Người có của — Chương 17: Vũ hội tại nhà Roger
Chương 18 / 33 · Bài review Người có của
Nhà Roger ở Prince’s Gardens sáng trưng. Rất nhiều nến sáp được gom lại, đặt trong những chùm đèn pha lê cắt cạnh, và sàn gỗ ghép của phòng khách dài thông đôi phản chiếu những chòm sao ấy. Người ta tạo được một vẻ rộng rãi thực sự bằng cách chuyển hết đồ đạc lên các chiếu nghỉ tầng trên và viền quanh phòng bằng những thứ phụ kiện kỳ lạ của nền văn minh gọi là ghế băng dạ hội. Trong một góc xa, ẩn giữa những tàu cọ, là chiếc dương cầm nhỏ kiểu nhà quê, trên giá nhạc mở sẵn bản “Kensington Coil”.
Roger đã phản đối việc thuê ban nhạc. Ông hoàn toàn không hiểu họ cần ban nhạc để làm gì; ông sẽ không chịu tốn khoản ấy, thế là hết chuyện. Francie (mẹ cô, người từ lâu đã bị Roger làm cho mắc chứng khó tiêu kinh niên, thường đi ngủ vào những dịp như thế) đành tự bằng lòng với việc bổ sung cho tiếng dương cầm một chàng trai thổi kèn cornet; cô sắp những tàu cọ sao cho bất kỳ ai không nhìn thấu tận ruột gan sự việc đều có thể tưởng tượng rằng có vài nhạc công đang ẩn trong đó. Cô quyết bụng sẽ bảo họ chơi thật to — cây cornet có khối âm nhạc trong nó, miễn là người thổi chịu đặt cả tâm hồn vào.
Theo lối nói tao nhã hơn của người Mỹ, cuối cùng cô đã “xong” — thoát khỏi mê cung quanh co của những cách xoay xở bắt buộc phải đi qua trước khi có thể kết hợp sự phô trương thời thượng với tính tiết kiệm vững vàng của một Forsyte. Gầy mảnh nhưng rực rỡ trong chiếc váy màu vàng ngô, với rất nhiều voan tuyn phủ quanh vai, cô đi hết chỗ này sang chỗ khác, vừa xỏ găng vừa đưa mắt kiểm tra tất cả.
Với người quản gia thuê riêng cho buổi tiệc (vì Roger chỉ nuôi hầu gái), cô dặn dò chuyện rượu. Ông ta đã hiểu thật rõ rằng ông Forsyte muốn mang ra một tá champagne mua ở Whiteley’s chưa? Nhưng nếu chỗ ấy hết (cô không nghĩ là sẽ hết, hẳn phần đông các quý bà chỉ uống nước), nhưng nếu quả có hết thì đã có rượu champagne pha, ông ta phải liệu mà xoay xở cho tốt.
Cô ghét phải nói những chuyện như thế với một người quản gia, thật quá mất thể diện; nhưng biết làm gì được với cha mình? Quả thật, sau khi suốt thời gian qua cứ làm ra vẻ khó chịu về buổi khiêu vũ, lát nữa Roger sẽ xuống với nước da tươi rói và vầng trán u cục, cứ như chính ông là người khởi xướng; ông sẽ mỉm cười, rất có thể còn đưa người phụ nữ đẹp nhất vào dùng bữa khuya; rồi đúng hai giờ, khi mọi người vừa bắt được đà vui, ông sẽ lén lên chỗ các nhạc công, bảo họ chơi “God Save the Queen”, rồi bỏ đi.
Francie thành tâm hy vọng ông sẽ sớm chán, rồi lẳng lặng chuồn lên giường.
Ba bốn cô bạn gái tận tụy đang ở lại nhà để dự buổi khiêu vũ này đã cùng cô dùng trà và đùi gà nguội, được dọn vội vàng trong một căn phòng nhỏ bỏ không ở tầng trên; đám đàn ông bị phái ra ăn tối tại Câu lạc bộ Eustace, vì ai nấy đều thấy cần cho họ ăn thật no.
Đúng chín giờ, bà Small đến một mình. Bà trịnh trọng xin lỗi về việc Timothy vắng mặt, tuyệt nhiên không nhắc tới cô Hester, người vào phút chót đã bảo mình chẳng muốn nhọc công. Francie tiếp đón bà nồng nhiệt rồi xếp bà ngồi trên một chiếc ghế băng dạ hội; ở đó cô để bà lại, một mình phụng phịu trong bộ sa tanh màu oải hương — lần đầu tiên bà mặc đồ màu kể từ khi cô Ann qua đời.
Mấy cô bạn gái tận tụy lúc này từ phòng riêng bước ra; nhờ một sự sắp đặt thần kỳ, mỗi cô mặc một màu váy khác nhau, nhưng ai cũng phủ voan tuyn rộng rãi như nhau trên vai và trước ngực — bởi một định mệnh nào đó đã khiến cô nào cô nấy đều gầy nhẳng. Tất cả đều được dẫn tới chào bà Small. Không cô nào ở lại bên bà quá vài giây; họ tụ lại một chỗ, vừa chuyện trò vừa xoắn những tấm chương trình, lén nhìn ra cửa chờ người đàn ông đầu tiên xuất hiện.
Rồi một tốp người nhà Nicholas tới, lúc nào cũng đúng giờ — đó là mốt bên khu Ladbroke Grove; sát sau họ là Eustace cùng các bạn chàng, ủ ê và hơi sặc mùi khói thuốc.
Ba bốn người theo đuổi Francie lúc này lần lượt xuất hiện; cô đã bắt từng người hứa sẽ đến sớm. Tất cả đều nhẵn nhụi không râu và hoạt bát, mang cái vẻ hoạt bát đặc thù của lớp thanh niên mới xâm nhập Kensington gần đây; dường như họ chẳng hề bận tâm tới sự có mặt của nhau, và đều thắt cà vạt phồng ở hai đầu, mặc áo gilê trắng, đi tất có hoa văn nơi mắt cá. Ai cũng giấu khăn tay trong cổ tay áo. Họ bước đi đầy hăm hở, mỗi người khoác giáp bằng một vẻ vui tươi nhà nghề, như thể đến đây để lập đại công. Khi khiêu vũ, khuôn mặt họ hoàn toàn không mang vẻ trang nghiêm truyền thống của người đàn ông Anh trên sàn nhảy, mà vô tư, duyên dáng, dịu ngọt; họ nhún nhảy, xoay bạn nhảy vun vút, chẳng câu nệ phải theo thật đúng nhịp điệu.
Họ nhìn những người khiêu vũ khác với một vẻ khinh bạc nhẹ tênh — họ, đội kỵ binh nhẹ, những anh hùng của hàng trăm cuộc “nhảy nhót” ở Kensington — chỉ nơi họ người ta mới mong thấy được điệu bộ, nụ cười và bước chân đúng kiểu.
Sau đó dòng người đổ đến dồn dập; những bà đi kèm con gái lắng dần thành một lớp dọc bức tường đối diện lối vào, còn thành phần linh động làm xoáy nước trong gian phòng lớn mỗi lúc một dâng đầy.
Đàn ông khan hiếm, và những cô gái bị bỏ bên tường mang vẻ mặt thảm hại đặc trưng của họ, một nụ cười nhẫn nại, hơi chua chát, như muốn nói: “Ồ, không! Đừng hiểu lầm tôi, tôi biết anh không đi về phía tôi đâu. Tôi khó lòng mong được thế!” Và Francie sẽ nài nỉ một người theo đuổi mình, hoặc một cậu trai non nớt: “Nào, chiều em đi, cho em giới thiệu anh với cô Pink nhé; cô ấy thật sự rất dễ mến!” rồi cô sẽ dẫn chàng tới và nói: “Cô Pink — ông Gathercole. Cô dành cho ông ấy một điệu được chứ?” Bấy giờ cô Pink, vẫn với nụ cười gượng gạo, hơi đỏ mặt, sẽ đáp: “Ồ! Tôi nghĩ là được!” rồi che tấm phiếu còn trống của mình đi, cô ghi tên Gathercole vào đó, nắn nót đầy say mê ở ô mà chàng đề nghị, đâu chừng điệu phụ thứ hai.
Nhưng khi chàng trai đã lẩm bẩm rằng trời nóng rồi bước đi, cô lại rơi về tư thế mong chờ vô vọng, về với nụ cười nhẫn nại, hơi chua chát của mình.
Những bà mẹ chậm rãi quạt mặt, dõi theo con gái, và trong mắt họ có thể đọc thấy toàn bộ câu chuyện về vận may của các cô. Còn bản thân họ, ngồi hết giờ này sang giờ khác, mệt lử, im lặng hoặc chốc chốc mới nói vài câu — có hề gì, miễn là các cô gái đang vui! Nhưng phải nhìn chúng bị hờ hững, bị người ta lướt qua! Chao ôi! Họ vẫn cười, nhưng đôi mắt đâm nhói như mắt một con thiên nga bị xúc phạm; họ chỉ muốn túm lấy cạp quần chẽn kiểu cách đang chùng xuống của chàng Gathercole trẻ tuổi mà lôi hắn đến trước con gái mình — đồ ranh con!
Và mọi sự tàn nhẫn cùng khắc nghiệt của đời sống, nỗi thương tâm và những cơ hội bất bình đẳng của nó, thói tự phụ, lòng quên mình và đức nhẫn nại, đều được bày ra trên chiến trường của phòng khiêu vũ Kensington này.
Đây đó còn có cả những đôi tình nhân — không phải loại tình nhân như của Francie, một giống riêng biệt, mà là những người yêu nhau giản dị — run rẩy, đỏ mặt, lặng thinh, tìm nhau bằng những ánh nhìn vụt qua, tìm cách gặp và chạm vào nhau trong mê lộ của điệu nhảy; và thỉnh thoảng, khi được nhảy cùng nhau, họ khiến một người đứng xem nào đó sững lại vì ánh sáng trong mắt họ.
Không sớm hơn một giây trước mười giờ, gia đình James mới đến — Emily, Rachel, Winifred (Dartie bị bỏ lại nhà vì một lần trước đã uống quá nhiều champagne của Roger), và Cicely, cô út, lần đầu ra mắt xã hội; theo sau họ trên một chiếc xe hansom từ dinh thự của cha mẹ, nơi hai người đã dùng bữa tối, là Soames và Irene.
Tất cả các quý bà này đều mặc váy có dây vai và không phủ voan tuyn — chỉ bằng cách phô da thịt táo bạo hơn ấy, họ đã cho thấy ngay mình đến từ phía thời thượng hơn của Công viên.
Soames lách lưng tránh va vào những người khiêu vũ, chọn một chỗ sát tường. Tự che chắn bằng nụ cười nhợt nhạt, hắn đứng quan sát. Hết điệu waltz này bắt đầu rồi chấm dứt đến điệu waltz khác; hết đôi này đến đôi khác lướt qua, môi mỉm cười, tiếng cười và những mẩu chuyện trò bay lại; hoặc môi mím chặt, mắt kiếm tìm trong đám đông; hoặc nữa, môi hé mở im lìm, mắt chỉ nhìn nhau. Hương hội hè, mùi hoa, mùi tóc, mùi những thứ tinh chất phụ nữ yêu thích, dâng lên ngột ngạt trong hơi nóng của đêm hè.
Lặng thinh, nụ cười phảng phất khinh miệt, Soames dường như chẳng để ý điều gì; nhưng thỉnh thoảng, khi tìm thấy thứ đang kiếm, mắt hắn lại dán vào một điểm trong đám đông không ngừng chuyển động, và nụ cười tắt khỏi môi.
Hắn không nhảy với ai. Có những gã nhảy với vợ mình; ý thức về “phép tắc” chưa bao giờ cho phép hắn nhảy với Irene kể từ ngày họ kết hôn, và chỉ Thượng đế của nhà Forsyte mới biết đó có phải là một sự nhẹ nhõm đối với hắn hay không.
Nàng lướt qua, nhảy với những người đàn ông khác, chiếc váy màu hoa diên vĩ bồng bềnh quanh chân. Nàng nhảy đẹp; hắn đã chán nghe phụ nữ nói bằng nụ cười chua chát: “Vợ ông khiêu vũ mới đẹp làm sao, ông Forsyte — ngắm bà ấy thật là thích!” Chán cả việc đáp lại họ bằng cái liếc xéo: “Bà thấy thế à?”
Một đôi trẻ đứng gần đó thay phiên nhau phe phẩy chiếc quạt, tạo nên một luồng gió khó chịu. Francie và một người theo đuổi cô đứng bên cạnh. Họ đang nói chuyện tình yêu.
Hắn nghe giọng Roger phía sau, đang ra lệnh cho một người hầu về bữa ăn khuya. Mọi thứ thật hạng hai! Hắn ước gì mình đã không đến! Hắn từng hỏi Irene có muốn hắn đi cùng không; nàng đáp bằng nụ cười khiến người ta phát điên ấy: “Ồ, không!”
Vì sao hắn lại đến? Suốt mười lăm phút qua, hắn thậm chí không nhìn thấy nàng. George đang tiến lại với gương mặt kiểu Quilp; đã quá muộn để tránh đường hắn.
“Anh thấy ‘Gã Cướp Biển’ chưa?” tay hề được đặc quyền ấy hỏi; “hắn đang xông pha trên đường chiến — cắt tóc rồi, đủ cả!”
Soames nói chưa thấy, rồi băng qua căn phòng đang vơi đi một nửa trong quãng nghỉ giữa hai điệu nhảy, hắn bước ra ban công và nhìn xuống phố.
Một cỗ xe vừa chở khách đến muộn ghé lại, và quanh cửa lảng vảng vài người trong số những kẻ kiên nhẫn quan sát đường phố London, luôn mọc lên theo tiếng gọi của ánh sáng hay âm nhạc; những gương mặt nhợt nhạt ngước lên trên thân hình đen đúa, xơ xác, mang vẻ nhìn trơ lì khiến Soames bực bội. Tại sao người ta lại cho phép họ đứng lảng vảng; sao viên cảnh sát không đuổi họ đi?
Nhưng viên cảnh sát chẳng để ý tới họ; hai chân anh ta dạng ra trên dải thảm đỏ thẫm trải ngang vỉa hè; khuôn mặt dưới chiếc mũ sắt cũng mang vẻ nhìn trơ lì như họ.
Bên kia đường, qua hàng rào sắt, Soames thấy những cành cây bóng lên, khẽ lay động trong gió dưới ánh đèn phố; xa hơn nữa là những ngọn đèn trên tầng cao của các ngôi nhà phía đối diện, biết bao con mắt nhìn xuống khoảng tối yên tĩnh của khu vườn; và trên tất cả là bầu trời, bầu trời London kỳ diệu ấy, rắc đầy vô vàn phản quang từ muôn ngọn đèn; một mái vòm đan giữa các vì sao bằng sự khúc xạ của nhu cầu và ảo tưởng con người — tấm gương mênh mông của cảnh huy hoàng lẫn khốn cùng, đêm này qua đêm khác trải tấm màn giễu cợt hiền từ của nó trên hàng dặm nhà cửa và vườn tược, dinh thự và khu ổ chuột, trên những người nhà Forsyte, cảnh sát, cùng những kẻ kiên nhẫn đứng nhìn ngoài phố.
Soames quay đi, ẩn mình trong hốc tường mà nhìn vào căn phòng sáng rực. Ngoài này mát hơn. Hắn thấy những người mới đến là June cùng ông nội nàng bước vào. Điều gì khiến họ tới muộn thế? Hai ông cháu đứng bên cửa. Trông họ mệt lả. Thật không ngờ bác Jolyon lại ra ngoài vào giờ này! Sao June không đi với Irene như mọi khi? Và hắn chợt nhận ra đã lâu rồi mình chẳng thấy June đâu.
Uể oải quan sát gương mặt nàng với chút ác ý, hắn thấy nó biến đổi, tái nhợt đến nỗi hắn tưởng nàng sắp ngã quỵ, rồi đỏ bừng như lửa. Quay lại xem nàng đang nhìn gì, hắn thấy vợ mình khoác tay Bosinney, từ nhà kính cuối phòng bước ra. Mắt nàng ngước lên nhìn chàng, như đang trả lời một câu hỏi chàng vừa đặt, còn chàng thì chăm chú nhìn nàng.
Soames lại nhìn June. Bàn tay nàng đặt trên cánh tay cụ Jolyon; nàng dường như đang khẩn cầu điều gì. Hắn thấy vẻ ngạc nhiên trên mặt bác mình; hai người quay đi, bước qua cửa rồi khuất khỏi tầm mắt.
Âm nhạc lại nổi lên — một điệu waltz — và vẫn bất động như pho tượng trong hốc cửa sổ, gương mặt không biến sắc nhưng môi không còn nụ cười, Soames chờ đợi. Lát sau, chỉ cách ban công tối chưa đầy một thước, vợ hắn và Bosinney lướt qua. Hắn bắt được hương dành dành nàng cài trên người, thấy lồng ngực nàng nâng lên hạ xuống, vẻ mơ màng trong mắt, đôi môi hé mở, cùng một nét trên gương mặt mà hắn chưa từng biết. Họ nhảy qua theo nhịp chậm đong đưa, và với hắn dường như họ đang ôm ghì lấy nhau; hắn thấy nàng ngước đôi mắt mềm và tối lên nhìn Bosinney, rồi lại cụp xuống.
Mặt trắng bệch, hắn quay lại ban công, tựa người vào lan can mà nhìn xuống quảng trường; những bóng người ấy vẫn còn đó, bền bỉ đờ đẫn nhìn lên ánh sáng; gương mặt viên cảnh sát cũng ngửa lên, trừng trừng, nhưng hắn chẳng thấy gì trong số đó. Phía dưới, một cỗ xe dừng lại, hai bóng người bước vào rồi xe chạy đi...
Tối hôm ấy, June và cụ Jolyon ngồi vào bàn ăn đúng giờ thường lệ. Cô gái mặc chiếc váy cổ cao như mọi khi, còn cụ Jolyon không thay lễ phục.
Trong bữa sáng, nàng đã nói tới buổi khiêu vũ ở nhà bác Roger, nàng muốn đi; nàng bảo mình đã ngốc đến mức không nghĩ ra chuyện nhờ ai đưa đi. Bây giờ thì quá muộn rồi.
Cụ Jolyon ngước đôi mắt sắc lên. June xưa nay đương nhiên vẫn đi dự khiêu vũ cùng Irene! Và chủ ý nhìn thẳng vào nàng, cụ hỏi: “Sao cháu không đi với Irene?”
Không! June không muốn hỏi Irene; nàng sẽ chỉ đi nếu — nếu ông nàng không phiền, chỉ lần này thôi, chỉ một lúc thôi!
Trước ánh mắt háo hức mà mỏi mòn ấy, cụ Jolyon càu nhàu ưng thuận. Cụ bảo không hiểu nàng muốn gì ở một buổi khiêu vũ thế này, hẳn chỉ là chuyện xoàng, cụ dám cá như vậy; mà nàng thì chẳng hợp với nó hơn một con mèo! Điều nàng cần là gió biển, và sau cuộc họp đại hội của công ty Globular Gold Concessions, cụ sẵn sàng đưa nàng đi. Nàng không muốn đi xa ư? Chà! Nàng sẽ làm mình kiệt sức mất! Liếc nàng một cái buồn rầu, cụ lại tiếp tục bữa sáng.
June ra ngoài từ sớm, bồn chồn lang thang trong hơi nóng. Dáng người nhỏ nhắn, nhẹ tênh, dạo gần đây vẫn uể oải đi lo công việc, nay bừng bừng như lửa. Nàng mua ít hoa cho mình. Nàng muốn — nàng nhất định phải trông thật đẹp. Chàng sẽ có mặt! Nàng biết rõ chàng có thiệp mời. Nàng sẽ cho chàng thấy mình chẳng hề quan tâm. Nhưng sâu tận đáy lòng, nàng quyết tối ấy sẽ giành chàng trở lại. Nàng trở về với gương mặt đỏ hồng, chuyện trò vui vẻ suốt bữa trưa; cụ Jolyon có mặt ở đó, và cụ bị đánh lừa.
Buổi chiều, một cơn nức nở tuyệt vọng bất chợt trùm lấy nàng. Nàng ghì mặt vào gối để bóp nghẹt tiếng khóc, nhưng đến khi cơn ấy cuối cùng cũng ngừng, trong gương nàng thấy một khuôn mặt sưng húp, đôi mắt đỏ hoe, quanh mắt là những quầng tím. Nàng ở lại trong căn phòng kéo rèm tối cho tới giờ ăn tối.
Suốt bữa ăn lặng lẽ ấy, cuộc giằng co vẫn tiếp diễn trong lòng nàng.
Trông nàng mờ nhạt và kiệt sức đến nỗi cụ Jolyon bảo “Sankey” hủy xe, cụ không cho nàng ra ngoài... Nàng phải đi ngủ! Nàng không chống lại. Nàng lên phòng và ngồi trong bóng tối. Mười giờ, nàng rung chuông gọi hầu gái.
“Mang ít nước nóng lên, rồi xuống nói với ông Forsyte rằng tôi đã nghỉ ngơi hoàn toàn khỏe lại. Bảo rằng nếu ông ấy quá mệt thì tôi có thể tự đi dự khiêu vũ một mình.”
Cô hầu gái nghiêng mắt nhìn, June liền quay sang quát bằng giọng uy quyền: “Đi đi,” nàng nói, “mang nước nóng lên ngay!”
Bộ váy dạ hội của nàng vẫn nằm trên sofa; với một vẻ chăm chút gần như dữ dội, nàng sửa soạn xiêm y, cầm hoa trong tay rồi đi xuống, khuôn mặt nhỏ nhắn ngẩng cao dưới sức nặng của mái tóc. Khi đi ngang qua, nàng nghe thấy tiếng cụ Jolyon trong phòng.
Hoang mang và bực bội, cụ đang thay quần áo. Đã quá mười giờ, họ sẽ không đến nơi trước mười một giờ; con bé điên rồi. Nhưng cụ không dám trái ý nàng — vẻ mặt nàng trong bữa tối cứ ám ảnh cụ.
Bằng hai chiếc bàn chải gỗ mun lớn, cụ chải tóc cho tới khi nó ánh lên như bạc dưới ngọn đèn; rồi cụ cũng bước ra cầu thang tối âm u.
June gặp cụ ở tầng dưới, và không nói một lời, hai ông cháu đi ra xe.
Sau chuyến xe tưởng chừng kéo dài vĩnh viễn ấy, khi bước vào phòng khách nhà Roger, nàng giấu nỗi căng thẳng và xúc động đau đớn sau chiếc mặt nạ cương quyết. Cảm giác hổ thẹn trước điều có thể bị gọi là “chạy theo chàng” bị nỗi sợ chàng không có mặt, rằng rốt cuộc nàng sẽ không được nhìn thấy chàng, cùng quyết tâm lì lợm phải giành chàng trở lại — bằng cách nào đó, chính nàng cũng không biết bằng cách nào — đè nghẹt.
Cảnh phòng khiêu vũ với mặt sàn bóng loáng mang lại cho nàng cảm giác vui sướng, khải hoàn, bởi nàng yêu khiêu vũ; lúc nhảy, nàng bồng bềnh, nhẹ đến mức giống một linh hồn bé nhỏ, hăm hở và đầy nghị lực. Chắc chắn chàng sẽ mời nàng nhảy, và nếu chàng nhảy với nàng, mọi chuyện sẽ lại như xưa. Nàng háo hức nhìn quanh.
Cảnh Bosinney cùng Irene từ nhà kính bước ra, gương mặt chàng mang vẻ kỳ lạ của một người hoàn toàn đắm chìm, giáng xuống nàng quá đột ngột. Họ chưa nhìn thấy — không ai được nhìn thấy — nỗi đau của nàng, kể cả ông nàng.
Nàng đặt tay lên cánh tay Jolyon và nói thật khẽ:
“Cháu phải về nhà, ông ạ; cháu thấy khó chịu.”
Cụ vội vã đưa nàng đi, lẩm bẩm với chính mình rằng cụ đã biết chuyện sẽ ra thế này.
Với nàng, cụ không nói gì; mãi đến khi họ lại ngồi trong xe — nhờ một cơ may nào đó, cỗ xe vẫn nấn ná gần cửa — cụ mới hỏi: “Có chuyện gì thế, cháu yêu?”
Cảm thấy toàn thân hình mảnh dẻ của nàng rung lên vì nức nở, cụ hoảng hốt khủng khiếp. Ngày mai nàng phải được bác sĩ Blank khám. Cụ nhất định sẽ bắt nàng đi. Cụ không thể để nàng thế này... Nào, nào!
June ghìm được tiếng nức nở, siết tay cụ một cách cuống cuồng rồi ngả người vào góc xe, mặt vùi trong khăn choàng.
Cụ chỉ thấy đôi mắt nàng mở trừng trừng, bất động trong bóng tối, nhưng những ngón tay gầy guộc của cụ không ngừng vuốt ve bàn tay nàng.