vọng tội lỗi cháy bỏng ngay khi vừa ra khỏi ánh sáng trong đôi mắt già hiền từ ấy. Nàng đã đem thân nằm trong chuồng bò và nhà phụ mà hầu như không biết xấu hổ khi lừa dối phu nhân Groa tốt bụng, đáng kính; nàng đón nhận sự chăm sóc ân cần của các nữ tu ngoan đạo mà thậm chí chẳng biết đỏ mặt khi họ ca ngợi với cha nàng rằng nàng hiền dịu và đoan trang.
Ôi, nghĩ đến cha là điều khủng khiếp nhất —. Người cha đã không nói với nàng một lời nghiêm khắc nào khi đến đây vào mùa xuân —.
Simon đã che giấu giúp nàng khi anh bắt gặp người con gái đã đính hôn với mình ở bên một người đàn ông trong quán trọ dành cho đám lính trưng tập lang bạt. Vậy mà nàng đã để anh nhận lấy lỗi lầm vì nàng bội ước, đã để anh mang tội trước mặt cha nàng —.
Ôi, nhưng cha vẫn là điều khủng khiếp nhất. Không, mẹ còn khủng khiếp hơn. Nếu Naakkve của nàng lớn lên và dành cho mẹ nó ít tình yêu như nàng đã dành cho mẹ mình — ôi, nàng không thể chịu nổi. Người mẹ đã sinh nàng, cho nàng bú nơi ngực mình, thức trông nàng khi nàng đau ốm, gội và chải tóc nàng rồi vui mừng vì mái tóc ấy đẹp. Thế mà ngay lần đầu tiên nàng cảm thấy mình cần sự giúp đỡ và an ủi của mẹ, nàng lại chờ mẹ phải đến với mình, bất chấp bao sự khinh bạc nàng đã tỏ ra. Con thừa biết mẹ con hẳn đã lên bắc ở bên con nếu bà biết việc ấy có thể an ủi con, cha nàng đã nói. Ôi mẹ, mẹ, mẹ —!
Nàng đã thấy nước từ giếng quê nhà. Trong những chiếc cốc gỗ, nước trông trong và tinh sạch. Nhưng cha nàng có một chiếc cốc thủy tinh; khi ông rót nước vào đó và ánh mặt trời chiếu qua, nước hiện ra đục ngầu, đầy cặn bẩn —.
Vâng, lạy đức vua, giờ con đã thấy mình là thế nào!
Nàng đã nhận lòng tốt và tình yêu từ tất cả mọi người như thể đó là quyền đương nhiên của mình. Nàng không nhìn thấy điểm tận cùng của mọi lòng tốt và tình yêu đã gặp trong đời. Nhưng ngay lần đầu tiên có người đứng trái ý nàng, nàng đã ngóc dậy như rắn lục ngóc lên rồi mổ. Ý chí nàng đã cứng và sắc như dao khi nàng dồn Eline Ormsdatter đến chỗ chết —.
Cũng như nàng hẳn sẽ vùng lên chống lại chính Thiên Chúa, nếu Người đặt bàn tay công chính lên cổ nàng. Ôi, làm sao cha mẹ nàng chịu đựng nổi — họ đã mất ba đứa con thơ, đã nhìn Ulvhild héo mòn rồi chết, sau bao năm dài đau buồn gắng công tìm cách chữa cho con lành bệnh. Thế mà họ đã nhẫn nại gánh chịu mọi thử thách, chưa từng hoài nghi rằng Thiên Chúa định liệu điều tốt lành nhất cho con cái họ. Rồi nàng lại gây cho họ ngần ấy đau buồn và nhục nhã —.
Nhưng nếu con nàng có điều gì chẳng lành — nếu người ta cướp con nàng đi, như lúc này đang cướp đứa con khỏi Sigrid Andresdatter —. Ôi, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ —.
Nàng đã đi thẳng đến tận bờ vực thẳm địa ngục. Nếu mất đứa con trai, nàng hẳn đã lao mình xuống vực sâu mù khói ấy, khinh miệt quay lưng với mọi hy vọng được đoàn tụ cùng những con người tốt lành, yêu thương đã yêu nàng — tự giết mình mà phó mặc cho quỷ dữ —.
Vậy thì chẳng có gì lạ khi Naakkve mang dấu một bàn tay đẫm máu trên ngực.
Ôi, thánh Olav, người đã nghe lời con khi con cầu xin người cứu giúp con mình —. Con đã cầu xin người chuyển hình phạt sang con và tha cho đứa vô tội. Vâng, thưa đức vua, con biết con đã giữ phần mình trong giao ước ấy ra sao —.
Như một con thú man rợ ngoại đạo, nàng đã lồng lên trước trận đòn roi đầu tiên. Erlend. Chưa một lúc nào nàng tin rằng chàng không còn yêu nàng nữa. Bởi nếu tin thế, nàng cũng chẳng còn sức mà sống. Không đâu, thầm kín trong lòng, nàng đã nghĩ rằng khi mình lại xinh đẹp, khỏe mạnh và tràn đầy sức sống — rồi chàng sẽ phải van xin nàng —. Không phải mùa đông ấy chàng đã đối xử lạnh nhạt với nàng. Nhưng nàng, từ thuở bé đã nghe rằng quỷ dữ luôn lảng vảng bên người đàn bà mới sinh, cám dỗ họ trong lúc yếu đuối — nàng đã tự nguyện lắng tai nghe những lời dối trá của nó. Nàng làm ra vẻ tin rằng Erlend chẳng còn thiết gì đến nàng vì nàng xấu xí và đau yếu — trong khi nàng nhận thấy chàng khổ tâm vì đã khiến cả mình lẫn nàng thành đề tài cho thiên hạ đàm tiếu. Những lời rụt rè, âu yếm chàng nói, nàng đã đánh bật trở lại miệng chàng; và khi chính nàng dồn chàng đến chỗ thốt ra những lời nóng nảy, thiếu suy xét, nàng lại lôi chúng ra mà chìa trước mặt chàng. Lạy Chúa Jesus, hóa ra nàng là một người đàn bà độc ác — nàng đã là một người vợ tồi tệ —.
Bây giờ con đã hiểu chưa, Kristin, rằng con cần được giúp đỡ —.
Vâng, thưa đức vua, giờ con đã hiểu. Con rất cần người nâng đỡ, để con không quay lưng với Thiên Chúa một lần nữa. Xin người, vị thủ lĩnh của dân Người, hãy ở bên con khi con dâng lời cầu nguyện, hãy xin cho con được dung tha. Thánh Olav, xin cầu cho con!
Cor mundum crea in me, Deus, et Spiritum rectum innova in visceribus meis.
Ne projicias me a facie tua —
Libera me de sanguinibus, Deus, Deus salutis meæ —
Buổi lễ đã kết thúc. Mọi người ra khỏi nhà thờ. Hai người đàn bà nông dân quỳ gần Kristin đứng dậy. Nhưng cậu bé ở giữa họ không đứng lên; nó bắt đầu dịch mình trên nền nhà bằng cách chống các đốt ngón tay xuống phiến đá rồi nhảy chồm đi như một con quạ non chưa biết bay. Đôi chân nó bé tí, co quắp dưới bụng. Hai người đàn bà bước đi, cố dùng váy áo che khuất nó hết mức có thể.
Khi họ đã khuất khỏi tầm mắt, Kristin gieo mình xuống, hôn lên nền nhà nơi họ vừa đi ngang qua nàng.
Nàng đứng bên lối vào cung thánh, hơi bối rối và không biết phải làm gì, thì một linh mục trẻ từ cửa chấn song bước ra. Chàng dừng lại trước người đàn bà trẻ khóc đến sưng húp mặt, và Kristin cố hết sức trình bày việc mình đến đây. Thoạt tiên chàng không hiểu. Nàng lục lấy chiếc vòng hoa bằng vàng ra và đưa cho chàng.
“Ồ, bà là Kristin Lavransdatter, vợ Erlend ở Husaby —?” Chàng nhìn nàng hơi kinh ngạc; mặt nàng đã sưng vù vì khóc. “Vâng, vâng, người anh em bên chồng của bà, thầy Gunnulf, đã nói về việc này, phải —”
Chàng đưa nàng vào phòng lễ phục, nhận chiếc vòng, gỡ nó khỏi tấm vải lanh rồi ngắm nghía; đoạn chàng hơi mỉm cười:
“Vâng — hẳn bà cũng hiểu — phải có nhân chứng và đủ mọi thủ tục — bà không thể đem cho một vật quý giá như thế nhẹ tênh như cho một miếng bánh dẹt phết bơ được, thưa bà chủ —. Nhưng tôi có thể giữ nó giùm bà trong lúc này; chắc bà cũng muốn khỏi phải mang nó theo mình ra phố. Ông hãy mời cha Arne chịu khó vào đây,” chàng nói với một người coi nhà thờ. “Đúng lẽ thì chồng bà cũng phải có mặt, tôi nghĩ vậy. Nhưng có lẽ Gunnulf đã cầm theo thư của ông ấy —.”
“Bà sẽ được đưa đến trước chính đức tổng giám mục, có phải thế không? Nếu không thì Hauk Tomassøn là linh mục phụ trách việc đền tội — tôi không biết Gunnulf đã nói chuyện với cha Eiliv chưa —. Nhưng sáng mai bà cứ đến đây dự giờ kinh ban mai, rồi sau kinh Lauds hỏi tìm tôi; tôi tên là Paal Aslakssøn. Còn đứa bé kia” — chàng chỉ vào đứa trẻ — “bà phải để lại nhà trọ. Hình như người anh em bên chồng của bà nói bà sẽ ngủ với các nữ tu ở Bakke?”
Một linh mục khác bước vào, hai người trao đổi với nhau đôi lời. Người thứ nhất mở khóa một hốc nhỏ trong tường, lấy chiếc cân đĩa ra cân vòng hoa, trong khi người kia ghi vào một cuốn sổ. Rồi họ đặt chiếc vòng vào tủ âm tường và khóa lại.
Cha Paal định đưa nàng ra ngoài — nhưng rồi chàng hỏi nàng có muốn để chàng bế con trai nàng lên chạm vào hòm thánh tích của thánh Olav không.
Chàng đón lấy đứa bé với động tác chắc chắn, hơi thờ ơ của một linh mục đã quen bế những trẻ sơ sinh chịu phép rửa. Kristin theo chàng vào nhà thờ; bấy giờ chàng hỏi nàng có muốn hôn hòm thánh tích không.
Mình không dám, Kristin nghĩ, nhưng nàng vẫn theo vị linh mục lên những bậc thang dẫn tới bệ cao đặt hòm thánh tích. Khi môi nàng đến gần chiếc hòm vàng, một luồng sáng lớn trắng như phấn lướt qua trước mắt nàng.
Vị linh mục nhìn nàng một thoáng — xem nàng có ngất đi không. Nhưng nàng đã đứng vững lại. Rồi chàng để trán đứa bé chạm vào vật thánh.
Cha Paal tiễn nàng tới cửa nhà thờ và hỏi nàng đã chắc mình tìm được đường ra bến đò chưa. Rồi chàng chúc nàng ngủ ngon — suốt lúc ấy chàng nói đều đều, khô khan như một chàng cận thần trẻ tuổi nhã nhặn.
Trời đã bắt đầu mưa lất phất, hương thơm từ những khu vườn tỏa ra ngọt ngào, đầy sinh khí và dâng lên từ con phố tươi mát, xanh rờn như một khoảng sân, trừ những vệt bánh xe đã mòn. Kristin cố che mưa cho đứa bé hết sức mình — giờ nó nặng quá, nặng đến nỗi hai cánh tay nàng tê dại vì bế nó. Nó lại rên rỉ, khóc lóc không ngừng — chắc hẳn nó đã đói nữa rồi.
Người mẹ mệt gần chết — vì quãng đường dài, vì đã khóc quá nhiều và vì cơn chấn động dữ dội trong tâm hồn lúc ở nhà thờ. Nàng rét run — mưa mỗi lúc một nặng hạt, những giọt nước đập lộp bộp trên cây khiến lá sáng loáng và run rẩy. Nàng lần đường qua những ngõ hẹp rồi ra tới một khoảng đất rộng, từ đó nhìn thấy dòng sông chảy mênh mang, xám xịt, mặt nước bị những giọt mưa rơi châm chi chít như một cái sàng.
Không có đò. Kristin hỏi hai người đàn ông đang chui vào trú dưới một nhà kho dựng trên cọc sát mép nước. Họ bảo nàng phải đi ra các doi sỏi — các nữ tu có một căn nhà ngoài đó và người lái đò vẫn ngồi ở đấy.
Kristin lại lê bước ngược lên khoảng đất rộng, chân đau rát, mình ướt sũng và mệt lả. Nàng đến một nhà thờ đá nhỏ màu xám — phía sau là mấy ngôi nhà nằm trong hàng rào. Naakkve gào khóc điên cuồng đến nỗi nàng không thể vào nhà thờ. Nhưng qua những ô cửa sổ không lắp kính, nàng nghe tiếng hát vọng ra và nhận ra bài đối ca Lætare, Regina Coeli — hãy vui lên, Nữ vương thiên quốc — vì Đấng mà Người đã được chọn để cưu mang — đã sống lại như lời Người phán. Alleluia!
Đó là bài các tu sĩ dòng Anh Em Hèn Mọn hát sau giờ kinh tối. Tu huynh Edvin đã dạy nàng bài thánh ca kính Mẹ Chúa này khi nàng thức trông ông trong những đêm ông nằm bệnh nặng tại nhà họ ở Jørundgaard. Nàng lẻn vào nghĩa địa nhà thờ, đứng bên bức tường, ôm con trong tay, khe khẽ đọc bài ca ấy một mình.
— Không điều gì con có thể làm, Kristin, lại thay đổi được tấm lòng cha con đối với con. Chính vì thế con không được khiến ông đau buồn thêm nữa —.
— Như đôi tay bị đâm thủng của Người dang rộng trên thập giá, ôi Đức Chúa cao quý của thành Mặt Trời —. Dẫu một linh hồn có lạc xa chính đạo đến đâu, đôi tay bị đâm thủng ấy vẫn khát khao dang rộng. Chẳng cần gì ngoài một điều duy nhất: những linh hồn tội lỗi phải quay về với vòng tay rộng mở ấy, tự nguyện như đứa con tìm đến cha mình, chứ không như những kẻ nô lệ bị lùa về nhà người chủ nghiêm khắc. Giờ nàng đã hiểu tội lỗi ghê tởm đến mức nào. Nỗi đau ấy lại dâng lên trong ngực, như thể trái tim vỡ ra vì ăn năn và hổ thẹn trước ân sủng mình không hề xứng đáng nhận.
Sát bên tường nhà thờ có một chỗ hơi khuất mưa. Nàng ngồi xuống một phiến đá mộ và cho đứa bé bú để dỗ cơn đói. Thỉnh thoảng nàng cúi xuống hôn đỉnh đầu nhỏ phủ tóc tơ của con.
Hẳn nàng đã ngủ thiếp đi. Có người chạm vào vai nàng. Một tu sĩ linh mục và một tu huynh giáo dân già, tay cầm xẻng đào huyệt, đang đứng trước mặt nàng. Vị tu sĩ chân đất hỏi nàng có đang tìm chỗ trọ qua đêm không.
Một ý nghĩ vụt qua lòng nàng — nàng thích được ở lại đây đêm nay với các tu sĩ dòng Anh Em Hèn Mọn, những người anh em của tu huynh Edvin, hơn biết bao. Mà đường ra Bakke lại xa đến thế — nàng đã mệt rũ. Vị tu sĩ liền bảo người phụ tá giáo dân dẫn người đàn bà này đến nhà trọ dành cho phụ nữ — “và cho chị ấy ít nước xương bồ ngâm chân; ta thấy chân chị ấy đau rát cả rồi —”
Nhà trọ dành cho phụ nữ ngột ngạt và tối tăm — nó nằm bên ngoài hàng rào, trong con ngõ hẹp. Vị tu huynh giáo dân mang cho nàng nước rửa và chút thức ăn; nàng ngồi bên bếp lửa, cố dỗ cho đứa bé yên. Hẳn Naakkve nếm sữa là biết mẹ nó đã kiệt sức và nhịn đói suốt ngày; giữa những lần ra sức mút bầu vú đã cạn, nó lại nhăn nhó, rên rỉ. Kristin nhấp từng ngụm sữa vị tu huynh giáo dân mang tới; nàng thử phun sữa từ miệng mình sang miệng con, nhưng cậu chàng lớn tiếng phản đối cách ăn mới mẻ ấy, còn ông già thì cười, lắc đầu. Nàng phải tự uống lấy; như thế rồi sữa cũng sẽ có ích cho thằng bé —.
Cuối cùng ông ra đi. Kristin trèo lên một trong những ổ giường trên cao, sát dưới xà mái. Từ đó nàng với tay mở được một ô cửa nhỏ. Trong nhà trọ có mùi hôi khủng khiếp — một người đàn bà đang nằm đó vì mắc bệnh kiết lỵ. Kristin mở cửa — không khí đêm hè sáng trong, mát lạnh, được mưa gột rửa ùa vào quanh nàng. Nàng ngồi trên chiếc giường ngắn, gáy tựa vào những thanh gỗ của vách — trên giường có rất ít gối. Đứa bé ngủ trong lòng nàng. Nàng đã định lát nữa sẽ đóng ô cửa lại, nhưng rồi ngủ quên mất.
Đến khuya nàng tỉnh giấc. Ánh trăng mùa hè vàng nhạt như mật rọi vào nàng và đứa trẻ, chiếu sáng bức tường đối diện. Bấy giờ nàng nhận ra một người đang đứng giữa dòng trăng, lơ lửng giữa sàn nhà và mái.
Người mặc áo dòng màu tro, thân hình cao và lưng còng. Bấy giờ người quay gương mặt già nua tột bậc, đầy nếp nhăn, về phía nàng. Đó là tu huynh Edvin. Ông mỉm cười dịu dàng khôn xiết — hơi tinh quái, vui vẻ, hoàn toàn giống như thuở ông còn sống trên cõi đời.
Kristin không hề kinh ngạc. Khiêm nhường, hạnh phúc và đầy mong đợi, nàng nhìn ông, chờ xem ông sẽ nói hay làm gì.
Vị tu sĩ cười với nàng, giơ về phía nàng một chiếc găng da cũ nặng nề, rồi treo nó lên tia trăng. Đoạn ông càng mỉm cười tươi hơn, gật đầu với nàng và tan biến.