Người có của — Chương 15: Cụ Jolyon ở vườn thú

Chương 16 / 33 · Bài review Người có của

Cụ Jolyon giải quyết cuộc họp thứ hai—một phiên Hội đồng thông thường—một cách chóng vánh. Cụ độc đoán đến nỗi các đồng sự trong Hội đồng phải nán lại bàn mưu với nhau về thói lấn lướt ngày một tăng của lão Forsyte, điều mà họ bảo chẳng định chịu đựng lâu hơn nữa.

Cụ đi tàu điện ngầm tới ga Portland Road, rồi từ đó thuê xe ngựa đến Sở thú.

Cụ có một cuộc hẹn ở đó, một trong những cuộc hẹn gần đây ngày một thường xuyên hơn, những cuộc hẹn mà nỗi bất an tăng dần về June và “sự thay đổi ở con bé”, như lời cụ nói, đã thúc cụ tìm đến.

Nó cứ chôn mình biệt tăm, người thì ngày càng gầy đi; cụ hỏi chuyện, nó hoặc không đáp, hoặc quát cho cụ cụt hứng, hoặc trông như sắp òa khóc. Nó đã đổi khác hết mức, tất cả chỉ vì gã Bosinney này. Còn bảo nó kể cho cụ nghe chuyện gì ư, không hề có!

Và cụ thường ngồi trầm ngâm từng hồi lâu, tờ báo trước mặt không đọc, điếu xì gà giữa môi đã tắt. Từ lúc mới ba tuổi, nó đã là người bạn tâm tình thân thiết biết bao của cụ! Và cụ yêu nó biết bao!

Những sức mạnh chẳng coi gia đình, giai cấp hay tập tục ra gì đang đánh sập hàng phòng vệ của cụ; những biến cố sắp xảy ra mà cụ không thể chi phối phủ bóng lên đầu cụ. Nỗi cáu kỉnh của một người quen được toại ý trỗi dậy chống lại một thứ mà chính cụ cũng không biết là gì.

Bực bội vì chiếc xe ngựa đi quá chậm, cụ đến được cổng Sở thú; nhưng nhờ bản năng tươi sáng biết nắm lấy điều tốt đẹp trong từng khoảnh khắc, cụ quên nỗi phiền muộn khi bước về phía điểm hẹn.

Từ thềm đá phía trên hố gấu, con trai và hai đứa cháu của cụ vội vã chạy xuống khi thấy cụ Jolyon đến, rồi dẫn cụ đi về phía nhà sư tử. Chúng dìu cụ ở hai bên, mỗi đứa nắm một bàn tay cụ—trong khi Jolly, trái tính chẳng khác gì cha mình, cầm chiếc ô của ông nội theo cái kiểu khiến phần cong ở cán cứ móc vào chân người khác.

Jolyon trẻ theo sau.

Nhìn cha mình bên lũ trẻ chẳng khác nào xem một vở kịch hay, nhưng là thứ kịch đem đến nụ cười mà phía sau có nước mắt. Một ông già cùng hai đứa trẻ nhỏ đi bên nhau là cảnh có thể thấy vào bất kỳ giờ nào trong ngày; nhưng hình ảnh cụ Jolyon với Jolly và Holly, đối với Jolyon trẻ, dường như là một màn trình diễn đặc biệt hé cho người ta thấy những điều nằm sâu dưới đáy lòng ta. Sự phó mặc hoàn toàn của dáng người già nua thẳng tắp ấy cho hai hình hài bé nhỏ hai bên dịu dàng đến nhói lòng; và vì vốn là người có thói quen phản ứng theo bản năng, Jolyon trẻ khẽ lẩm bẩm một câu chửi thề. Cảnh tượng khiến anh xúc động theo một cách không xứng với người nhà Forsyte, những kẻ nếu không kín đáo thì chẳng còn là gì cả.

Cứ thế họ đến nhà sư tử.

Sáng hôm ấy có một buổi hội hè ở Vườn Bách thảo, và rất nhiều người Forsy—nghĩa là những người ăn mặc sang trọng và có xe riêng—đã cho xe đưa mình đến tiếp Sở thú, hầu thu được nhiều hơn nữa, nếu có thể, từ đồng tiền bỏ ra trước khi trở về Rutland Gate hay Bryanston Square.

“Ta đi tiếp đến Sở thú đi,” họ đã bảo nhau; “sẽ vui lắm!” Hôm ấy là ngày vé một shilling; sẽ không có tất cả đám thường dân đáng ghét kia.

Trước dãy chuồng dài, họ tụ thành từng hàng, ngắm những con thú màu hung đói mồi sau song sắt chờ đợi niềm vui duy nhất trong hai mươi bốn giờ. Con thú càng đói càng lôi cuốn. Nhưng đó là vì khán giả thèm muốn sức ăn của nó, hay nhân đạo hơn, vì cơn đói ấy sắp được thỏa mãn, Jolyon trẻ không thể nói được. Những lời bình phẩm liên tiếp rơi vào tai anh: “Con hổ ấy trông dữ tợn thật!” “Ôi, yêu quá đi! Nhìn cái miệng bé xíu của nó kìa!” “Ừ, nó khá xinh! Mẹ đừng đến gần quá.”

Và hết lần này đến lần khác, bằng những cái vỗ nhẹ, người này hay người khác lại áp tay lên túi phía sau rồi nhìn quanh, như thể chờ Jolyon trẻ hoặc một kẻ nào có vẻ vô tư đến giải thoát họ khỏi những thứ đựng bên trong.

Một người đàn ông béo tốt mặc áo gi-lê trắng chậm rãi nói qua kẽ răng: “Chỉ là thói tham ăn; chúng không thể đói được. Chúng có vận động gì đâu.” Đúng lúc ấy, một con hổ ngoạm lấy miếng gan ròng máu, và người đàn ông béo cười lên. Bà vợ mặc chiếc váy kiểu Paris, đeo kính kẹp mũi bằng vàng, trách ông: “Sao ông lại cười được, Harry? Cảnh tượng kinh khủng thế kia!”

Jolyon trẻ cau mày.

Hoàn cảnh cuộc đời, dẫu anh đã thôi nhìn chúng theo cách quá nặng phần riêng tư, vẫn để lại trong anh những cơn khinh miệt chốc chốc lại nổi lên; và tầng lớp anh từng thuộc về—tầng lớp có xe ngựa—đặc biệt khơi dậy giọng châm biếm của anh.

Nhốt sư tử hay hổ trong cảnh cầm tù hẳn là một sự man rợ ghê gớm. Nhưng chẳng người có giáo dưỡng nào lại thừa nhận điều ấy.

Chẳng hạn, ý nghĩ rằng giam cầm thú hoang là man rợ có lẽ chưa bao giờ thoáng qua đầu cha anh; cụ thuộc trường phái cũ, những người coi việc nhốt khỉ đầu chó và báo vừa có tác dụng khai hóa vừa có tính giáo dục, chắc hẳn mang quan niệm rằng theo thời gian họ có thể khiến những sinh vật này thôi cái thói vô lý là chết vì khốn khổ và đau đớn cõi lòng bên song sắt, bắt hội phải tốn tiền kiếm những con khác! Trong mắt cụ, cũng như trong mắt mọi người nhà Forsyte, niềm vui được ngắm những sinh vật đẹp đẽ này trong cảnh cầm tù vượt xa mọi bất tiện mà sự giam cầm gây ra cho những con thú bị Chúa thiếu suy tính đến thế mà đặt vào trạng thái tự do! Làm vậy là vì điều tốt cho chúng, lập tức đưa chúng thoát khỏi vô vàn hiểm nguy của không khí ngoài trời và sự vận động, đồng thời cho phép chúng thực hiện các chức năng của mình trong chốn biệt lập được bảo đảm của một ngăn riêng! Quả thật, ngoài việc bị nhốt trong chuồng, chẳng rõ thú hoang được tạo ra để làm gì!

Nhưng vì trong bản tính Jolyon trẻ có những yếu tố của sự công bằng, anh ngẫm rằng quy là man rợ một điều vốn chỉ là thiếu trí tưởng tượng hẳn không đúng; bởi không ai trong những người mang các quan niệm ấy từng bị đặt vào hoàn cảnh giống những con vật họ nhốt, nên không thể trông đợi họ thấu cảm được cảm giác của chúng. Mãi đến khi họ rời khu vườn—Jolly và Holly đang trong cơn mê ly sung sướng—cụ Jolyon mới tìm được cơ hội nói với con trai về chuyện canh cánh nhất trong lòng. “Cha không biết phải hiểu việc này thế nào,” cụ nói; “nếu nó cứ tiếp tục như bây giờ, cha không biết rồi sẽ ra sao. Cha muốn nó đi khám bác sĩ, nhưng nó không chịu. Nó chẳng giống cha chút nào. Nó giống mẹ con như đúc. Bướng như con la! Nó đã không muốn làm gì thì nhất định không làm, thế là hết!”

Jolyon trẻ mỉm cười; mắt anh đã lang thang đến chiếc cằm của cha. “Cha con một cặp,” anh nghĩ, nhưng không nói gì.

“Rồi còn,” cụ Jolyon tiếp, “cái gã Bosinney này. Cha chỉ muốn đấm vỡ đầu gã, nhưng chắc cha không thể, mặc dù—cha chẳng thấy có lý do gì con lại không thể,” cụ hồ nghi nói thêm.

“Anh ta đã làm gì? Nếu họ không hòa hợp được thì kết thúc đi còn tốt hơn nhiều!”

Cụ Jolyon nhìn con trai. Giờ đây, khi họ thực sự đi đến chỗ bàn luận một đề tài liên quan đến quan hệ nam nữ, cụ cảm thấy nghi ngại. Jo chắc chắn sẽ ôm một quan niệm phóng túng nào đó.

“Ờ, cha không biết con nghĩ thế nào,” cụ nói; “có lẽ con đồng cảm với gã—cha cũng chẳng ngạc nhiên; nhưng cha cho rằng gã đang cư xử tệ hại vô cùng, và nếu gã lọt vào tay cha, cha sẽ nói thẳng như thế.” Cụ bỏ đề tài ấy.

Không thể nào bàn với con trai cụ về bản chất và ý nghĩa thật sự của việc Bosinney thay lòng. Chẳng phải mười lăm năm trước chính con trai cụ đã làm đúng một việc như thế (thậm chí còn tệ hơn, nếu có thể) hay sao? Dường như hậu quả của hành động điên rồ ấy chẳng bao giờ dứt.

Jolyon trẻ cũng im lặng; anh đã nhanh chóng nhìn thấu ý nghĩ của cha mình, bởi từ khi bị truất khỏi chiếc ghế cao của một cái nhìn hiển nhiên và đơn giản về sự đời, anh đã trở nên vừa tinh tường vừa sâu sắc.

Tuy nhiên, thái độ anh đã chọn đối với chuyện nam nữ mười lăm năm trước quá khác với thái độ của cha. Không có cách nào bắc cầu qua vực ngăn ấy.

Anh thản nhiên nói: “Con đoán là anh ta đã yêu một người đàn bà khác?”

Cụ Jolyon nhìn anh đầy ngờ vực: “Cha không biết,” cụ nói; “người ta bảo vậy!”

“Thế thì rất có thể là thật,” Jolyon trẻ bất ngờ nhận xét; “và con đoán _họ_ đã cho cha biết cô ta là ai?”

“Phải,” cụ Jolyon nói, “vợ của Soames!”

Jolyon trẻ không huýt sáo: hoàn cảnh đời mình đã khiến anh không còn có thể huýt sáo trước một chuyện như thế, nhưng anh nhìn cha, trong lúc bóng một nụ cười lơ lửng trên mặt.

Nếu cụ Jolyon có trông thấy, cụ cũng chẳng để tâm.

“Cô ta với June từng là bạn tâm giao!” cụ lẩm bẩm.

“June bé nhỏ tội nghiệp!” Jolyon trẻ khẽ nói. Anh vẫn nghĩ về con gái mình như đứa bé lên ba.

Cụ Jolyon đột ngột dừng bước.

“Cha không tin một lời nào hết,” cụ nói, “chỉ là chuyện mấy bà già bịa ra. Gọi cho cha một chiếc xe đi, Jo, cha mệt muốn chết rồi!”

Họ đứng ở một góc đường chờ xem có chiếc xe ngựa thuê trống nào đi qua, trong khi hết cỗ xe này đến cỗ xe khác lăn bánh, chở đủ mọi hạng người nhà Forsyte từ Sở thú về. Bộ yên cương, đồng phục gia nhân, lớp lông bóng mượt của đàn ngựa lóe sáng và lấp lánh dưới nắng tháng Năm; và mỗi cỗ xe, xe mui trần landau, xe đối diện sociable, xe bốn bánh barouche, xe Victoria hay brougham, dường như kiêu hãnh cất lời từ những bánh xe của mình:

“Tôi cùng ngựa xe, gia nhân, quý vị biết rồi, Quả thật cả bộ này tốn cả một gia tài. Nhưng từng xu bỏ ra đều đáng giá. Nhìn Ông chủ cùng Bà chủ kìa—oách làm sao! Nhàn nhã mà bảo đảm—à! đúng điệu đấy!”

Và như ai nấy đều biết, đó chính là khúc nhạc đệm thích hợp cho một người nhà Forsyte dạo bước.

Giữa những cỗ xe này có một chiếc barouche chạy nhanh hơn những chiếc khác, do một đôi ngựa hồng đỏ bóng mượt kéo. Nó đu đưa trên những nhíp xe cao, và bốn người ngồi kín bên trong dường như được ru như trong nôi.

Cỗ xe ấy thu hút sự chú ý của Jolyon trẻ; và bỗng ở hàng ghế sau, anh nhận ra bác James, không thể lầm được mặc cho chòm râu má đã bạc thêm; ngồi đối diện, lưng được những chiếc lọng che chở, Rachel Forsyte và người chị đã có chồng của cô, Winifred Dartie, trong những bộ trang phục không chê vào đâu được, ngẩng đầu kiêu kỳ như hai loài chim họ vừa ngắm ở Sở thú; còn bên cạnh James là Dartie đang ngả người, khoác chiếc áo đuôi tôm mới tinh cài khuy chặt chẽ, vuông vức, với một khoảng vải hồ phẳng phiu rộng lớn nhô ra dưới mỗi cổ tay áo.

Một ánh lấp lánh hơn thường lệ, dẫu đã được tiết chế, một lớp bóng hoặc nước véc-ni thượng hạng được tô thêm, là nét đặc trưng của cỗ xe này và dường như phân biệt nó với tất cả những chiếc khác; tựa như nhờ một sự xa hoa may mắn nào đó—giống điều phân biệt một “tác phẩm nghệ thuật” đích thực với một “bức tranh” tầm thường—nó được chỉ định làm cỗ xe tiêu biểu, chính ngai vàng của cõi Forsyte.

Cụ Jolyon không trông thấy họ đi qua; cụ đang dỗ dành Holly tội nghiệp đã mệt, nhưng những người trong xe đã nhìn rõ nhóm nhỏ ấy; đầu hai quý bà bỗng nghiêng đi, những chiếc lọng co giật che ngang; khuôn mặt James ngây ngô nhô ra như đầu một con chim cổ dài, miệng chậm rãi há lên. Những vòng tròn tựa tấm khiên của mấy chiếc lọng nhỏ dần, nhỏ dần rồi biến mất.

Jolyon trẻ biết mình đã bị nhận ra, ngay cả bởi Winifred, người hẳn chưa quá mười lăm tuổi khi anh đánh mất quyền được xem là một người nhà Forsyte.

_Họ_ chẳng thay đổi bao nhiêu! Anh nhớ chính xác dáng vẻ cỗ xe của họ ngần ấy năm về trước: ngựa, gia nhân, xe—giờ chắc chắn đều đã khác—nhưng mang đúng khuôn dấu của mười lăm năm trước; vẫn sự phô bày tinh tươm ấy, vẫn vẻ ngạo mạn được tính toán vừa khéo ấy—nhàn nhã mà bảo đảm! Độ đu đưa giống hệt, dáng đặt những chiếc lọng giống hệt, tinh thần của toàn bộ cảnh tượng giống hệt.

Và dưới ánh mặt trời, được những tấm khiên lọng kiêu kỳ che chở, hết cỗ xe này đến cỗ xe khác đi qua.

“Bác James vừa đi qua cùng đám đàn bà nhà bác ấy,” Jolyon trẻ nói.

Mặt cha anh sầm lại. “Bác con có nhìn thấy chúng ta không? Có à? Hừm! _Ông ta_ muốn gì mà xuống tận vùng này?”

Đúng lúc ấy, một chiếc xe ngựa thuê trống chạy tới, và cụ Jolyon gọi nó dừng lại.

“Chẳng bao lâu nữa cha sẽ lại gặp con, con trai!” cụ nói. “Con đừng để tâm đến bất cứ điều gì cha vừa nói về cậu Bosinney—cha không tin một lời nào hết!”

Hôn lũ trẻ đang cố giữ cụ lại, cụ bước lên xe và được chở đi.

Jolyon trẻ, lúc này đã bế Holly trong tay, đứng bất động nơi góc đường, nhìn theo chiếc xe ngựa.