Người có của — Chương 10: Ngôi nhà thành hình

Chương 11 / 33 · Bài review Người có của

Mùa đông vừa qua khá ôn hòa. Công việc trong ngành xây dựng đình trệ; và như Soames đã cân nhắc trước khi quyết định, đó là thời điểm thuận lợi để xây nhà. Bởi vậy, phần thô của ngôi nhà ở Robin Hill đã hoàn tất vào cuối tháng Tư.

Giờ đã có thứ đáng đồng tiền để ngắm, mỗi tuần anh xuống đó một, hai, thậm chí ba lần, hàng giờ lục lọi giữa đống ngổn ngang, cẩn thận không bao giờ làm bẩn quần áo, lặng lẽ đi qua những khung cửa xây gạch chưa hoàn thiện hoặc vòng quanh các cột trụ trong sân giữa.

Và anh cứ đứng trước chúng hàng mấy phút liền, như thể đang nhìn xuyên vào phẩm chất đích thực trong vật liệu của chúng.

Ngày 30 tháng Tư, anh hẹn Bosinney để kiểm lại sổ sách; năm phút trước giờ quy định, anh bước vào chiếc lều vị kiến trúc sư dựng cho mình cạnh cây sồi già.

Sổ sách đã được chuẩn bị sẵn trên chiếc bàn gấp; Soames gật đầu, ngồi xuống xem xét. Một lúc lâu sau anh mới ngẩng đầu.

“Tôi không hiểu nổi,” cuối cùng anh nói; “tổng cộng gần bảy trăm bảng hơn mức đáng ra phải có.”

Liếc gương mặt Bosinney một cái, anh vội nói tiếp:

“Chỉ cần anh cứng rắn với đám thợ xây này là sẽ ép giá họ xuống được. Anh không tinh mắt thì cái gì họ cũng tính vào.... Cứ giảm đồng loạt mười phần trăm. Vượt dự toán độ một trăm gì đó thì tôi không phiền đâu!”

Bosinney lắc đầu:

“Tôi đã cắt từng xu có thể cắt rồi!”

Soames giận dữ đẩy bật chiếc bàn ra sau, làm những tờ sổ sách bay lả tả xuống đất.

“Vậy tôi chỉ có thể nói,” anh cuống quýt thốt ra, “anh đã làm thành một mớ hỗn độn đẹp mặt!”

“Tôi đã nói với anh cả chục lần,” Bosinney gay gắt đáp, “rằng sẽ có các khoản phát sinh. Tôi đã chỉ cho anh hết lần này tới lần khác!”

“Tôi biết,” Soames gầm gừ: “Đây đó thêm một tờ mười bảng thì tôi đâu phản đối. Làm sao tôi biết ‘khoản phát sinh’ của anh có nghĩa là bảy trăm bảng?”

Phẩm chất của cả hai người đều góp phần tạo nên khoản chênh lệch không hề nhỏ này. Một bên, lòng tận tụy của vị kiến trúc sư với ý tưởng của mình, với hình ảnh ngôi nhà do chàng tạo ra và tin tưởng, khiến chàng lo bị ngăn lại hay buộc phải dùng những thứ chắp vá; bên kia, lòng tận tụy không kém phần chân thành và trọn vẹn của Soames với món hàng tốt nhất có thể mua được bằng số tiền bỏ ra, khiến anh không muốn tin rằng thứ đáng giá mười ba shilling lại không thể mua với mười hai.

“Tôi ước gì chưa bao giờ nhận xây nhà cho anh,” Bosinney đột ngột nói. “Anh cứ xuống đây hành tôi đến không sống nổi. Anh muốn đồng tiền của mình mua được giá trị gấp đôi bất kỳ ai khác; giờ đã có một ngôi nhà mà xét theo quy mô, cả hạt này không đâu sánh được, anh lại không muốn trả tiền. Nếu anh nóng lòng muốn rút khỏi giao kèo, có lẽ tôi có thể tự xoay khoản vượt dự toán, nhưng tôi thề sẽ không làm thêm cho anh một nét nào nữa!”

Soames lấy lại bình tĩnh. Biết Bosinney không có vốn, anh coi đây là một đề nghị ngông cuồng. Anh cũng thấy mình sẽ bị giữ ngoài ngôi nhà hằng khao khát vô thời hạn, lại đúng vào thời điểm quyết định, khi sự chăm nom đích thân của kiến trúc sư tạo nên mọi khác biệt. Trong lúc ấy còn phải nghĩ tới Irene! Dạo gần đây nàng rất khác thường. Anh thực lòng tin rằng chỉ vì đã có cảm tình với Bosinney nên nàng mới chịu đựng được ý tưởng về ngôi nhà. Không thể để xảy ra một cuộc đoạn tuyệt công khai với nàng.

“Anh không cần nổi khùng,” anh nói. “Nếu tôi sẵn lòng chịu chuyện ấy thì chắc anh cũng chẳng cần la lối. Ý tôi chỉ là khi anh bảo một thứ sẽ tốn chừng ấy, tôi muốn—nói cho cùng, tôi—muốn biết mình đang đứng ở đâu.”

“Nghe này!” Bosinney nói, và Soames vừa bực vừa ngạc nhiên trước vẻ sắc sảo trong ánh mắt chàng. “Anh mua công sức của tôi rẻ như cho. Với loại công việc tôi đã bỏ vào ngôi nhà này và lượng thời gian tôi dành cho nó, anh sẽ phải trả Littlemaster hay một gã ngốc nào khác gấp bốn lần. Thực chất, anh muốn một người hạng nhất với khoản thù lao hạng tư, và đó chính xác là thứ anh đã có!”

Soames thấy chàng thực sự nói đúng điều mình nghĩ; tuy giận, hậu quả của một trận cãi vã vẫn hiện ra trước mắt anh quá rõ. Anh thấy ngôi nhà dang dở, vợ mình phản kháng, còn bản thân thành trò cười.

“Ta đi xem một lượt,” anh sầm sì nói, “để coi tiền đã chảy vào đâu.”

“Được thôi,” Bosinney đồng ý. “Nhưng nếu anh không phiền thì ta làm nhanh lên. Tôi phải về kịp giờ đưa June tới nhà hát.”

Soames lén nhìn chàng rồi nói: “Chắc anh sẽ tới chỗ chúng tôi gặp cô ấy?” Lúc nào chàng cũng tới chỗ họ!

Đêm trước trời có mưa—một trận mưa xuân, và đất tỏa mùi nhựa cây cùng cỏ dại. Làn gió ấm áp, dịu mềm lay những chiếc lá và chồi vàng trên cây sồi già; dưới ánh nắng, lũ sáo đen huýt vang như trút cả lòng mình.

Ấy là một ngày xuân gieo vào lòng người niềm khao khát không thể gọi tên, một vị ngọt đau đớn, một nỗi mong mỏi khiến người ta đứng bất động nhìn lá cây hay ngọn cỏ rồi dang hai tay muốn ôm lấy một điều chính mình không biết. Mặt đất tỏa hơi ấm ngây ngất, lén dâng qua tấm áo lạnh giá mùa đông đã quấn quanh nàng. Đó là cái vuốt ve mời gọi kéo dài của nàng, muốn kéo con người xuống nằm trong vòng tay, lăn mình trên thân thể nàng và áp môi vào ngực nàng.

Chính vào một ngày như thế này, Soames đã nhận được từ Irene lời hứa mà anh bao lần cầu xin nàng. Ngồi trên thân cây đổ, lần thứ hai mươi anh đã hứa rằng nếu cuộc hôn nhân của họ không hạnh phúc, nàng sẽ được tự do như thể chưa từng cưới anh!

“Anh thề chứ?” nàng đã hỏi. Mấy hôm trước nàng nhắc anh nhớ lời thề ấy. Anh đáp: “Vớ vẩn! Tôi không thể nào thề một chuyện như thế!” Do một sự trớ trêu vụng về của số phận, giờ anh lại nhớ ra. Đàn ông sẽ thề những chuyện kỳ quặc biết bao vì đàn bà! Khi ấy anh sẵn sàng thề bất cứ lúc nào để giành được nàng! Giờ anh cũng sẽ thề, nếu nhờ thế có thể chạm vào nàng—nhưng chẳng ai có thể chạm tới nàng; nàng là kẻ lạnh lùng!

Và ký ức ùa về cùng hương vị tươi mới, ngọt lành của gió xuân—những ký ức về thời anh theo đuổi nàng.

Mùa xuân năm 1881, anh tới thăm bạn học cũ kiêm thân chủ George Liversedge ở Branksome, người đã giao cho Soames việc thành lập công ty cần thiết cho kế hoạch phát triển những khu rừng thông của mình quanh Bournemouth. Với ý thức sâu sắc về điều gì là thích hợp, bà Liversedge tổ chức một buổi trà nhạc để vinh danh anh. Về sau trong buổi hội ấy—mà Soames, một kẻ không hiểu nhạc, coi là nỗi nhàm chán không chút cứu vãn—mắt anh bị hút vào gương mặt một cô gái mặc đồ tang đang đứng một mình. Những đường nét trên thân hình cao, khi ấy vẫn còn khá mảnh của cô hiện qua lớp vải mỏng nhẹ ôm sát của chiếc váy đen; hai bàn tay đeo găng đen bắt chéo trước người, môi hơi hé, đôi mắt đen lớn lang thang từ gương mặt này sang gương mặt khác. Mái tóc búi thấp sau gáy dường như rực sáng trên cổ áo đen như những vòng kim loại bóng loáng. Và khi Soames đứng nhìn cô, cảm giác phần lớn đàn ông từng một lần nếm trải lặng lẽ len vào anh—một sự thỏa mãn đặc biệt của giác quan, một niềm chắc chắn lạ lùng mà các tiểu thuyết gia cùng những bà lão gọi là tình yêu sét đánh. Vẫn kín đáo dõi theo cô, anh lập tức tiến về phía bà chủ nhà và lì lợm đứng chờ cho bản nhạc kết thúc.

“Cô gái tóc vàng, mắt đen ấy là ai?” anh hỏi.

“Cô ấy—ồ! Irene Heron. Cha cô ấy, Giáo sư Heron, mất năm nay. Cô ấy sống với mẹ kế. Một cô gái dễ mến, xinh đẹp, nhưng không có tiền!”

“Xin bà giới thiệu tôi,” Soames nói.

Anh chẳng tìm ra được mấy lời để nói, mà với số lời ít ỏi ấy, cô cũng không tỏ ra hưởng ứng. Nhưng anh ra về với quyết tâm gặp lại cô. Tình cờ giúp anh đạt mục đích: anh gặp cô trên cầu tàu cùng người mẹ kế có thói quen đi dạo ở đó từ mười hai giờ tới một giờ mỗi buổi trưa. Soames mau mắn làm quen với người đàn bà này và không lâu sau đã nhận ra ở bà đồng minh mình tìm kiếm. Khứu giác nhạy bén đối với mặt thương mại của đời sống gia đình chẳng bao lâu cho anh biết Irene khiến mẹ kế tốn nhiều hơn năm mươi bảng một năm mà cô mang lại; nó cũng cho anh biết bà Heron, một phụ nữ vẫn ở độ sung mãn của đời mình, mong muốn tái giá. Vẻ đẹp lạ lùng đang chín dần của cô con gái riêng cản đường kết cục đáng ao ước ấy. Và với sự bền bỉ kín đáo, Soames bày kế hoạch.

Anh rời Bournemouth mà chưa để lộ ý định, nhưng một tháng sau quay lại; lần này anh nói không phải với cô gái mà với mẹ kế của cô. Anh đã quyết rồi, anh bảo; phải chờ bao lâu anh cũng chờ. Và anh quả đã phải chờ lâu, nhìn Irene nở rộ, những đường nét trên thân hình trẻ trung mềm lại, dòng máu mạnh mẽ hơn làm ánh mắt cô thêm thẳm sáng, sưởi gương mặt cô thành sắc kem ấm áp; mỗi lần đến thăm, anh lại cầu hôn, và khi chuyến thăm kết thúc, mang lời từ chối của cô về London, lòng đau đớn nhưng kiên định, lặng im như nấm mồ. Anh cố tìm tới những nguồn bí mật của sự chống cự ấy; chỉ một lần anh bắt được một tia sáng. Đó là tại một trong những dạ vũ hội họp, lối thoát duy nhất cho đam mê của dân cư những thị trấn nghỉ dưỡng ven biển. Anh ngồi cùng cô trong hốc cửa sổ, mọi giác quan râm ran vì sự tiếp xúc trong điệu waltz. Cô nhìn anh qua chiếc quạt chầm chậm lay; và anh mất tự chủ. Chộp lấy cổ tay đang cử động ấy, anh áp môi lên da cánh tay cô. Cô rùng mình—đến hôm nay anh vẫn chưa quên cái rùng mình ấy—cũng như ánh mắt căm ghét nồng nàn cô ném về phía anh.

Một năm sau, cô nhượng bộ. Điều gì khiến cô nhượng bộ, anh không bao giờ hiểu nổi; từ bà Heron, một phụ nữ có chút tài ngoại giao, anh chẳng tìm được gì. Có lần sau khi kết hôn, anh hỏi nàng: “Điều gì khiến em từ chối tôi nhiều lần đến thế?” Nàng đáp bằng một sự im lặng kỳ lạ. Là câu đố đối với anh từ ngày đầu trông thấy nàng, đến giờ nàng vẫn là câu đố....

Bosinney đang đợi anh ở cửa; trên gương mặt thô nhám, tuấn tú của chàng là một vẻ kỳ lạ, khát khao mà hạnh phúc, như thể chàng cũng nhìn thấy lời hứa về niềm hoan lạc trên trời xuân, ngửi thấy hạnh phúc đang tới trong khí xuân. Soames nhìn chàng đứng đợi. Gã này làm sao mà trông hạnh phúc thế? Với nụ cười trên môi và trong mắt kia, chàng đang chờ điều gì? Soames không thể nhìn thấy điều Bosinney đợi chờ khi đứng đó uống lấy làn gió thơm hương hoa. Một lần nữa, anh cảm thấy bối rối trước mặt người đàn ông mà theo thói quen anh khinh miệt. Anh bước vội vào nhà.

“Màu duy nhất hợp với loại ngói ấy,” anh nghe Bosinney nói, “là đỏ hồng ngọc pha một sắc xám trong chất liệu để tạo hiệu ứng trong suốt. Tôi muốn biết ý kiến Irene. Tôi đang đặt rèm da màu tía cho lối vào sân này; còn nếu anh quét phòng khách màu kem ngà trên nền giấy, anh sẽ có một vẻ hư ảo. Xuyên suốt phần trang trí, anh phải nhắm tới thứ tôi gọi là duyên.”

Soames nói: “Ý anh là vợ tôi có duyên!”

Bosinney lảng câu hỏi.

“Anh nên trồng một khóm diên vĩ giữa sân kia.”

Soames mỉm cười khinh khỉnh.

“Lúc nào đó tôi sẽ ghé Beech’s,” anh nói, “xem thứ gì thích hợp!”

Họ chẳng tìm được thêm mấy lời để nói với nhau, nhưng trên đường tới ga, Soames hỏi:

“Chắc anh thấy Irene rất có khiếu nghệ thuật.”

“Phải.” Câu trả lời cộc lốc là một sự hắt hủi rõ ràng chẳng khác nào nói: “Nếu anh muốn bàn về cô ấy thì tìm người khác mà bàn!”

Cơn giận chậm rãi, sầm sì mà Soames cảm thấy suốt buổi chiều bùng cháy sáng hơn trong lòng anh.

Không ai nói thêm cho tới khi đã gần ga, lúc ấy Soames hỏi:

“Bao giờ anh dự tính hoàn thành?”

“Cuối tháng Sáu, nếu anh thực sự muốn tôi làm luôn phần trang trí.”

Soames gật đầu. “Nhưng anh hiểu rõ,” anh nói, “ngôi nhà đang khiến tôi tốn nhiều hơn dự kiến rất nhiều. Tôi cũng xin nói thẳng, lẽ ra tôi đã bỏ dở nó rồi, chỉ có điều tôi không quen từ bỏ thứ mình đã quyết phải làm.”

Bosinney không đáp. Soames nghiêng mắt nhìn chàng với vẻ căm ghét lì lợm—bởi bất chấp dáng vẻ khó tính và sự lặng thinh khinh khỉnh, đỏm dáng kia, Soames, với đôi môi mím và chiếc cằm vuông, cũng không khác một con chó bò tót là bao....

Bảy giờ tối hôm ấy, khi June tới số 62 Quảng trường Montpellier, cô hầu Bilson báo với nàng rằng ông Bosinney đang ở phòng khách; bà chủ—cô nói—đang thay đồ và sẽ xuống ngay. Cô sẽ lên báo cô June đã tới.

June lập tức ngăn cô lại.

“Được rồi, Bilson,” nàng nói, “tôi cứ vào thôi. Cô không cần giục bà Soames.”

Nàng cởi áo choàng, còn Bilson, với vẻ hiểu ý, thậm chí không mở cửa phòng khách giúp nàng mà chạy xuống cầu thang.

June dừng lại giây lát để nhìn mình trong chiếc gương bạc nhỏ kiểu cổ phía trên rương gỗ sồi đựng thảm—một dáng người trẻ mảnh mai, kiêu hãnh, với gương mặt nhỏ nhắn cương nghị, mặc chiếc váy trắng khoét hình trăng khuyết dưới chân chiếc cổ quá thanh mảnh so với vương miện tóc vàng hung xoắn cao.

Nàng khẽ mở cửa phòng khách, định làm chàng bất ngờ. Căn phòng tràn ngập hương đỗ quyên nở hoa, ngọt ngào và ấm nóng.

Nàng hít một hơi dài mùi hương và nghe giọng Bosinney, không phải trong phòng mà ở rất gần, đang nói:

“Ôi! Tôi có bao nhiêu chuyện muốn bàn, vậy mà giờ chúng ta sẽ chẳng còn thời gian!”

Giọng Irene đáp: “Sao không nói trong bữa tối?”

“Làm sao nói chuyện được....”

Ý nghĩ đầu tiên của June là bỏ đi, nhưng thay vì thế, nàng bước tới ô cửa sổ dài mở ra khoảng sân nhỏ. Hương đỗ quyên bay tới từ đó; đứng quay lưng về phía nàng, gương mặt vùi trong những chùm hoa vàng hồng, là người yêu nàng và Irene.

Lặng thinh nhưng không hổ thẹn, đôi má rực đỏ và mắt giận dữ, cô gái nhìn họ.

“Chủ nhật hãy tới một mình—Chúng ta có thể cùng xem hết ngôi nhà.”

June thấy Irene ngước nhìn chàng qua bức màn hoa. Đó không phải ánh mắt của một người đàn bà lẳng lơ, mà—tệ hơn nhiều đối với cô gái đang dõi theo—của một người phụ nữ sợ rằng ánh mắt ấy sẽ nói quá nhiều.

“Tôi đã hứa đi xe ngựa với bác....”

“Ông bác to lớn ấy! Bảo ông đưa cô tới; chỉ mười dặm thôi—vừa đúng dịp cho đàn ngựa vận động.”

“Tội nghiệp bác Swithin già!”

Một làn hương đỗ quyên dạt vào mặt June; nàng thấy buồn nôn và choáng váng.

“Đi mà! ôi! đi đi!”

“Nhưng tại sao?”

“Tôi phải gặp cô ở đó—Tôi tưởng cô sẽ muốn giúp tôi....”

Với cô gái, lời đáp dường như khẽ run rẩy bay ra từ giữa những chùm hoa: “Tôi muốn chứ!”

Và nàng bước ra khoảng trống nơi cửa sổ.

“Ở đây ngột ngạt quá!” nàng nói; “Tôi không chịu nổi mùi hương này!”

Đôi mắt thẳng thừng, giận dữ của nàng quét qua gương mặt cả hai.

“Hai người đang nói về ngôi nhà à? _Tôi_ vẫn chưa thấy nó đâu nhé—chủ nhật tất cả chúng ta cùng đi được không?”

Sắc màu trên gương mặt Irene biến mất.

“Hôm ấy tôi sẽ đi xe ngựa với bác Swithin,” nàng đáp.

“Bác Swithin! Bác ấy thì có gì quan trọng? Cứ bỏ hẹn với bác ấy!”

“Tôi không có thói quen bỏ hẹn với người khác!”

Có tiếng chân vang lên, và June thấy Soames đứng ngay sau lưng mình.

“Nào! nếu mọi người đã sẵn sàng,” Irene nói, đưa mắt nhìn từ người này sang người kia với một nụ cười lạ lùng, “thì bữa tối cũng đã sẵn sàng!”