Người có của — Chương 16: Buổi chiều tại nhà Timothy

Chương 17 / 33 · Bài review Người có của

Nếu khi bước lên xe ngựa, cụ Jolyon nói: “Ta _nhất định không_ tin một lời nào hết!” thì cụ đã diễn tả tình cảm của mình chân thực hơn.

Ý nghĩ rằng James cùng đám đàn bà nhà ông ta đã thấy cụ đi với con trai không chỉ đánh thức trong cụ sự nóng nảy cụ vẫn cảm thấy mỗi khi bị trái ý, mà còn cả mối thù nghịch kín đáo vốn tự nhiên tồn tại giữa anh em trai; gốc rễ của nó—những ganh đua vụn vặt từ thuở còn nằm nôi—đôi khi càng thêm dai chắc và ăn sâu theo dòng đời, âm thầm nâng đỡ một loài cây có thể đến mùa sinh ra những quả đắng cay nhất.

Cho đến lúc này, giữa sáu anh em chưa từng có tình cảm bất hòa nào hơn nỗi ngờ vực thầm kín và tự nhiên rằng những người kia có thể giàu hơn mình; một cảm giác bị tuổi gần đất xa trời—đích đến san bằng mọi chênh lệch—và tính “kín miệng” ghê gớm của người quản lý công việc cho họ đẩy đến mức hiếu kỳ. Với chút khôn ngoan, ông này thường nói với Nicholas rằng mình không biết thu nhập của James, nói với James rằng không biết thu nhập của cụ Jolyon, nói với Jolyon rằng không biết thu nhập của Roger, nói với Roger rằng không biết thu nhập của Swithin, trong khi lại chọc tức Swithin hết mức bằng lời quả quyết Nicholas hẳn là người giàu có. Chỉ Timothy được miễn khỏi sự phỏng đoán, vì tài sản của ông nằm trong những chứng khoán thượng hạng.

Nhưng giờ đây, ít nhất giữa hai người trong số họ, một cảm giác bị xúc phạm rất khác đã nảy sinh. Từ khoảnh khắc James trơ tráo chõ mũi vào công việc của cụ—như cách cụ nói—cụ Jolyon không còn chịu tin câu chuyện về Bosinney nữa. Cháu gái cụ bị một người trong gia đình “cái gã ấy” coi thường ư! Cụ quyết định rằng Bosinney đã bị gièm pha. Việc gã thay lòng hẳn phải có một lý do khác.

June đã nổi nóng với gã, hay chuyện gì tương tự; con bé dễ phật ý hết chỗ nói!

Dẫu vậy, cụ sẽ cho Timothy biết đôi điều mình nghĩ, để xem ông còn tiếp tục buông lời bóng gió nữa không! Và cụ cũng chẳng chần chừ; cụ sẽ đến đó ngay, và lo sao cho mình khỏi phải trở lại lần nữa vì cùng một việc.

Cụ thấy xe ngựa của James chắn vỉa hè trước “The Bower”. Thế là họ đến trước cụ—chắc đang kháo nhau om sòm chuyện đã trông thấy cụ! Xa hơn một chút, đôi ngựa xám của Swithin đang hướng mũi về phía đôi ngựa hồng đỏ của James như thể cùng họp kín về gia đình, trong khi hai người đánh xe cũng họp kín bên trên.

Đặt mũ lên chiếc ghế trong tiền sảnh chật hẹp, nơi từ lâu lắm rồi chiếc mũ của Bosinney từng bị lầm là một con mèo, cụ Jolyon nghiêm nghị đưa bàn tay gầy guộc vuốt qua khuôn mặt có bộ ria trắng lớn rủ xuống, như để xóa sạch mọi dấu vết biểu cảm, rồi đi lên lầu.

Cụ thấy phòng khách phía trước chật ních. Ngay những lúc thuận lợi nhất—không khách khứa—không một bóng người—nó cũng đã đủ chật, bởi Timothy và các chị em của ông, theo truyền thống thế hệ mình, cho rằng một căn phòng chưa thật “đẹp” nếu không được bày biện “đúng phép”. Vì thế trong phòng có mười một chiếc ghế, một trường kỷ, ba chiếc bàn, hai tủ trưng bày, vô số đồ trang trí lặt vặt và một phần của chiếc đại dương cầm lớn. Còn giờ, với bà Small, cô Hester, Swithin, James, Rachel, Winifred, Euphemia—người vừa quay lại trả cuốn “Passion and Paregoric” đã đọc trong bữa trưa—cùng cô bạn thân Frances, con gái Roger (người nhà Forsyte có khiếu âm nhạc, chuyên soạn ca khúc), chỉ còn một chiếc ghế chưa có người ngồi, dĩ nhiên không kể hai chiếc chẳng bao giờ có ai ngồi—và chỗ đứng duy nhất lại bị con mèo chiếm, khiến cụ Jolyon vừa vào đã giẫm ngay lên nó.

Vào thời ấy, chuyện Timothy có đông khách đến thế chẳng hề hiếm. Cả gia đình, không trừ một ai, xưa nay đều thật lòng kính trọng cô Ann, và giờ cô đã mất, họ tới The Bower thường xuyên hơn rất nhiều, lại ở lâu hơn.

Swithin là người đến đầu tiên; ngồi đờ đẫn trên chiếc ghế sa tanh đỏ lưng thếp vàng, ông tỏ đủ mọi dấu hiệu rằng mình sẽ trụ lại lâu hơn tất cả. Và với vóc người cao lớn đồ sộ, mái tóc trắng dày, khuôn mặt cạo nhẵn phù nề bất động, ông—hiện thân cho cái tên “người khổng lồ” mà Bosinney đặt—trông càng nguyên thủy hơn bao giờ hết giữa căn phòng bọc nệm cầu kỳ.

Như thường lệ gần đây, câu chuyện của ông lập tức xoay sang Irene, và ông không để phí thời gian mà phát biểu với cô Juley và cô Hester ý kiến của mình về lời đồn nghe nói đang lan truyền. Không—như ông nói—có thể cô ta muốn ve vãn đôi chút—một phụ nữ đẹp phải được thỏa sức một phen; nhưng hơn thế thì ông không tin. Chẳng có gì công khai; cô ta quá hiểu lẽ phải, quá biết trân trọng đúng mức những gì địa vị của mình và gia đình đòi hỏi! Không có bê—, ông đang định nói “bê bối”, nhưng chính ý tưởng ấy đã phi lý đến mức ông phẩy tay như muốn nói—“nhưng thôi, bỏ qua chuyện đó!”

Cứ cho là Swithin nhìn tình thế bằng con mắt của một người độc thân—nhưng quả thật có điều gì lại không phải là món nợ đối với cái gia đình mà biết bao người đã tự gây dựng nên cơ nghiệp, đã đạt được một địa vị nhất định ấy? Nếu trong những khoảnh khắc bi quan tăm tối, ông _từng_ nghe những tiếng “tiểu nông” và “hạng xoàng xĩnh” được dùng khi nói về nguồn gốc của mình, liệu ông có tin chúng không?

Không! Ông nâng niu, cảm động ôm vào lòng giả thuyết kín đáo rằng đâu đó trong tổ tiên mình có dòng dõi cao sang.

“Hẳn phải có,” một lần ông nói với Jolyon trẻ, trước khi người sau đi vào đường hư hỏng. “Nhìn chúng ta đi, _chúng ta_ đã nên người! Đâu đó trong ta hẳn phải có dòng máu tốt.”

Ông từng quý Jolyon trẻ: cậu trai ấy giao du với một nhóm danh giá ở trường Đại học, từng quen các con trai của lão vô lại Sir Charles Fiste—mà một trong số chúng sau này cũng hóa ra là một tên đại bợm; cậu lại có phong thái—thật đáng tiếc gấp nghìn lần khi cậu bỏ đi với mụ nữ gia sư nửa người ngoại quốc kia! Nếu nhất định phải bỏ đi như vậy, sao cậu không chọn một người làm họ được nở mày nở mặt! Và giờ cậu là gì?—một người bảo hiểm ở Lloyd’s; người ta nói cậu thậm chí còn vẽ tranh—vẽ tranh! Quỷ thật! Lẽ ra cậu có thể trở thành Ngài Jolyon Forsyte, Tòng nam tước, có một ghế trong Quốc hội và một điền trang ở miền quê!

Chính Swithin, thuận theo thôi thúc sớm muộn cũng giục một thành viên trong mọi đại gia tộc làm việc ấy, đã đến Văn phòng Huy hiệu, nơi người ta cam đoan rằng ông chắc chắn thuộc cùng một gia tộc với dòng Forsite nổi tiếng viết bằng chữ “i”, có huy hiệu là “ba khóa bên hữu màu đỏ son trên nền đen”, chắc hẳn hy vọng dụ ông nhận lấy nó.

Tuy nhiên, Swithin không làm vậy; nhưng sau khi xác định biểu trưng là “một con chim trĩ mang màu tự nhiên” và châm ngôn là “For Forsite”, ông cho gắn chim trĩ màu tự nhiên lên xe ngựa và khuy áo người đánh xe, còn cả biểu trưng lẫn châm ngôn lên giấy viết thư. Ông giữ kín huy hiệu cho riêng mình, một phần bởi chưa trả tiền cho nó nên ông nghĩ đem nó gắn lên xe sẽ có vẻ phô trương, mà ông thì ghét phô trương; một phần bởi cũng như mọi người thực tế trên khắp đất nước, ông có một nỗi ghét bỏ và khinh miệt thầm kín đối với những điều mình không hiểu: giống bất kỳ ai, ông thấy khó nuốt trôi “ba khóa bên hữu màu đỏ son trên nền đen”.

Tuy nhiên, ông không bao giờ quên rằng họ đã bảo nếu ông trả tiền thì sẽ được quyền sử dụng nó, và điều ấy củng cố niềm tin rằng mình là một quý ông. Phần còn lại của gia đình dần dần, không hề hay biết, tiếp nhận “chim trĩ mang màu tự nhiên”, và vài người nghiêm túc hơn những người khác còn nhận cả châm ngôn; tuy nhiên, cụ Jolyon từ chối dùng câu sau, bảo rằng theo chỗ cụ thấy, đó chỉ là trò bịp chẳng có nghĩa gì.

Trong thế hệ già hơn, có lẽ tự đáy lòng người ta biết họ đã lấy biểu trưng ấy từ biến cố lịch sử trọng đại nào; và nếu bị gặng hỏi, thà thú nhận còn hơn nói dối—họ không thích nói dối, vì mang ấn tượng rằng chỉ người Pháp và người Nga mới nói dối—họ sẽ vội vàng thú nhận rằng bằng cách nào đó Swithin đã kiếm được nó.

Trong thế hệ trẻ hơn, vấn đề được bao bọc bằng một sự kín đáo thích đáng. Họ không muốn làm tổn thương tình cảm người lớn, cũng không muốn tự thấy mình lố bịch; họ chỉ đơn giản dùng biểu trưng ấy…

“Không,” Swithin nói, “ông đã có dịp tự mình quan sát, và điều ông muốn nói là trong cách cô ta đối xử với gã Cướp Biển trẻ kia, hay Bosinney, hay tên gì cũng được, chẳng có gì khác với cách cô ta đối xử với chính ông; thật ra, ông còn muốn nói rằng…” Nhưng lúc ấy Frances và Euphemia bước vào, không may chặn đứng câu chuyện, bởi đây không phải một đề tài có thể bàn trước người trẻ.

Và dẫu Swithin có phần phật ý vì bị ngắt lời đúng lúc sắp nói một điều quan trọng, ông nhanh chóng lấy lại vẻ niềm nở. Ông khá quý Frances—Francie, như gia đình vẫn gọi. Cô thật sành điệu, và người ta bảo ông rằng nhờ các ca khúc, cô kiếm được một khoản tiền tiêu vặt kha khá; ông gọi đó là rất thông minh.

Quả thật, ông khá tự hào về thái độ phóng khoáng của mình đối với phụ nữ, không thấy có lý do gì họ lại không được vẽ tranh, soạn nhạc, hoặc thậm chí viết sách nữa, nhất là nếu có thể kiếm một đồng hữu dụng từ đó; hoàn toàn không có lý do—làm vậy khiến họ tránh xa những trò tai quái. Có phải họ là đàn ông đâu!

“Francie bé nhỏ”, như cô thường được gọi với vẻ coi thường hiền lành, là một nhân vật quan trọng, ít nhất trong vai trò minh họa thường trực cho thái độ của nhà Forsyte đối với Nghệ thuật. Cô thật ra không “bé nhỏ”, mà khá cao, có mái tóc sẫm màu hiếm thấy ở người nhà Forsyte; cùng với đôi mắt xám, nó đem lại cho cô cái người ta gọi là “vẻ Celt”. Cô viết những ca khúc mang nhan đề như “Những tiếng thở dài”, hay “Hôn con đi, Mẹ, trước khi con lìa đời”, với điệp khúc tựa một bài thánh ca: “Hôn con đi, Mẹ, trước khi con lìa đời; Hôn con—hôn con đi, Mẹ, ôi! Hôn đi, ôi! hôn con trư-ước khi con— Hôn con đi, Mẹ, trước khi con l-l-lìa đời!”

Cô tự viết lời cho những khúc hát ấy, và cả những bài thơ khác. Trong những lúc nhẹ lòng hơn, cô viết điệu valse; một trong số đó, bản “Vòng xoáy Kensington”, gần như đã trở thành khúc nhạc quốc dân của Kensington, với một đoạn hạ âm ngọt ngào. Như thế này:

Nó rất độc đáo. Rồi còn có tập “Những khúc hát cho trẻ nhỏ” của cô, vừa giáo dục vừa hóm hỉnh, đặc biệt là bài “Porgie của Bà”, và khúc hát ngắn gần như thấm nhuần một cách tiên tri tinh thần Đế quốc sắp tới, mang nhan đề “Đấm thâm con mắt bé của nó”.

Nhà xuất bản nào cũng sẵn lòng nhận những tác phẩm ấy; còn các tờ phê bình như “High Living” và “Ladies’ Genteel Guide” thì mê mẩn viết: “Lại một khúc ca đầy sinh khí khác của cô Francie Forsyte, lấp lánh mà thống thiết. Chính chúng tôi đã xúc động đến cả rơi lệ lẫn bật cười. Cô Forsyte hẳn sẽ tiến xa.”

Với bản năng đích thực của giống nòi mình, Francie đặc biệt chú ý làm quen với đúng những người cần thiết—những người sẽ viết về cô và nói về cô, cả những người thuộc giới thượng lưu nữa—luôn giữ trong đầu một sổ bộ xem chính xác nơi nào cần thi triển sức quyến rũ, và để mắt đến thang giá tăng đều mà trong tâm tưởng cô tượng trưng cho tương lai. Bằng cách đó, cô khiến mình được tất cả mọi người kính trọng.

Có một lần, vào thời điểm cảm xúc bị một mối quyến luyến quất cho dậy sóng—bởi đường hướng cuộc đời Roger, với việc toàn tâm toàn ý thu gom nhà cửa đất đai, đã gây ra trong cô con gái duy nhất một khuynh hướng say mê—cô quay sang sáng tác một tác phẩm lớn lao và chân thành, chọn thể sonata cho vĩ cầm. Đây là tác phẩm duy nhất của cô khiến người nhà Forsyte lo lắng. Họ lập tức cảm thấy nó sẽ không bán được.

Roger vốn cũng khá thích có một cô con gái thông minh, lại thường nhắc đến khoản tiền tiêu vặt cô tự kiếm được, nhưng bản sonata vĩ cầm này làm ông phiền lòng.

“Thứ nhảm nhí như thế!” ông gọi nó. Francie đã mượn chàng Flageoletti trẻ của Euphemia để trình diễn bản nhạc trong phòng khách ở Prince’s Gardens.

Thật ra Roger đã đúng. Nó là thứ nhảm nhí, nhưng—bực thật! lại là loại nhảm nhí không bán được. Như mọi người nhà Forsyte đều biết, thứ nhảm nhí bán được thì hoàn toàn không phải nhảm nhí—còn lâu mới phải.

Thế nhưng, bất chấp lẽ thường lành mạnh định giá nghệ thuật theo số tiền nó bán được, vài người nhà Forsyte—chẳng hạn cô Hester, người xưa nay vẫn yêu âm nhạc—không khỏi tiếc rằng nhạc của Francie không mang tính “cổ điển”. Thơ của cô cũng vậy. Nhưng rồi, như cô Hester nói, ngày nay họ chẳng thấy có thi ca gì cả, mọi bài thơ đều là “những thứ nhỏ nhắn nhẹ tênh”. Chẳng còn ai có thể viết được một bài thơ như “Thiên đường đã mất” hay “Cuộc hành hương của Childe Harold”; đọc tác phẩm nào trong hai tác phẩm ấy cũng khiến người ta cảm thấy mình thật sự đã đọc một thứ gì. Tuy vậy, Francie có việc để bận rộn cũng tốt; trong khi các cô gái khác tiêu tiền mua sắm thì cô kiếm ra tiền!

Và cả cô Hester lẫn cô Juley bao giờ cũng sẵn lòng nghe câu chuyện mới nhất về việc Francie đã khiến người ta nâng giá trả cho cô ra sao.

Giờ đây họ ngồi nghe, cùng với Swithin; ông làm bộ không nghe, vì đám trẻ này nói quá nhanh lại cứ lầm bầm, ông chẳng bao giờ bắt kịp lời họ.

“Mà tôi không thể hiểu,” bà Septimus nói, “làm sao cháu làm được thế. Tôi sẽ chẳng bao giờ có gan ấy!”

Francie mỉm cười hờ hững. “Cháu thà giao thiệp với đàn ông còn hơn đàn bà. Phụ nữ sắc sảo lắm!”

“Cháu yêu,” bà Small kêu lên, “ta chắc chắn chúng ta đâu có thế.”

Euphemia bật tràng cười không thành tiếng, rồi kết thúc bằng một tiếng ré, nói như thể đang bị bóp cổ: “Ôi, có ngày dì làm cháu chết mất, dì ạ.”

Swithin chẳng thấy có lý do gì để cười; ông ghét người khác cười khi chính mình không nhận ra chuyện khôi hài. Thật ra ông ghét Euphemia toàn diện, và bao giờ cũng gọi cô là “con gái Nick, nó tên gì ấy nhỉ—cái đứa xanh xao?” Ông chỉ suýt nữa đã làm cha đỡ đầu của cô—quả thật đã làm rồi, nếu ông không cương quyết phản đối cái tên ngoại lai của cô. Ông ghét việc làm cha đỡ đầu. Bấy giờ Swithin nói với Francie đầy vẻ đường bệ: “Hôm nay trời đẹp—ờ—so với thời điểm này trong năm.” Nhưng Euphemia, người biết quá rõ ông đã từ chối làm cha đỡ đầu của mình, quay sang cô Hester, bắt đầu kể rằng cô đã trông thấy Irene—bà Soames—ở Church and Commercial Stores.

“Và Soames đi cùng cô ấy à?” cô Hester hỏi; bà Small vẫn chưa có dịp kể cho cô nghe chuyện ấy.

“_Soames_ đi cùng cô ấy ư? _Dĩ nhiên_ là không!”

“Nhưng cô ấy chỉ có một mình ở London sao?”

“Ồ không; có ông Bosinney đi cùng cô ấy. Cô ấy ăn mặc _hoàn hảo_.”

Nhưng Swithin nghe thấy tên Irene liền nghiêm khắc nhìn Euphemia—quả thực cô chẳng bao giờ mặc váy mà trông đẹp, dẫu vào những dịp khác có thể ra sao—và nói:

“Chắc chắn cô ấy ăn mặc như một quý bà. Nhìn cô ấy thật thích mắt.”

Đúng lúc ấy, James và các con gái được xướng tên. Dartie, cảm thấy hết sức cần một ly rượu, đã viện cớ có hẹn với nha sĩ; sau khi được cho xuống ở Marble Arch, hắn lên một chiếc hansom và giờ đã ngồi bên cửa sổ câu lạc bộ của mình tại Piccadilly.

Hắn bảo mấy người bạn rượu rằng vợ hắn muốn lôi hắn đi thăm viếng vài nhà. Việc ấy không hợp sở trường của hắn—không hẳn. Hà!

Gọi người hầu bàn lại, hắn sai anh ta ra tiền sảnh xem con nào thắng cuộc đua lúc bốn giờ rưỡi. Hắn bảo mình mệt như chó, mà quả đúng là thế; suốt buổi chiều phải ngồi xe đi hết “buổi diễn” này đến “buổi diễn” khác với vợ. Cuối cùng hắn đã nhất quyết không đi nữa. Một người đàn ông phải được sống cuộc đời của riêng mình.

Đúng lúc ấy, liếc qua cửa sổ lồi—bởi hắn yêu chỗ ngồi này, từ đây có thể thấy hết mọi người đi qua—mắt hắn chẳng may, hoặc có lẽ may thay, tình cờ bắt gặp bóng Soames đang rón rén băng qua đường từ phía Green Park, rõ ràng có ý định bước vào, bởi anh cũng là hội viên của “The Iseeum”.

Dartie bật dậy; chộp lấy ly rượu, hắn lẩm bẩm gì đó về “cuộc đua lúc bốn giờ rưỡi” rồi nhanh chóng rút vào phòng chơi bài, nơi Soames không bao giờ lui tới. Ở đây, hoàn toàn cách biệt và trong ánh sáng lờ mờ, hắn sống cuộc đời riêng của mình đến bảy giờ rưỡi, khi hắn biết chắc Soames hẳn đã rời câu lạc bộ.

Không được—hắn cứ lặp lại với mình như thế mỗi khi cảm thấy thôi thúc muốn nhập bọn với đám ngồi lê đôi mách bên cửa sổ lồi trở nên quá mạnh—tuyệt đối không được; tiền nong của hắn đang cạn đến thế, còn “ông già” (James) thì vẫn cau có kể từ vụ cổ phiếu dầu mỏ, vốn chẳng phải lỗi của hắn, nên không thể liều gây một trận cãi nhau với Winifred.

Nếu Soames trông thấy hắn trong câu lạc bộ, chuyện ấy chắc chắn sẽ đến tai cô rằng hắn hoàn toàn không đi nha sĩ. Hắn chưa từng biết một gia đình nào mà chuyện gì cũng “đến tai” nhau như vậy. Bồn chồn giữa những bàn bài phủ nỉ xanh, khuôn mặt màu ô-liu cau lại, hai ống quần kẻ ô bắt chéo, đôi ủng da láng bóng lên trong bóng tối, hắn ngồi cắn ngón trỏ, tự hỏi biết kiếm đâu ra tiền, quỷ tha ma bắt, nếu Erotic không thắng Cúp Lancashire.

Ý nghĩ của hắn u ám quay sang nhà Forsyte. Thật là một lũ! Không sao moi được gì từ họ—ít nhất cũng khó vô cùng. Trong chuyện tiền nong, họ kỹ tính đến quỷ tha ma bắt; cả bọn chẳng có lấy một tay biết chơi, trừ phi là George. Chẳng hạn cái gã Soames ấy sẽ lên cơn nếu người ta thử vay mười bảng, hoặc nếu không lên cơn, hắn sẽ nhìn người ta bằng nụ cười trịch thượng đáng nguyền rủa, như thể chỉ vì túng tiền mà người ta đã là một linh hồn sa đọa.

Còn cô vợ của gã (miệng Dartie bất giác ứa nước), hắn từng cố giữ quan hệ tốt với cô, như bất kỳ ai tự nhiên cũng làm với một cô em dâu xinh đẹp, nhưng hắn thề có quỷ rằng con—(trong đầu hắn dùng một từ tục tĩu)—không chịu nói với hắn lấy một lời; thật vậy, cô nhìn hắn như thể hắn là đồ bẩn thỉu—thế nhưng hắn dám cá là cô có thể đi khá xa. Hắn biết đàn bà; đôi mắt dịu dàng và thân hình như thế không phải được tạo ra vô ích, và cái gã Soames ấy sẽ sớm biết rõ điều đó thôi, nếu những gì hắn nghe về tay Cướp Biển kia có chút sự thật.

Đứng dậy, Dartie đi một vòng qua phòng rồi dừng trước tấm gương trên bệ lò sưởi bằng cẩm thạch; hắn đứng đó rất lâu ngắm hình phản chiếu khuôn mặt mình. Khuôn mặt ấy mang vẻ riêng của một số đàn ông, như thể từng được ngâm trong dầu hạt lanh, với bộ ria sẫm vuốt sáp và mấy nhúm râu mai mới chớm đầy vẻ sang trọng; lo lắng, hắn sờ thấy dấu hiệu báo trước một cái mụn bên cánh mũi hơi quặp và nung núc thịt.

Trong lúc ấy, cụ Jolyon đã tìm được chiếc ghế còn lại trong phòng khách rộng rãi của Timothy. Việc cụ xuất hiện rõ ràng đã chặn đứng câu chuyện, và một bầu không khí ngượng ngập thấy rõ trùm xuống. Cô Juley, với lòng tốt nổi tiếng của mình, vội làm mọi người dễ chịu trở lại.

“Phải đấy, Jolyon,” cô nói, “chúng tôi vừa bảo đã lâu anh không đến đây; nhưng chúng tôi không nên ngạc nhiên. Dĩ nhiên anh bận lắm phải không? James vừa nói thời điểm này trong năm thật bận rộn…”

“Ông ấy nói thế à?” cụ Jolyon nói, nhìn James chằm chằm. “Sẽ chẳng bận đến một nửa nếu ai cũng lo việc của mình.”

James đang ngồi tư lự trên chiếc ghế nhỏ khiến đầu gối chổng ngược lên, bồn chồn đổi vị trí hai chân rồi đặt một chân lên con mèo đã thiếu khôn ngoan mà tìm chỗ trú khỏi cụ Jolyon bên cạnh ông.

“Này, các chị có mèo ở đây,” ông nói bằng giọng bị xúc phạm, lo lắng rụt chân lại khi cảm thấy nó đang lún vào thân mình mềm mại đầy lông.

“Mấy con kia,” cụ Jolyon nói, nhìn hết gương mặt này đến gương mặt khác; “tôi vừa giẫm lên một con.”

Một khoảng im lặng tiếp theo.

Rồi bà Small, hai ngón tay xoắn lấy nhau và mắt nhìn quanh với “vẻ bình thản thống thiết”, hỏi: “Thế June yêu quý ra sao rồi?”

Một tia hài hước lóe xuyên qua vẻ nghiêm nghị trong mắt cụ Jolyon. Bà già Juley thật phi thường! Không ai sánh được với bà về tài nói sai điều cần nói!

“Không ổn!” cụ nói; “London không hợp với nó—người ngợm quá đông, tiếng động và lời ra tiếng vào nhiều quá nửa.” Cụ nhấn mạnh mấy tiếng ấy, rồi lại nhìn thẳng vào mặt James.

Không ai lên tiếng.

Cảm giác rằng bước theo bất kỳ hướng nào hay liều buông bất cứ lời nào cũng quá nguy hiểm đã xâm chiếm tất cả. Phần nào cảm thức về điều sắp giáng xuống vẫn trùm lên khán giả xem một bi kịch Hy Lạp đã đi vào căn phòng bọc nệm ấy, chật những ông già tóc bạc mặc áo đuôi tôm và những phụ nữ phục sức đúng mốt, tất cả cùng một dòng máu và giữa tất cả đều có một nét tương đồng không sao nắm bắt.

Không phải họ ý thức được điều ấy—những cuộc viếng thăm của các u linh định mệnh cay nghiệt như thế chỉ có thể được cảm nhận.

Rồi Swithin đứng dậy. Ông sẽ không ngồi đó với cảm giác ấy—ông không để bất kỳ ai áp đảo mình! Và sau khi đi vòng quanh phòng với vẻ càng thêm khoa trương, ông lần lượt bắt tay từng người.

“Các chị bảo Timothy hộ tôi,” ông nói, “rằng chú ấy nuông chiều mình quá mức!” Rồi quay sang Francie, người mà ông cho là “sành điệu”, ông nói thêm: “Hôm nào cháu đi xe dạo với bác.” Nhưng lời ấy gợi lên hình ảnh chuyến xe dạo đầy biến cố kia, chuyện đã bị bàn tán nhiều đến thế; ông đứng im hẳn một giây, mắt đờ ra như đang chờ bắt kịp ý nghĩa lời chính mình vừa nói. Rồi chợt nhớ ra rằng mình cóc cần, ông quay sang cụ Jolyon: “Thôi, tạm biệt, Jolyon! Anh không nên ra ngoài mà thiếu áo khoác; rồi sẽ đau thần kinh tọa hay mắc chứng gì đó!” Và khẽ đá con mèo bằng đầu nhọn chiếc ủng da láng, ông mang thân hình khổng lồ của mình đi khỏi.

Khi ông đi rồi, ai nấy kín đáo nhìn những người khác xem họ đón nhận việc nhắc tới tiếng “đi xe dạo” ra sao—một tiếng đã trở nên nổi tiếng và có tầm quan trọng áp đảo, vì đó là tin tức “chính thức” duy nhất—có thể nói vậy—liên quan đến lời đồn mơ hồ, dữ dội đang bám trên đầu lưỡi cả gia đình.

Không cưỡng được một thôi thúc, Euphemia cười ngắn: “Cháu mừng vì bác Swithin không rủ cháu đi xe dạo.”

Để trấn an cô và xoa dịu chút ngượng ngập có thể có trong đề tài ấy, bà Small đáp: “Cháu yêu, anh ấy thích đưa theo một người ăn mặc đẹp, có thể làm anh ấy nở mày nở mặt đôi chút. Ta không bao giờ quên chuyến xe anh ấy đưa ta đi. Thật là một trải nghiệm!” Và khuôn mặt già tròn trĩnh, phúng phính của bà trong một thoáng tỏa ra vẻ mãn nguyện lạ lùng; rồi nó nhăn lại hờn dỗi, nước mắt dâng lên. Bà đang nghĩ về chuyến du ngoạn bằng xe từ thuở xa xưa mà một lần bà đã đi cùng Septimus Small.

James đã lại rơi vào cơn tư lự bồn chồn trên chiếc ghế nhỏ, bỗng sực tỉnh: “Swithin là một tay kỳ quặc,” ông nói, nhưng chẳng mấy thiết tha.

Sự im lặng và đôi mắt nghiêm nghị của cụ Jolyon khiến tất cả họ gần như tê liệt. Chính cụ cũng bối rối trước tác động từ lời mình nói—một tác động dường như càng làm tăng tầm quan trọng của chính lời đồn mà cụ đến để dập tắt; nhưng cụ vẫn còn giận.

Cụ vẫn chưa xong với họ—Chưa, chưa—cụ sẽ còn xát thêm một hai lượt nữa.

Cụ không muốn xát mấy cô cháu gái, cụ chẳng có hiềm khích với họ—một phụ nữ trẻ tuổi coi được bao giờ cũng gợi lòng khoan dung nơi cụ Jolyon—nhưng cái gã James ấy, và có lẽ ở mức nhẹ hơn là mấy người kia, đáng nhận hết những gì sắp đến với họ. Và cụ cũng hỏi thăm Timothy.

Như thể cảm thấy một mối nguy nào đó đang đe dọa em trai, cô Juley bỗng mời cụ dùng trà: “Trà ở đằng kia,” cô nói, “nguội ngắt và dở tệ, đang đợi anh trong phòng khách phía sau, nhưng Smither sẽ pha trà mới cho anh.”

Cụ Jolyon đứng lên: “Cảm ơn,” cụ nói, nhìn thẳng vào James, “nhưng tôi không có thời gian uống trà, nghe chuyện bê bối và mọi thứ còn lại! Đến lúc tôi phải về nhà rồi. Tạm biệt, Julia; tạm biệt, Hester; tạm biệt, Winifred.”

Không thêm những lời từ biệt khách sáo, cụ sải bước ra ngoài.

Lại ngồi trong xe ngựa, cơn giận của cụ tan biến, vì cơn thịnh nộ của cụ bao giờ cũng thế—một khi đã quát ra, nó liền hết. Nỗi buồn trùm lên tâm trí cụ. Có lẽ cụ đã bịt được miệng họ, nhưng với cái giá nào! Với cái giá là biết chắc lời đồn cụ từng kiên quyết không tin lại là sự thật. June đã bị bỏ rơi, mà lại vì vợ con trai cái gã ấy! Cụ cảm thấy đó là sự thật và khiến lòng mình chai lại để đối xử với nó như thể không phải vậy; nhưng nỗi đau cụ giấu dưới quyết tâm này bắt đầu chậm rãi, chắc chắn trút ra thành một mối oán giận mù quáng đối với James và con trai ông.

Sáu phụ nữ và một người đàn ông bị bỏ lại trong phòng khách nhỏ bắt đầu trò chuyện, dễ dàng hết mức có thể sau một biến cố như vậy; bởi dẫu mỗi người đều biết một sự thật là chính mình không bao giờ buôn chuyện, mỗi người cũng biết sáu người kia đều làm thế; vì vậy tất cả vừa giận dữ vừa chẳng biết phải làm sao. Chỉ James im lặng, xao động đến tận đáy lòng.

Lát sau Francie nói: “Mọi người biết không, cháu nghĩ bác Jolyon đã thay đổi khủng khiếp trong năm vừa rồi. Cô nghĩ sao, cô Hester?”

Cô Hester khẽ rụt lại: “Ồ, hỏi cô Julia của cháu ấy!” cô nói; “ta chẳng biết gì về chuyện đó.”

Không ai khác ngại tán thành, và James u ám lẩm bẩm với sàn nhà: “Ông ấy chẳng còn được bằng nửa con người trước kia.”

“Cháu đã nhận thấy từ lâu,” Francie tiếp; “bác ấy già đi khủng khiếp.”

Cô Juley lắc đầu; khuôn mặt cô dường như bỗng biến thành một cái bĩu môi khổng lồ.

“Jolyon thân yêu tội nghiệp,” cô nói, “phải có ai lo liệu chuyện ấy cho anh ấy!”

Lại một khoảng im lặng; rồi như sợ hãi sẽ bị bỏ lại trơ trọi, cả năm người khách đồng loạt đứng lên và ra về.

Bà Small, cô Hester và con mèo của họ lại bị bỏ lại một mình; tiếng cánh cửa khép ở đằng xa báo hiệu Timothy đang đến.

Tối hôm ấy, khi cô Hester vừa thiếp ngủ trong phòng ngủ phía sau—căn phòng trước kia của cô Juley, trước khi cô Juley chuyển sang phòng của cô Ann—cửa phòng cô mở ra, và bà Small đội mũ ngủ màu hồng, tay cầm nến, bước vào: “Hester!” bà gọi. “Hester!”

Cô Hester khẽ làm tấm khăn trải giường sột soạt.

“Hester,” cô Juley nhắc lại để hoàn toàn chắc chắn mình đã đánh thức cô, “tôi thật sự lo cho Jolyon thân yêu tội nghiệp. Cô nghĩ _nên_”—cô Juley nhấn vào tiếng ấy—“làm gì?”

Cô Hester lại làm tấm khăn trải giường sột soạt; giọng cô vang lên yếu ớt, như van nài: “Làm ư? Sao tôi biết được?”

Cô Juley hài lòng quay đi, hết sức nhẹ nhàng đóng cửa để không quấy rầy Hester thân yêu, nhưng cánh cửa tuột khỏi tay cô và sập lại đánh “rầm”.

Trở về phòng mình, bà đứng bên cửa sổ nhìn vầng trăng phía trên những tán cây trong Công viên, qua một khe hở giữa đôi rèm sa được kéo kín để không ai nhìn thấy. Và ở đó, với khuôn mặt tròn trĩnh bĩu ra trong chiếc mũ hồng cùng đôi mắt ướt, bà nghĩ về “Jolyon thân yêu”, đã già đến thế và cô độc đến thế; nghĩ mình có thể giúp ích cho cụ ra sao; và nghĩ cụ rồi sẽ yêu thương bà, như bà chưa từng được yêu thương kể từ—kể từ khi Septimus tội nghiệp ra đi.