Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby — Chương 7: Tập II — Nữ chủ Husaby · Phần II — Husaby · Chương I

Chương 7 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter II: Nữ chủ Husaby

Mãi sang đầu năm mới, một hôm Husaby mới bất ngờ có khách. Đó là Lavrans Bjørgulfsøn và ông lão Smid Gudleikssøn từ Dovre, cùng đi với hai vị quý tộc mà Kristin không quen. Nhưng Erlend hết sức ngạc nhiên khi thấy cha vợ mình ở trong đoàn này—ấy là ngài Erling Vidkunssøn xứ Giske và Bjarkøy, cùng Haftor Graut ở Godøy—chàng không hề biết Lavrans quen biết họ. Song ngài Erling giải thích rằng họ đã gặp nhau tại Neset; ông đã cùng Lavrans và Smid ngồi trong hội đồng tài phán sáu người, nay cuối cùng đã phân xử xong cuộc tranh chấp gia sản giữa những người thừa kế bàng hệ của ngài Jon Haukssøn. Sau đó ông và Lavrans nói chuyện về Erlend, và Erling, vốn có công việc tại Nidaros, chợt nghĩ mình cũng rất muốn ghé thăm Husaby, nếu Lavrans chịu cùng đường và đi thuyền lên phía bắc với ông. Smid Gudleikssøn cười nói rằng gần như chính ông đã tự mời mình theo chuyến đi:

“Ta muốn được gặp lại Kristin của chúng ta—đóa hồng đẹp nhất miền Bắc Thung. Lại nghĩ rằng bà con Ragnfrid của ta hẳn sẽ cảm ơn ta vì đã để mắt đến chồng bà ấy, xem ông đang cùng những người thông tuệ và quyền thế đến thế này mưu tính đại sự gì. Phải đấy, cha con mùa đông này còn có việc khác trong tay, Kristin à, chứ không phải cùng bọn ta vui chơi hết gia trang này sang gia trang khác, uống mừng Giáng sinh cho tới khi vào mùa Chay. Bao năm nay chúng ta cứ yên ổn ung dung ngồi trên đất nhà mình, ai lo lợi ích của người nấy. Nhưng giờ Lavrans lại muốn đám người miền thung lũng chúng ta, những bề tôi đã tuyên thệ, kéo thành đoàn cưỡi ngựa tới Oslo giữa lúc mùa đông khắc nghiệt nhất—giờ chúng ta phải khuyên bảo các vị quyền quý trong hội đồng và trông nom quyền lợi của nhà vua—họ cai quản tệ quá đối với đứa trẻ đáng thương chưa đủ tuổi ấy, Lavrans bảo thế—”

Ngài Erling có vẻ hơi lúng túng. Erlend khẽ nhướng mày.

“Cha cũng dự vào những cuộc bàn tính này sao—chuyện đại hội lớn của các cận thần nhà vua ấy?”

“Không, không,” Lavrans nói, “ta đến cuộc hội họp như những người của nhà vua khác trong thung lũng, bởi chúng ta đã được triệu đến đó—”

Nhưng Smid Gudleikssøn lại tiếp lời. Chính Lavrans đã thuyết phục ông—cả Herstein ở Kruke, Trond Gjesling, Guttorm Sneis và những người khác vốn không định đi—.

“Ở gia trang này, các người không có lệ mời khách phương xa vào nhà hay sao?” Lavrans hỏi. “Giờ chúng ta sẽ xét xem Kristin có nấu bia ngon bằng mẹ nó không—.” Erlend có vẻ trầm ngâm, còn Kristin thì hết sức ngạc nhiên.

“Chuyện này là thế nào, thưa cha?” một lát sau nàng hỏi, khi ông theo nàng xuống căn phòng nhỏ, nơi nàng đã đưa đứa bé tới vì có khách lạ.

Lavrans ngồi đung đưa đứa cháu ngoại trên đầu gối. Naakkve giờ đã được mười tháng, to lớn và đẹp đẽ. Từ dịp Giáng sinh, nó đã được mặc áo dài và đi tất hẳn hoi.

“Con không biết trước đây cha từng góp tiếng vào những chuyện như thế này,” người con gái lại nói. “Cha vẫn luôn bảo rằng đối với đất nước, binh dịch và thần dân, tốt nhất là để nhà vua cùng những người được ngài triệu đến bên mình cai quản. Erlend nói việc này là do các lãnh chúa miền nam khởi xướng—họ muốn gạt phu nhân Ingebjørg và những người mà cha bà đã trao cho bà làm cố vấn ra khỏi việc triều chính—muốn chiếm lấy quyền thế như họ từng có khi vua Haakon và em trai ngài còn nhỏ. Nhưng chính cha trước kia đã nói rằng việc ấy gây tai họa lớn cho vương quốc—”

Lavrans hạ giọng bảo nàng cho nhũ mẫu ra ngoài. Khi chỉ còn lại hai cha con, ông hỏi:

“Erlend biết những chuyện ấy từ đâu—có phải từ Munan không?”

Kristin nói rằng khi Orm trở về đây hồi mùa thu, cậu có mang theo thư của ngài Munan. Nàng không nói chính mình đã đọc bức thư ấy cho Erlend nghe—chàng không thạo việc đọc chữ. Trong thư, Munan than phiền rất nhiều rằng giờ đây bất cứ người nào ở Na Uy mang huy hiệu trên khiên cũng tưởng mình hiểu việc trị nước hơn những vị từng đứng bên vua Haakon khi ngài còn sống, và tự cho mình biết điều gì tốt cho vị vua trẻ hơn cả phu nhân cao quý kia, chính mẹ ruột của ngài. Ông cảnh báo Erlend rằng nếu có dấu hiệu các lãnh chúa Na Uy muốn noi theo người Thụy Điển đã làm tại Skara mùa hè vừa rồi, bày mưu chống phu nhân Ingebjørg cùng những cố vấn lâu năm đã được thử thách của bà, thì họ hàng của phu nhân phải sẵn sàng, và Erlend phải đến gặp Munan tại Hamar.

“Ông ấy không nhắc đến chuyện này sao,” Lavrans vừa nói vừa luồn một ngón tay dưới chiếc cằm mập mạp của Naakkve, “rằng ta là một trong những người đã chống lại các lệnh trưng thu trái luật mà Munan mang đi khắp miền thượng nguồn thung lũng—nhân danh đức vua của chúng ta?”

“Cha ư!” Kristin nói. “Mùa thu vừa rồi cha đã gặp Munan Baardssøn sao?”

“Đúng vậy,” Lavrans đáp. “Và giữa chúng ta chẳng có mấy điều hòa hợp.”

“Hai người có nói về con không?” Kristin vội hỏi.

“Không, Kristin bé nhỏ,” người cha nói và khẽ cười. “Ta không nhớ lần này giữa chúng ta có nhắc đến con.—Con có biết chồng con đang định đi về nam tìm Munan Baardssøn hay không?”

“Con nghĩ là có,” Kristin đáp. “Gần đây cha Eiliv đã soạn một bức thư cho Erlend—và chàng có nói chắc chẳng bao lâu nữa mình phải đi về nam.”

Lavrans ngồi im một lát, cúi nhìn đứa bé đang quờ những ngón tay trên chuôi dao găm của ông và cố cắn viên pha lê gắn trên đó.

“Có thật họ muốn tước quyền cai quản khỏi tay phu nhân Ingebjørg không?” Kristin hỏi.

“Phu nhân ấy cũng trạc tuổi con,” người cha đáp, nụ cười nhỏ vẫn còn trên môi. “Không ai muốn lấy khỏi mẹ nhà vua danh dự hay quyền thế vốn thuộc về bà từ khi lọt lòng. Nhưng tổng giám mục cùng một số bạn hữu và họ hàng của vị vua quá cố đã triệu tập một cuộc hội họp, bàn xem phải làm thế nào để bảo vệ tốt nhất quyền thế và danh dự của phu nhân, cũng như lợi ích của dân trong nước.”

Kristin khẽ nói:

“Con hiểu rồi, thưa cha, lần này cha đến Husaby không phải chỉ để thăm Naakkve và con.”

“Không chỉ vì thế,” Lavrans nói. Rồi ông cười: “Và ta cũng hiểu, con gái của ta, rằng con chẳng thích điều ấy chút nào!”

Ông đặt một bàn tay lên mặt nàng rồi vuốt lên vuốt xuống. Ông vẫn thường làm như vậy từ khi nàng còn là một bé gái, mỗi khi vừa mắng hoặc trêu nàng.

Trong lúc ấy, ngài Erling và Erlend ngồi trên gác Hiệp sĩ—đó là tên người ta gọi tòa nhà kho lớn nằm ở phía đông bắc sân, ngay cạnh cổng gia trang. Nó cao như một ngọn tháp, có ba tầng; trên tầng cao nhất là một gian phòng có những lỗ châu mai, và mọi vũ khí không dùng hằng ngày trong gia trang đều được cất ở đó. Vua Skule đã cho dựng ngôi nhà này.

Ngài Erling và Erlend đều khoác áo choàng lông thú, bởi trong phòng rét buốt. Vị khách đi quanh xem những vũ khí và áo giáp đẹp đẽ mà Erlend được thừa kế từ ông ngoại mình, Gaute Erlendssøn.

Erling Vidkunssøn là một người đàn ông khá thấp, thân hình mảnh dẻ và hơi đầy đặn, nhưng cử chỉ nhẹ nhàng, tao nhã. Ông không đẹp mặt, dù các đường nét đều cân đối—tóc ông hung nhạt, lông mi và lông mày trắng, đến đôi mắt cũng xanh rất nhạt. Nếu người ta vẫn thấy ngài Erling có dáng vẻ ưa nhìn thì có lẽ bởi ai cũng biết ông là hiệp sĩ giàu nhất Na Uy. Nhưng ông quả cũng có một phong thái trầm lặng, cuốn hút riêng. Ông cực kỳ sáng suốt, uyên bác và hiểu biết rộng, song vì không bao giờ cố phô bày học vấn và luôn sẵn lòng nghe người khác, ông đã nổi tiếng là một trong những người khôn ngoan nhất nước. Ông bằng tuổi Erlend Nikulaussøn, và hai người là họ hàng xa qua dòng họ Stovreim; họ quen biết nhau từ thuở nào, nhưng chưa từng có tình bạn thân thiết.

Erlend ngồi trên một chiếc rương, nói về con tàu chàng đã cho đóng trong mùa hè vừa rồi; đó là một chiếc thuyền mười sáu ghế chèo, và chàng cho rằng nó sẽ chạy buồm đặc biệt nhanh, lại dễ điều khiển. Chàng đã mời hai thợ đóng tàu từ miền bắc xuống và tự mình cùng họ trông coi công việc.

“Tàu thuyền là một trong số ít những thứ tôi thực sự am hiểu, Erling,” chàng nói, “rồi anh sẽ thấy, Margygren rẽ sóng biển trông sẽ đẹp biết bao—”

“Margygren—anh đã đặt cho tàu của mình một cái tên ngoại đạo thật quái gở, người anh em,” ngài Erling nói và khẽ cười. “Anh định dùng nó đi về nam phải không?”

“Anh cũng mộ đạo như vợ tôi sao—nàng cũng bảo đó là một cái tên ngoại đạo. Phải, nàng cũng chẳng ưa con tàu, nhưng nàng là người miền thượng du—không chịu nổi sóng nước.”

“Phải, nữ chủ nhân nhà anh trông mộ đạo, thanh nhã và duyên dáng,” ngài Erling lịch sự nói. “Đúng như người ta có thể trông đợi ở dòng dõi của bà ấy.”

“Phải—” Erlend khẽ cười. “Không ngày nào nàng không nghe thánh lễ. Còn cha Eiliv, vị linh mục của chúng tôi mà anh đã gặp, thì đọc sách đạo cho chúng tôi nghe—sau bia và những món ngon, điều ông ấy thích nhất là được đọc thành tiếng. Dân nghèo đến đây tìm Kristin xin lời khuyên và giúp đỡ—tôi nghĩ họ sẵn lòng hôn cả gấu áo nàng—đến mấy người của tôi, giờ tôi cũng chẳng còn nhận ra nữa. Nàng gần như một trong những phu nhân được chép trong các truyện thánh mà vua Haakon từng dọa bắt chúng ta phải ngồi nghe linh mục đọc, anh còn nhớ chứ, hồi chúng ta là tiểu đồng hầu cận? Giờ ở Husaby mọi sự khác hẳn lần cuối anh đến thăm tôi, Erling.—Mà lần ấy anh chịu đến với tôi cũng lạ thật,” một lát sau chàng nói.

“Anh vừa nhắc tới thời chúng ta cùng làm tiểu đồng hầu cận,” Erling Vidkunssøn nói với một nụ cười khiến gương mặt ông trở nên rất dễ coi. “Thuở ấy chúng ta là bạn, phải không? Khi đó tất cả chúng tôi đều trông đợi anh sẽ tiến rất xa trên đất nước này, Erlend—.”

Nhưng Erlend chỉ cười: “Phải, tôi cũng từng trông đợi như vậy.”

“Anh không thể đi thuyền về nam cùng tôi sao, Erlend?” ngài Erling hỏi.

“Tôi đã định đi đường bộ,” người kia đáp.

“Như vậy thì vất vả cho anh lắm—phải vượt núi vào mùa đông này,” ngài Erling nói. “Sẽ rất vui nếu anh chịu nhập đoàn cùng Haftor và tôi.”

“Tôi đã hứa đi cùng vài người khác rồi,” Erlend đáp.

“À phải, anh đi cùng cha vợ—như thế cũng hợp lẽ.”

“Không—tôi hầu như chẳng quen những người miền thung lũng mà cha sẽ đi cùng.” Erlend ngồi im một lát. “Không, tôi đã hứa sẽ ghé thăm Munan tại Stange,” chàng vội nói.

“Anh khỏi phải tìm Munan ở đó,” người kia đáp. “Ông ấy đã xuống các gia trang của mình tại Hising, và có lẽ còn lâu mới trở lên phía bắc. Anh không nhận tin của ông ấy đã lâu rồi sao?”

“Vào khoảng lễ kính Thánh Micae—khi ấy ông viết cho tôi từ Ringabu.”

“Vậy anh có biết chuyện xảy ra trong thung lũng hồi mùa thu không?” Erling hỏi. “Không biết sao? Hẳn anh phải biết ông ấy đã tự mình đi khắp nơi, tới gặp các quan trấn quanh Mjøs và dọc miền thượng nguồn thung lũng, mang theo những bức thư truyền rằng nông dân phải đóng đủ suất binh dịch bằng lương thực và ngựa—cứ sáu nông dân phải góp một con ngựa—còn các gia thần quý tộc phải gửi ngựa đi nhưng bản thân được phép ở nhà? Anh _thật sự_ chưa nghe chuyện này sao? Cũng không nghe rằng dân các thung lũng phía bắc đã từ chối nộp khoản trưng thu ấy khi Munan cùng Eirik Topp đến hội nghị ở Vaage? Chính Lavrans Bjørgulfsøn đã đứng ra phản đối—ông yêu cầu Eirik, nếu còn thiếu bất cứ khoản đóng góp hợp pháp nào, thì phải thu theo đúng luật; nhưng ông gọi việc bắt nông dân nộp chiến phí để giúp một người Đan Mạch gây chiến với vua Đan Mạch là sự hà hiếp dân thường, và nói rằng nếu đức vua đòi một bề tôi đã tuyên thệ với mình phụng sự, thì ngài sẽ thấy họ sẵn sàng mang vũ khí tốt, ngựa tốt và gia nhân có võ trang tới trình diện—nhưng Lavrans sẽ không gửi khỏi Jørundgaard dù chỉ một con dê đực đeo dây cương bằng gai, trừ phi nhà vua truyền chính ông phải cưỡi nó tới nơi hội quân. Thật tình, anh không biết chuyện ấy sao? Smid Gudleikssøn nói Lavrans đã hứa với những tá điền của mình rằng nếu cần, ông sẽ nộp thay họ cả khoản phạt vì thiếu suất binh dịch—.”

Erlend ngồi đó, hết sức kinh ngạc.

“Lavrans làm vậy sao! Tôi chưa từng nghe cha vợ mình can dự vào việc gì ngoài những chuyện liên quan đến tài sản của ông và bạn bè ông—.”

“Quả thật ông ấy không thường làm thế,” ngài Erling nói. “Nhưng khi ở Neset, tôi đã hiểu được chừng này: một khi Lavrans Bjørgulfsøn lên tiếng trong một vụ việc, ông sẽ được mọi người hoàn toàn ủng hộ—bởi ông không nói nếu chưa hiểu sự việc thấu đáo đến mức khó ai bác nổi lời ông. Về những diễn biến này, hẳn ông đã trao đổi thư từ với họ hàng bên Thụy Điển—phu nhân Ramborg, bà nội ông, và ông nội của ngài Erngisle là con của hai anh em ruột, nên ông có một dòng họ đông đảo ở bên ấy. Cha vợ anh là một người trầm lặng, nhưng tại những miền dân chúng biết ông, quyền thế của ông chẳng hề nhỏ—dù ông không thường dùng đến.”

“Vậy thì tôi hiểu vì sao anh kết giao với ông, Erling,” Erlend cười nói. “Tôi vẫn lấy làm lạ sao hai người bỗng thành bạn bè thân thiết đến thế—.”

“Điều ấy có gì đáng ngạc nhiên?” Erling điềm tĩnh đáp. “Phải là một người kỳ quặc lắm mới không vui lòng gọi Lavrans ở Jørundgaard là bạn mình. Này người anh em, nghe theo ông ấy sẽ có lợi cho anh hơn nghe theo Munan.”

“Munan đã đối đãi với tôi như một người anh từ chính ngày đầu tiên tôi rời nhà,” Erlend nói, hơi nóng nảy. “Mỗi khi tôi lâm cảnh khốn khó, ông ấy chưa bao giờ phụ tôi. Giờ ông ấy đang gặp khó khăn—.”

“Munan tự lo liệu được,” Erling Vidkunssøn vẫn bình thản nói. “Những bức thư ông ấy mang theo đều được viết và đóng ấn của vương quốc Na Uy—trái luật, nhưng đó đâu phải lỗi của ông ấy. Phải, còn chuyện khác nữa—văn kiện mà ông ấy đã cùng treo ấn của mình vào khi làm chứng cho lễ đính hôn của tiểu thư Eufemia—nhưng khó lòng phơi bày việc ấy mà không đụng tới một người chúng ta không—. Nói thật, Erlend—tôi tin Munan sẽ thoát được mà không cần anh nâng đỡ—nhưng anh có thể tự hại mình—.”

“Tôi hiểu rồi, các anh muốn hạ phu nhân Ingebjørg,” Erlend nói. “Tôi đã hứa với người bà con của chúng ta rằng sẽ phụng sự bà cả trong nước lẫn ngoài nước—.”

“Tôi cũng đã hứa như vậy,” Erling đáp. “Và tôi định giữ lời—hẳn mọi người Na Uy từng phụng sự và yêu kính chúa thượng cũng là người bà con của chúng ta, vua Haakon, đều sẽ làm thế. Và điều tốt nhất cho phu nhân lúc này là được tách khỏi những cố vấn đang xui khiến một người đàn bà còn quá trẻ làm những việc đem tai họa đến cho bà và con trai bà—.”

“Anh có tin,” Erlend hạ giọng hỏi, “các anh làm nổi _việc ấy_ không?”

“Có,” Erling Vidkunssøn quả quyết nói. “Tôi tin là có. Và hẳn tất cả những ai không chịu nghe những lời”—ông nhún vai—“ác ý—và bừa bãi—cũng đều tin như thế. Mà chúng ta, họ hàng của phu nhân, càng phải là những người cuối cùng chịu nghe thứ ấy.”

Một nữ tỳ nhấc nắp cửa trên sàn lên và hỏi liệu lúc này nữ chủ nhân có thể cho mang thức ăn vào đại sảnh hay chưa—.

Trong lúc mọi người ngồi vào bàn, câu chuyện hết lần này đến lần khác lại chạm tới những biến cố lớn đang ở ngay trước mắt. Kristin nhận thấy cả cha nàng lẫn ngài Erling đều ghìm lời; họ đem chuyện định tiền cưới và những cái chết, những cuộc tranh chấp gia tài và mua bán điền trang giữa họ hàng, người quen ra nói. Nàng đâm bất an mà hầu như chính mình cũng không biết vì sao. Họ có việc cần bàn với Erlend, điều ấy nàng hiểu. Và tuy không muốn tự thú nhận, giờ đây nàng đã biết chồng mình đủ rõ để hiểu rằng, bất chấp tính bướng bỉnh, Erlend có lẽ vẫn khá dễ bị xoay chuyển bởi kẻ nào biết dùng một bàn tay cứng rắn trong chiếc găng mềm, như người ta thường nói.

Sau bữa ăn, các vị khách chuyển lại gần bếp lửa, ngồi đó uống rượu. Kristin ngồi xuống ghế dài, đặt khung lên lòng và tiếp tục đan tấm lưới. Ngay sau đó Haftor Graut tới, đặt một chiếc nệm xuống sàn rồi ngồi bên chân bà chủ. Chàng đã tìm được cây đàn dây của Erlend, đặt nó lên đầu gối, vừa gảy từng tiếng vừa chuyện trò. Haftor còn rất trẻ, tóc vàng quăn, nét mặt đẹp vô cùng, nhưng tàn nhang nhiều quá mức. Kristin chẳng bao lâu đã nhận ra chàng cực kỳ bạo miệng. Chàng vừa cưới được một đám giàu sang, song lại chán cảnh ở nhà trên các điền trang của mình; vì thế chàng muốn tới dự đại hội triều thần.

“– Nhưng chắc Erlend Nikulaussøn thích ngồi nhà hơn,” chàng nói, rồi ngả đầu vào lòng nàng. Kristin hơi tránh ra, cười và nói rằng nàng chỉ biết chồng nàng có ý định đi về phương nam, “– còn vì việc gì thì tôi nào biết,” nàng nói với vẻ ngây thơ. “Đất nước thời buổi này lắm rối ren quá, một người đàn bà đơn sơ khó lòng hiểu nổi những chuyện ấy.”

“Ấy thế mà chính sự đơn sơ của một người đàn bà lại gây nên phần lớn mọi chuyện,” Haftor vừa cười đáp vừa xích theo nàng. “Erling và Lavrans Bjørgulfsøn nói thế đấy – tôi rất muốn biết họ ngụ ý gì. Bà nghĩ sao, bà chủ Kristin? Phu nhân Ingebjørg là một người đàn bà hiền lành, đơn sơ – có khi lúc này bà ấy cũng đang ngồi như bà, đan tơ bằng những ngón tay trắng như tuyết và nghĩ: thật nhẫn tâm nếu khước từ một chút giúp đỡ để vị thủ lĩnh trung thành của người chồng quá cố có thể cải thiện cảnh ngộ của mình–”

Erlend bước tới ngồi bên vợ, khiến Haftor phải nhích ra một chút.

“Đó là những chuyện nhảm các phu nhân bịa ra trong quán trọ, khi chồng họ ngu ngốc đến nỗi dẫn họ theo tới hội nghị–”

“Nơi tôi sinh trưởng người ta vẫn nói,” Haftor đáp, “không có lửa thì làm sao có khói–”

“Ở chỗ chúng tôi cũng có câu ấy,” Lavrans nói; ông và Erling đã bước lại gần. “Ấy vậy mà mùa đông vừa rồi ta bị mắc lừa đấy, Haftor – ta định châm đèn bằng một bãi phân ngựa tươi–” Ông ngồi lên mép bàn. Ngài Erling lập tức lấy chén của ông, nâng mời cùng một lời chúc, rồi vị hiệp sĩ ngồi xuống ghế dài gần ông.

“Khó lòng tin được, Haftor,” Erlend nói, “rằng các vị ở tận Hålogaland phương bắc lại biết phu nhân Ingebjørg cùng những người cố vấn của bà hiểu được bao nhiêu về mưu đồ và hành động của người Đan Mạch. Tôi không biết có phải các vị đã nhìn quá gần hay không, khi chống lại đòi hỏi viện trợ của nhà vua. Ngài Knut – phải, ta cứ gọi thẳng tên ông ấy, vì tất cả chúng ta đều đang nghĩ tới ông ấy – theo tôi thấy, không phải hạng người để kẻ khác bắt gặp đang ngủ gật trên cầu đậu. Các vị ngồi quá xa những nồi lớn nên không ngửi thấy thứ gì đang sôi trong ấy. Và tôi nói rằng phòng trước vẫn hơn chạy chữa sau–”

“Phải,” ngài Erling nói. “Gần như có thể bảo rằng họ đang nấu cho chúng ta ngay ở nhà hàng xóm – người Na Uy chúng ta sắp hóa thành phường gửi thân ăn nhờ; họ đưa qua cửa cho ta món cháo họ đã nấu ở Thụy Điển – muốn có cái ăn thì nuốt lấy! Theo tôi, đó là một sai lầm của đức vua Haakon – ngài đã dời nhà bếp ra tận rìa cánh đồng khi đặt Oslo làm đô thị buôn bán đứng đầu đất nước. Trước kia nó nằm giữa sân nhà, nếu cứ nói theo lối này – Bjørgvin hay Nidaros – nhưng ở đây giờ chỉ riêng tổng giám mục và giáo đoàn kinh sĩ nắm quyền – thế anh nghĩ sao, Erlend – anh là người Trøndelag, lại có toàn bộ sản nghiệp cùng thế lực ở miền Trondheim này–”

“Phải. Máu Chúa, Erling – vậy đó là điều các vị muốn sao, đem nồi về treo trên đúng bếp lửa của nó–”

“Phải,” Haftor nói. “Đã quá lâu rồi, chúng tôi ở miền bắc chỉ được ngửi mùi khê và húp rau cải nguội–”

Lavrans xen vào:

“Chuyện là thế này, Erlend – ta đã không nhận làm người thay mặt cho dân các làng quê nhà, nếu trong tay ta không có thư của người bà con là ngài Erngisle. Vì vậy ta biết rằng, trong số những người có quyền trị nước chính đáng, không một ai nghĩ tới chuyện phá bỏ hòa bình và thỏa ước giữa các nước, dù trong vương quốc của vua Đan Mạch hay của vua chúng ta.”

“Nếu cha biết ai đang nắm quyền ở Đan Mạch lúc này, thưa nhạc phụ, thì cha biết nhiều hơn phần đông thiên hạ đấy,” Erlend nói.

“Có một điều ta biết. Có _một_ người mà không ai muốn thấy nắm quyền, dù ở đây, ở Thụy Điển hay ở Đan Mạch. Đó là mục đích trong hành động của người Thụy Điển tại Skara mùa hè vừa rồi, và cũng là mục đích của cuộc hội họp chúng ta sắp tổ chức ở Oslo – làm cho tất cả những ai vẫn chưa hiểu phải hiểu rõ rằng, về chuyện này mọi người biết suy xét đều đồng lòng.”

Bấy giờ tất cả đều đã uống khá nhiều nên giọng nói trở nên ồn ào hơn – trừ Smid Gudleikssøn già nua đang gà gật trên ghế bên bếp lửa. Erlend lớn tiếng:

“Phải, các vị biết suy xét đến nỗi chính quỷ cũng không lừa nổi. Hẳn các vị sợ tay Knut Porse ấy. Các vị không hiểu sao, thưa các vị đáng kính, ông ta đâu phải hạng người có thể yên phận ngồi nhìn ngày tháng lững lờ trôi và cỏ mọc mặc ý Chúa. Tôi rất muốn gặp lại vị hiệp sĩ ấy; tôi từng quen ông ta khi ở Halland. Và tôi cũng chẳng phản đối nếu được ở vào địa vị của Knut Porse.”

“Tôi thì chẳng dám nói câu ấy nếu vợ tôi đang nghe,” Haftor Graut nói.

Nhưng lúc này Erling Vidkunssøn cũng đã uống đôi chút. Ông vẫn cố giữ vẻ nhã nhặn, song rốt cuộc không kìm nổi: “Anh!” ông nói rồi phá lên cười lớn, “anh ư, người bà con! – thôi nào, Erlend!” Ông vỗ vai Erlend và cứ cười mãi.

“Không đâu, Erlend,” Lavrans nói không chút dè dặt, “muốn thế cần nhiều hơn tài quyến rũ các phu nhân. Nếu Knut Porse chẳng có gì khác ngoài tài đóng vai cáo trong chuồng ngỗng, thì đám quyền quý Na Uy chúng ta hẳn phải lười biếng lắm mới chịu kéo nhau ra khỏi nhà để đập hắn một trận – cho dù con ngỗng ấy là mẹ của vua chúng ta. Nhưng dù ngài Knut có dụ được ai làm chuyện ngu xuẩn vì mình – bản thân ông ta không bao giờ làm chuyện điên rồ mà không có dụng ý. Ông ta có mục tiêu của mình, và cứ tin chắc đi, ông ta không hề rời mắt khỏi nó–”

Câu chuyện ngừng lại một lúc. Rồi Erlend nói – mắt chàng sáng lấp lánh:

“Vậy thì tôi chỉ ước ngài Knut là một người Na Uy!”

Những người kia ngồi im giây lát. Ngài Erling nhấp một ngụm trong chén rồi nói:

“Xin Chúa đừng để điều ấy xảy ra – nếu giữa chúng ta ở Na Uy có một người như thế, tôi e nền thái bình trong nước sẽ chóng đi tới một kết cục đột ngột.”

“Thái bình trong nước–!” Erlend nói giọng khinh miệt.

“Phải, thái bình trong nước,” Erling Vidkunssøn đáp. “Anh nên nhớ, Erlend – không phải chỉ riêng giới hiệp sĩ chúng ta gây dựng nên đất nước này. Có lẽ anh sẽ thấy thú vị nếu ở đây xuất hiện một kẻ ham phiêu lưu và đầy tham vọng như Knut Porse. Thuở trước, mỗi khi có người dựng cờ nổi loạn trong nước, kẻ ấy bao giờ cũng dễ dàng tìm được người đi theo trong hàng ngũ quyền quý. Hoặc họ thắng và nhận được tước hiệu cùng bổng lộc, hoặc họ hàng của họ thắng và họ được bảo đảm tính mạng cùng tài sản – phải, sử sách có ghi tên những kẻ mất mạng, nhưng phần đông đều thoát thân, dù sự việc ngả theo phía nào – cha ông _chúng ta_ là thế. Nhưng dân quê và dân thành thị, Erlend – những người lao động nhiều khi trong cùng một năm bị hai chủ nhân đòi nộp tô thuế, mà vẫn còn phải mừng mỗi khi một đoàn quân đi qua các làng mạc không đốt gia trang của họ và chém giết gia súc – đám dân thường từng phải chịu đựng gánh nặng và sự bạo ngược không sao kham nổi ấy – _họ_, tôi nghĩ, vẫn tạ ơn Chúa và Thánh Olav vì đức vua Haakon già, vua Magnus cùng các con của ngài đã củng cố luật pháp và giữ vững hòa bình–”

“Phải. Tôi tin ngay rằng anh tin như thế–” Erlend ngửa đầu ra sau. Lavrans ngồi nhìn người trẻ tuổi – giờ đây Erlend đã tỉnh táo hẳn. Lửa bừng trên gương mặt sẫm màu, dữ dội của chàng, cuống họng gồng lên thành một đường cong trên chiếc cổ nâu thon. Rồi ông nhìn sang con gái. Kristin đã để công việc rơi xuống và đang chăm chú theo dõi cuộc chuyện trò của các ông.

“Anh chắc đến thế sao rằng dân cày và thường dân đều nghĩ vậy và ca tụng trật tự mới? Đúng là ngày trước nhiều khi họ phải sống qua những thời kỳ khắc nghiệt – khi các vua và phản vương kéo chiến tranh tàn phá khắp đất nước. Tôi biết họ vẫn còn nhớ thời phải dắt gia súc, đưa vợ con trốn lên núi, trong khi gia trang của họ dưới thung lũng chìm trong lửa. Tôi đã nghe họ kể chuyện ấy. Nhưng tôi biết họ còn nhớ một điều nữa – chính cha ông họ từng ở trong những đoàn quân ấy; không phải chỉ riêng chúng ta đánh cược để giành quyền lực, Erling, con trai dân cày cũng dự cuộc – và có khi họ giành được đất tổ truyền của chúng ta. Chẳng phải trong thời luật pháp ngự trị mà một đứa con của gái điếm ở Skidan, đến tên cha mình cũng không biết, lại lấy được góa phụ của một đại thần giữ đất cùng sản nghiệp của bà, như Reidar Darre đã làm – vậy mà hậu duệ của hắn lại đủ danh giá để cưới con gái ông, Lavrans, còn bây giờ hắn đã lấy cháu gọi phu nhân nhà anh bằng cô, Erling! Nay luật pháp và công lý ngự trị – tôi không biết việc ấy xảy ra bằng cách nào, nhưng tôi biết đất đai của dân cày đang rơi vào tay chúng ta, và việc ấy diễn ra đúng theo luật – công lý càng ngự trị, họ càng mau mất đi quyền lực và quyền định đoạt việc nước cũng như việc nhà mình. Và điều đó, Erling, đám dân quê cũng biết! Ôi, các vị đừng quá tin chắc rằng dân thường không mong trở lại cái thời họ có thể mất gia trang vì lửa và bạo lực – nhưng bằng vũ khí họ cũng có thể giành được nhiều hơn những gì có thể giành bằng pháp luật–”

Lavrans gật đầu.

“Quả có thế, Erlend cũng có phần đúng trong chuyện này,” ông khẽ nói.

Nhưng Erling Vidkunssøn đứng dậy:

“Tôi tin ngay rằng dân thường nhớ rõ hơn số ít những người từ cảnh thấp hèn vươn lên làm chủ trong thời gươm giáo, chứ không nhớ vô số người đã chìm trong cảnh nghèo đói đen tối và khốn cùng. Ấy vậy mà chẳng ai làm chủ hà khắc với dân nghèo hơn chính những người ấy – tôi nghĩ câu họ hàng là kẻ tệ bạc nhất của họ hàng vốn được đặt ra trước hết để nói về họ. Một người phải sinh ra để làm chủ, nếu không y sẽ thành một ông chủ hà khắc – nhưng nếu từ nhỏ đã lớn lên giữa tôi trai tớ gái, y sẽ dễ hiểu hơn nhiều rằng không có dân nghèo thì chúng ta về nhiều mặt suốt đời bất lực như trẻ nhỏ, và rằng vì Chúa cũng như vì chính mình, chúng ta phải đáp lại bằng cách lấy hiểu biết mà phụng sự họ, lấy võ lực của bậc hiệp sĩ mà che chở cho họ. Chưa từng có một vương quốc nào đứng vững được nếu thiếu những người quyền quý có năng lực và ý chí dùng thế lực của mình bảo vệ quyền lợi của kẻ thấp hèn hơn–”

“Anh có thể thi giảng với anh trai tôi đấy, Erling,” Erlend cười nói. “Nhưng tôi cho rằng dân miền ngoài Trøndelag ưa đám quyền quý chúng ta hơn vào thuở trước, khi chúng ta dẫn con trai họ đi chinh chiến, để máu mình hòa cùng máu họ chảy trên những tấm ván sàn, chặt rời những vòng vàng và chia chiến lợi phẩm với các gia nhân cầm vũ khí của mình. – Phải, em nghe đấy, Kristin, đôi khi anh vẫn ngủ mà mở một tai, lúc cha Eiliv đọc những cuốn sách lớn.”

“Của cải chiếm được bằng điều bất chính không truyền tới người thừa kế thứ ba,” Lavrans Bjørgulfssøn nói. “Con chưa nghe câu ấy sao, Erlend?”

“Dĩ nhiên con đã nghe!” Erlend cười lớn. “Nhưng con chưa từng thấy–”

Erling Vidkunssøn nói:

“Chuyện là thế này, Erlend: chỉ ít người sinh ra để làm chủ, nhưng tất cả đều sinh ra để phụng sự; quyền làm chủ chân chính là làm người phục vụ cho những kẻ phục vụ mình–”

Erlend đan hai tay sau gáy, vươn người ra, mỉm cười:

“Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều ấy. Và tôi cũng chẳng tin các tá điền của mình phải cảm ơn tôi vì đã phụng sự họ điều gì. Ấy vậy mà, lạ thay, tôi nghĩ họ vẫn ưa tôi–” Chàng âu yếm cọ má vào con mèo đen nhỏ của Kristin; nó đã nhảy lên vai chàng, giờ vừa gừ gừ, lưng cong vồng, vừa đi vòng quanh cổ chàng. “Nhưng vợ tôi đây – nàng là bà chủ tận tụy nhất – dẫu các vị chẳng có lý do gì để tin thế – bởi bình và cốc đều cạn cả rồi, Kristin của anh!”

Orm, từ nãy vẫn ngồi im lặng theo dõi cuộc chuyện trò của các ông, lập tức đứng lên đi ra.

“Bà chủ chán đến mức ngủ gật rồi,” Haftor mỉm cười nói, “mà lỗi là tại các vị – các vị nên để tôi yên ổn trò chuyện với bà ấy, vì tôi mới là người biết cách nói chuyện với các phu nhân–”

“Phải, cuộc chuyện trò này hẳn đã kéo dài quá lâu đối với bà, thưa bà chủ,” ngài Erling mở lời xin lỗi, nhưng Kristin mỉm cười đáp:

“Thưa ngài, quả là tôi không hiểu hết những gì mọi người nói ở đây tối nay, nhưng tôi sẽ ghi nhớ, rồi sau này tôi còn nhiều lúc rảnh rang để ngẫm nghĩ–”

Orm trở lại cùng mấy tỳ nữ mang thêm rượu vào. Cậu bé đi quanh rót rượu. Lavrans buồn bã nhìn đứa trẻ xinh đẹp. Ông đã thử gợi chuyện với Orm Erlendssøn, nhưng cậu bé kiệm lời, mặc dù dáng vẻ thanh nhã và lễ độ.

Một tỳ nữ thì thầm với Kristin rằng Naakkve đã thức dưới gian phòng nhỏ và đang gào khóc dữ dội. Bà chủ liền chúc mọi người ngủ ngon rồi đi theo khi các nữ tỳ ra ngoài.

Những người đàn ông lại bắt đầu uống. Ngài Erling và Lavrans thỉnh thoảng trao đổi ánh mắt, rồi người thứ nhất nói:

“Có một việc, Erlend, tôi định nói với anh. Hẳn sẽ có lệnh huy động chiến thuyền từ vùng đất quanh vịnh này và từ Møre – người phương bắc lo rằng mùa hè tới quân Nga sẽ trở lại hùng hậu hơn, khiến họ không đủ sức một mình phòng giữ đất nước. Đấy là món lợi đầu tiên ta có thể cảm tạ việc chung vua với Thụy Điển – và quả không công bằng nếu dân Hålogaland phải hưởng món lợi ấy một mình. Giờ Arne Gjavvaldssøn đã quá già yếu bệnh tật – bởi vậy người ta đã bàn tới chuyện đặt anh làm người chỉ huy đội chiến thuyền dân binh ở phía vịnh này. Anh thấy thế nào–”

Erlend đập hai bàn tay vào nhau – cả gương mặt chàng rạng ngời:

“Tôi thấy thế nào ư–!”

“Có lẽ khó mà huy động được một lực lượng lớn,” Erling nói, hạ giọng để ghìm bớt sự phấn khích của chàng. “Nhưng trước hết anh sẽ phải đi khắp nơi dò xét tình hình với các quan trấn–. Giờ anh đã được biết tiếng trong nước – các vị trong hội đồng đã bàn với nhau rằng có lẽ anh chính là người đủ sức làm nên việc trong chuyện này. Vẫn còn những người nhớ rằng anh đã giành được danh tiếng không nhỏ khi phụ trách phòng thủ dưới quyền bá tước Jacob – chính tôi còn nhớ đã nghe ông ấy nói với vua Haakon rằng nhà vua đã hành động thiếu khôn ngoan khi đối xử quá khắc nghiệt với một chàng trai tài năng; ông ấy bảo anh vốn được định sẵn để trở thành chỗ dựa cho vua mình–”

Erlend búng ngón tay:

«Chẳng lẽ anh sắp trở thành vua của chúng ta đấy chứ, Erling Vidkunssøn! Các người đang mưu tính chuyện ấy sao,» chàng hỏi, cười vang, «đưa Erling lên làm vua?»

Erling sốt ruột nói:

«Không, Erlend, anh không hiểu sao, vừa rồi tôi nói nghiêm túc đấy—»

«Lạy Chúa cứu con—vậy lúc nãy anh nói đùa sao? Tôi cứ tưởng suốt cả tối nay anh đều nói chuyện nghiêm túc—thôi được, vậy ta nói nghiêm túc đi—hãy kể hết cho tôi nghe về việc này, người anh em—.»

Kristin đang ngủ, đứa bé nằm bên vú nàng, khi Erlend xuống gian phòng nhỏ. Chàng châm một thanh gỗ thông nhựa vào than hồng trong bếp giữa nhà, soi hai mẹ con hồi lâu.

Nàng đẹp biết bao—và con trai họ cũng là một đứa trẻ xinh đẹp. Dạo này tối nào Kristin cũng buồn ngủ như thế—vừa nằm xuống và ôm thằng bé vào lòng là cả hai mẹ con đều ngủ. Erlend khẽ cười, ném thanh đóm trở lại bếp. Chàng chậm rãi cởi áo quần.

Mùa xuân sẽ đi về phương bắc, với Margygren và ba hay bốn chiến thuyền trưng tập. Haftor Graut đem theo ba chiến thuyền miền Hålogaland—nhưng Haftor không có kinh nghiệm, chàng thừa sức khiến ông ta nghe theo mình; phải, chàng hiểu rằng ở đó chính chàng sẽ được quyền quyết định. Gã Haftor ấy xem ra cũng chẳng nhút nhát hay nhu nhược. Erlend duỗi mình và mỉm cười trong bóng tối. Chàng từng định tuyển thủy thủ cho Margygren ở ngoài Møre. Nhưng cả vùng này lẫn Birgsi đều đầy những trai tráng gan dạ, khỏe mạnh—chàng có thể chọn được một toán người tuyệt hảo—.

Chàng kết hôn mới chỉ hơn một năm. Sinh nở, đền tội và ăn chay, rồi bây giờ thằng bé là đầu tiên mà cũng là sau hết, cả ngày lẫn đêm. Tuy vậy—nàng vẫn là Kristin trẻ trung, ngọt ngào thuở nào—mỗi khi chàng khiến nàng quên đi những lời lẽ của linh mục cùng đứa con bú tham lam ấy trong chốc lát—.

Chàng hôn lên vai nàng, nhưng nàng không hay biết. Tội nghiệp, cứ để nàng ngủ—đêm nay chàng có biết bao điều phải suy nghĩ. Erlend quay lưng lại với nàng, nằm nhìn ra gian phòng, về phía đốm than nhỏ còn đỏ trong bếp. Phải, đáng lẽ chàng nên dậy phủ tro lên—nhưng chàng chẳng buồn—.

Từng mảnh, từng quãng ký ức thời trai trẻ ập về. Một mũi thuyền rung lên, khựng lại trong khoảnh khắc trước ngọn sóng biển đang xô tới—nước tràn vào khoang. Tiếng bão và biển gầm vang dữ dội. Cả con thuyền oằn mình dưới sức ép của sóng, ngọn cột buồm vạch một vòng cung cuồng loạn trên nền mây chạy. Ấy là ở đâu đó ngoài khơi bờ biển Halland—. Choáng ngợp, Erlend cảm thấy nước mắt dâng đầy mắt mình. Chính chàng cũng không biết những năm tháng vô dụng này đã giày vò mình đến thế nào.

Sáng hôm sau, Lavrans Bjørgulfssøn và ngài Erling Vidkunssøn đứng trên đầu sân, ngắm mấy con ngựa của Erlend đang chạy rông bên ngoài hàng rào.

«—Theo tôi,» Lavrans nói, «nếu Erlend dự cuộc hội nghị này, thì với địa vị và dòng dõi của nó—vì nó là họ hàng của cả nhà vua lẫn mẫu thân ngài—nó phải bước vào hàng ngũ những người đứng đầu. Nhưng tôi không biết, ngài Erling, liệu ngài có thể tin chắc rằng cách nó phán đoán những việc này sẽ không đưa nó sang phía khác hay chăng. Nếu Ivar Ogmundssøn định tìm cách đối phó—Erlend cũng có quan hệ rất chặt chẽ với những người sẽ theo ngài Ivar—»

«Tôi không tin ngài Ivar sẽ làm gì,» Erling Vidkunssøn nói. «Còn Munan—» ông hơi bĩu môi, «ông ta khôn ngoan đến mức sẽ tránh xa—ông ta biết rằng bằng không, mọi người rất dễ nhận rõ Munan Baardssøn đáng giá bao nhiêu, hay chẳng đáng là bao.» Cả hai cùng cười. «Chuyện là thế này—vâng, hẳn ngài còn biết rõ hơn tôi, Lavrans Lagmanssøn, vì ngài có họ hàng thân tộc ở trong ấy: các lãnh chúa Thụy Điển không muốn coi hàng hiệp sĩ của chúng ta ngang hàng với họ. Bởi thế chúng ta không thể thiếu bất cứ ai trong số những người giàu có và cao quý nhất—chúng ta đâu thể cho phép một người như Erlend ngồi nhà, đùa vui với vợ và coi sóc các điền trang của mình—dù nó coi sóc ra sao đi nữa,» ông nói thêm khi thấy vẻ mặt Lavrans.

Lavrans thoáng mỉm cười.

«Nhưng nếu ngài cho rằng ép Erlend tham dự là thiếu khôn ngoan, tôi sẽ không làm thế.»

«Thưa ngài,» Lavrans nói, «tôi nghĩ Erlend có thể giúp ích nhiều hơn ở các vùng này. Như chính ngài đã nói—có thể đoán rằng việc trưng tập ấy sẽ gặp sự chống đối tại những vùng phía nam Namdalseid—nơi dân chúng cho rằng họ chẳng có gì phải sợ người Nga. Có lẽ Erlend đủ sức khiến người ta thay đổi ít nhiều cách nhìn về những chuyện ấy—»

«Cái miệng hắn buông tuồng đến đáng nguyền rủa,» ngài Erling buột miệng.

Lavrans mỉm cười đáp:

«Có lẽ đó chính là lối nói mà nhiều người sẽ hiểu rõ hơn lời lẽ của—những người sáng suốt hơn—» họ lại nhìn nhau, và cả hai cùng cười. «Dù sao đi nữa—nó có thể gây hại nhiều hơn nếu đến hội nghị rồi ăn nói quá lớn giọng—»

«Phải, nếu ngay cả ngài cũng không ghìm nổi hắn—»

«Dẫu sao tôi cũng không thể ghìm nó được lâu hơn lúc nó gặp những con chim cùng đàn mà nó vẫn quen bay chung—con rể tôi và tôi khác nhau quá xa.»

Erlend bước đến chỗ họ:

«Thánh lễ có ích cho hai người đến nỗi chẳng cần ăn bữa sáng nữa sao?»

«Tôi chưa nghe ai nói gì đến bữa sáng—bụng đã lép như bụng sói—lại còn khát nữa—» Lavrans vuốt ve một con ngựa trắng cáu bẩn mà ông vẫn đứng xem xét bằng tay. «Con rể, cái gã chăm đàn ngựa kéo của anh ấy, nếu là _người của tôi_, tôi đã đuổi hắn khỏi điền trang trước khi ngồi vào bàn ăn rồi.»

«Tôi không dám, vì Kristin,» Erlend nói. «Hắn đã làm một thị nữ của nàng có thai—»

«Ở vùng này các người coi đó là một chiến công lớn đến thế sao,» Lavrans nói, hơi nhướng mày, «đến nỗi vì vậy mà thấy hắn là kẻ không thể thiếu—»

«Không, nhưng cha hiểu đấy,» Erlend cười nói, «Kristin và vị linh mục muốn họ cưới nhau—lại muốn tôi thu xếp cho gã một kế sinh nhai đủ để nuôi cô ta. Cô gái không muốn, người có quyền gả cô ta cũng không muốn, mà Tore thì cũng chẳng thiết tha gì—nhưng tôi không được phép đuổi hắn đi; nàng sợ lúc ấy hắn sẽ trốn khỏi vùng. Mà hiện giờ, hễ Ulf Haldorssøn có nhà thì gã cũng còn có Ulf trông coi—»

Erling Vidkunssøn đi về phía Smid Gudleikssøn; Lavrans nói với con rể:

«Mấy ngày nay ta thấy Kristin hơi xanh xao—»

«Phải,» Erlend sốt sắng nói. «Cha thử nói với nàng đi—thằng bé này bú đến cạn cả tủy trong người nàng. Tôi e nàng sẽ cho nó bú đến tận mùa Chay thứ ba, như một mụ vợ tá điền nào đó—»

«Phải, nó thương con trai mình lắm,» Lavrans nói và khẽ mỉm cười.

«Phải.» Erlend lắc đầu. «Nàng và cha Eiliv ngồi với nhau suốt ba giờ—nói chuyện chỗ này chỗ kia trên người nó hóa đỏ, rồi mỗi lần nó mọc một chiếc răng, họ lại tưởng trong nhà vừa xảy ra một điềm lạ lớn. Tôi xưa nay chỉ biết trẻ con vẫn thường mọc răng, và nếu Naakkve nhà ta chẳng mọc chiếc nào thì mới đáng ngạc nhiên hơn—»