Người có của — Chương 19: Chẩn đoán một Forsyte
Chương 20 / 33 · Bài review Người có của
Bản chất của một Forsyte là không biết mình là Forsyte; nhưng Jolyon trẻ ý thức rất rõ mình thuộc giống ấy. Chàng chưa biết điều đó cho tới sau bước đi quyết định đã biến chàng thành kẻ bị ruồng bỏ; từ đó về sau, nhận thức ấy luôn ở bên chàng. Chàng cảm thấy nó suốt thời gian sống chung, trong mọi cách đối xử với người vợ thứ hai, người nhất quyết không phải một Forsyte.
Chàng biết nếu mình không sở hữu ở mức cao con mắt nhận ra thứ mình muốn, sự bền bỉ bám giữ nó, ý thức rằng thật ngu xuẩn nếu phí hoài thứ mà mình đã phải trả giá đắt — nói cách khác, “ý thức sở hữu” — thì chàng không bao giờ có thể giữ nàng ở bên mình (có lẽ cũng chẳng bao giờ muốn giữ nàng) qua mọi khó khăn tiền bạc, mọi sự khinh miệt và ngộ nhận của mười lăm năm ấy; không bao giờ thuyết phục được nàng kết hôn với mình sau khi người vợ đầu qua đời; không bao giờ sống qua được tất cả, để rồi cuối cùng bước ra, có thể nói, gầy đi nhưng vẫn mỉm cười.
Chàng là một trong những người đàn ông ngồi xếp bằng như pho tượng thần Trung Hoa thu nhỏ trong chiếc lồng của trái tim mình, đời đời mỉm cười với bản thân một nụ cười ngờ vực. Không phải nụ cười thân mật và vĩnh cửu ấy gây trở ngại cho hành động của chàng; hành động ấy, cũng như chiếc cằm và tính khí chàng, là một sự pha trộn hết sức đặc biệt giữa mềm mỏng và cương quyết.
Chàng còn ý thức mình là Forsyte trong công việc, trong nghề vẽ màu nước mà chàng dành vào biết bao sinh lực, lúc nào cũng để một mắt nhìn chính mình, như thể chàng không thể hoàn toàn nghiêm túc với một thú theo đuổi thiếu thực tế đến vậy, và bao giờ cũng mang nỗi bất an kỳ lạ rằng mình không kiếm được nhiều tiền hơn từ nó.
Vậy chính ý thức về ý nghĩa của việc làm một Forsyte đã khiến chàng đón nhận lá thư sau từ cụ Jolyon bằng một cảm giác pha trộn giữa cảm thông và ghê ngán:
“NHÀ SHELDRAKE, BROADSTAIRS, ngày 1 tháng Bảy.
“JO THÂN MẾN,” (Nét chữ của Cha hầu như không thay đổi trong hơn ba mươi năm chàng nhớ được.) “Cha con ta đã ở đây hai tuần, nhìn chung thời tiết tốt. Không khí làm người ta khỏe khoắn, nhưng gan cha lại trục trặc nên cha cũng rất mừng nếu được trở về thành phố. June thì cha không thể nói được gì nhiều, sức khỏe và tinh thần nó đều rất kém, cha chẳng thấy chuyện này rồi sẽ đi đến đâu. Nó không nói gì, nhưng rõ ràng nó cứ nghĩ mãi về cuộc đính hôn này, một cuộc đính hôn mà chẳng phải đính hôn, rồi — có Chúa biết là gì. Cha vô cùng nghi ngờ việc có nên cho nó trở lại London trong tình hình hiện nay không, nhưng nó bướng đến mức có thể bất chợt nảy ý tự về bất cứ lúc nào. Sự thật là phải có người nói chuyện với Bosinney để biết hắn định thế nào. Cha e chính mình mà làm thì chắc chắn sẽ quở cho hắn một trận, nhưng cha nghĩ con quen hắn ở Câu lạc bộ, có thể nói một lời và dò xem anh chàng ấy đang làm gì. Dĩ nhiên con tuyệt đối không được khiến June bị ràng buộc. Trong vài ngày tới, cha sẽ vui lòng nhận tin con đã lấy được thông tin gì hay chưa. Tình cảnh này khiến cha vô cùng khổ tâm, ban đêm cha cứ lo nghĩ về nó. Gửi tình yêu của cha tới Jolly và Holly.
“Cha của con, JOLYON FORSYTE.”
Jolyon trẻ suy nghĩ về lá thư lâu và nghiêm túc đến nỗi vợ chàng nhận ra vẻ bận tâm ấy, hỏi chàng có chuyện gì. Chàng đáp: “Không có gì.”
Một nguyên tắc cố định của chàng là không bao giờ nhắc tới June. Nàng có thể cảnh giác, chàng không biết nàng sẽ nghĩ gì; vì vậy chàng vội xóa khỏi thái độ mọi dấu vết trầm tư, nhưng việc này chàng thành công cũng chỉ ngang với cha mình, bởi trong những vấn đề đòi hỏi sự tế nhị gia đình, chàng đã thừa hưởng trọn vẻ trong suốt của cụ Jolyon; còn bà Jolyon trẻ, vừa lo công việc trong nhà, vừa đi lại với đôi môi mím chặt, lén ném về phía chàng những ánh mắt không sao dò thấu.
Buổi chiều, chàng lên đường tới Câu lạc bộ với lá thư trong túi mà vẫn chưa quyết định được gì.
Dò hỏi một người đàn ông về “ý định của anh ta” là việc đặc biệt khó chịu đối với chàng; vị thế bất thường của chính chàng cũng không làm nỗi khó chịu ấy giảm bớt. Thật giống gia đình chàng, thật giống tất cả những người họ quen biết và giao du, khi áp đặt cái họ gọi là quyền của mình lên một người đàn ông, bắt anh ta phải làm cho đúng mực; thật giống họ khi mang những nguyên tắc kinh doanh vào các mối quan hệ riêng tư.
Và cái câu trong thư — “Dĩ nhiên con tuyệt đối không được khiến June bị ràng buộc” — đã để lộ toàn bộ câu chuyện biết bao.
Tuy vậy, lá thư, với nỗi bất bình riêng, sự lo lắng cho June, lời “quở cho hắn một trận”, tất cả đều hết sức tự nhiên. Cha chàng muốn biết Bosinney định làm gì, muốn nổi giận, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Thật khó từ chối! Nhưng vì sao lại giao việc ấy cho chàng? Điều đó chắc chắn hết sức không phải phép; nhưng miễn một Forsyte lấy được thứ mình nhắm đến thì phương tiện nào cũng không quá đáng bận tâm, với điều kiện bề ngoài vẫn được giữ gìn.
Chàng phải bắt đầu ra sao, hay từ chối thế nào? Cả hai đều có vẻ bất khả. Thế đấy, Jolyon trẻ!
Chàng đến Câu lạc bộ lúc ba giờ, và người đầu tiên nhìn thấy chính là Bosinney, đang ngồi trong một góc nhìn trân trân ra cửa sổ.
Jolyon trẻ ngồi xuống cách đó không xa và bồn chồn cân nhắc lại vị thế của mình. Chàng kín đáo nhìn Bosinney đang ngồi đó không hề hay biết. Chàng không thật quen Bosinney, và có lẽ đây là lần đầu chàng quan sát anh kỹ lưỡng; một người có vẻ ngoài khác thường, từ quần áo, gương mặt đến phong thái đều không giống phần đông hội viên khác — còn bản thân Jolyon trẻ, dù tâm trạng và tính khí đã đổi khác đến đâu, vẫn luôn giữ vẻ chỉn chu kín đáo của ngoại hình Forsyte. Trong cả nhà Forsyte, chỉ mình chàng không biết biệt danh của Bosinney. Người đàn ông này khác thường, không lập dị, nhưng khác thường; trông anh cũng mỏi mệt, hốc hác, hai má hõm dưới đôi gò má rộng và cao, tuy không hề có vẻ bệnh tật, bởi thân hình anh chắc khỏe, mái tóc xoăn dường như biểu lộ trọn sức sống của một thể chất tốt đẹp.
Một điều gì đó trên gương mặt và trong dáng ngồi của anh chạm tới Jolyon trẻ. Chàng biết đau khổ trông ra sao, và người này có vẻ đang đau khổ.
Chàng đứng dậy, chạm vào cánh tay anh.
Bosinney giật mình, nhưng khi thấy đó là ai, anh không tỏ dấu hiệu lúng túng nào.
Jolyon trẻ ngồi xuống.
“Lâu rồi tôi không gặp anh,” chàng nói. “Ngôi nhà của em họ tôi tiến triển thế nào?”
“Khoảng một tuần nữa sẽ xong.”
“Xin chúc mừng anh!”
“Cảm ơn — tôi không biết việc ấy có gì đáng chúc mừng lắm không.”
“Không ư?” Jolyon trẻ hỏi; “tôi cứ tưởng anh sẽ mừng vì trút được khỏi tay một công việc kéo dài như thế; nhưng có lẽ anh cũng cảm thấy như tôi khi rời một bức tranh — giống như một đứa con?”
Chàng ân cần nhìn Bosinney.
“Phải,” người kia nói thân mật hơn, “nó rời khỏi mình, thế là hết. Tôi không biết anh vẽ tranh.”
“Chỉ màu nước thôi; tôi không thể nói mình tin vào tác phẩm của mình.”
“Không tin vào nó ư? Vậy — sao anh làm được? Công việc chẳng có ích gì trừ phi ta tin vào nó!”
“Hay,” Jolyon trẻ nói; “chính xác là điều tôi vẫn luôn nói. Nhân tiện, anh có nhận thấy hễ ai nói ‘Hay’ thì người ấy luôn thêm ‘chính xác là điều tôi vẫn luôn nói’ không? Nhưng nếu anh hỏi sao tôi làm được, tôi sẽ đáp: bởi tôi là một Forsyte.”
“Một Forsyte! Tôi chưa bao giờ nghĩ anh là một người trong số họ!”
“Một Forsyte,” Jolyon trẻ đáp, “không phải loài thú hiếm. Trong số hội viên Câu lạc bộ này có hàng trăm. Ngoài phố kia có hàng trăm; anh đi đâu cũng gặp!”
“Xin hỏi anh nhận ra họ bằng cách nào?” Bosinney nói.
“Bằng ý thức sở hữu. Một Forsyte nhìn sự vật theo cách thực tế — có thể nói là theo lẽ thường — và cái nhìn thực tế về sự vật về căn bản dựa trên ý thức sở hữu. Anh sẽ nhận thấy một Forsyte không bao giờ để lộ bản thân.”
“Anh đùa đấy à?”
Mắt Jolyon trẻ lấp lánh.
“Không hẳn. Chính tôi là Forsyte nên chẳng có tư cách nói. Nhưng tôi là một thứ chó lai thuần chủng; còn anh thì không thể nhầm được: Anh khác tôi cũng như tôi khác bác James, người là mẫu vật Forsyte hoàn hảo. Ý thức sở hữu của bác ấy cực đoan, trong khi anh gần như chẳng có chút nào. Nếu thiếu tôi đứng giữa, hai người sẽ giống hai loài khác nhau. Tôi là mắt xích còn thiếu. Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều là nô lệ của tài sản, và tôi thừa nhận đây là vấn đề mức độ, nhưng người tôi gọi là một ‘Forsyte’ là kẻ rõ ràng làm nô lệ cho tài sản nhiều hơn là không. Hắn biết thứ gì tốt, biết thứ gì an toàn, và cách hắn nắm chặt vật sở hữu — bất kể là vợ, nhà, tiền hay danh tiếng — chính là dấu xác nhận hắn.”
“À!” Bosinney lẩm bẩm. “Anh nên đăng ký độc quyền từ ấy.”
“Tôi muốn,” Jolyon trẻ nói, “thuyết giảng về nó:
“Đặc tính và phẩm chất của một Forsyte: Con vật nhỏ này, tuy bị lời chế giễu của đồng loại làm cho xao động, vẫn không thay đổi đường đi trước tiếng cười của những sinh vật xa lạ (anh hay tôi). Do di truyền mắc tật cận thị, nó chỉ nhận ra những cá thể cùng loài, giữa chúng nó trải qua một đời bình yên cạnh tranh.”
“Anh nói về họ,” Bosinney nói, “như thể họ là một nửa nước Anh.”
“Đúng thế,” Jolyon trẻ nhắc lại, “một nửa nước Anh, mà còn là nửa tốt hơn, nửa an toàn, nửa hưởng lãi ba phần trăm, nửa có trọng lượng. Chính của cải và sự vững vàng của họ khiến mọi thứ thành khả dĩ; khiến nghệ thuật của anh thành khả dĩ, khiến văn chương, khoa học, thậm chí tôn giáo thành khả dĩ. Không có những người Forsyte — vốn chẳng tin vào bất kỳ thứ nào ấy mà chỉ biến tất cả thành công cụ — thì chúng ta sẽ ở đâu? Thưa ông bạn thân mến, những người Forsyte là giới trung gian, giới buôn bán, cột trụ xã hội, đá góc của quy ước; tất cả những gì đáng ngưỡng mộ!”
“Tôi không biết mình có bắt đúng ý anh không,” Bosinney nói, “nhưng tôi đoán trong nghề của tôi cũng có khối người Forsyte, như cách anh gọi họ.”
“Chắc chắn,” Jolyon trẻ đáp. “Đại đa số kiến trúc sư, họa sĩ hay nhà văn đều không có nguyên tắc, cũng như mọi Forsyte khác. Nghệ thuật, văn chương, tôn giáo sống sót nhờ số ít những kẻ gàn thật sự tin vào chúng, và số đông Forsyte khai thác chúng vào mục đích thương mại. Ước tính dè dặt nhất, ba phần tư số viện sĩ Hàn lâm Hoàng gia là Forsyte, bảy phần tám số tiểu thuyết gia, cùng một phần lớn giới báo chí. Về khoa học tôi không dám nói; trong tôn giáo họ có đại diện thật huy hoàng; ở Viện Thứ dân có lẽ họ đông hơn bất cứ đâu; tầng lớp quý tộc thì đã tự nói thay mình. Nhưng tôi không cười đâu. Đi ngược lại số đông rất nguy hiểm, mà là một số đông như thế!” Chàng nhìn thẳng vào Bosinney: “Để bất cứ thứ gì cuốn mình đi cũng nguy hiểm — một ngôi nhà, một bức tranh, một — người đàn bà!”
Họ nhìn nhau. — Và như thể vừa làm điều không Forsyte nào làm — để lộ chính mình — Jolyon trẻ rút vào vỏ. Bosinney phá tan im lặng.
“Tại sao anh lại lấy chính người nhà mình làm mẫu?” anh nói.
“Người nhà tôi,” Jolyon trẻ đáp, “không quá cực đoan, và cũng có những nét riêng tư đặc thù như mọi gia đình khác, nhưng họ sở hữu ở mức đáng kể hai phẩm chất là phép thử thật sự của một Forsyte — khả năng không bao giờ hiến mình trọn cả hồn lẫn xác cho bất cứ điều gì, và ‘ý thức sở hữu’.”
Bosinney mỉm cười: “Thế còn ông to lớn kia chẳng hạn?”
“Anh nói Swithin à?” Jolyon trẻ hỏi. “À! Trong Swithin vẫn còn điều gì đó nguyên thủy. Thành thị và đời sống trung lưu chưa tiêu hóa được bác ấy. Tất cả những thế kỷ xa xưa của lao động đồng áng và sức mạnh súc vật đã lắng vào bác ấy, mắc kẹt ở đó, bất chấp vẻ đường bệ của bác.”
Bosinney có vẻ suy ngẫm. “Chà, anh đã tả cậu em họ Soames của mình sống động như thật,” chàng đột nhiên nói. “Hắn sẽ không bao giờ tự bắn vỡ sọ.”
Jolyon trẻ ném cho anh một cái nhìn xuyên thấu.
“Không,” chàng nói; “hắn sẽ không làm thế. Chính vì vậy hắn là kẻ phải được tính đến. Hãy coi chừng cách họ nắm giữ! Cười thì dễ, nhưng đừng hiểu lầm tôi. Khinh thường một Forsyte chẳng hay đâu; coi nhẹ họ cũng chẳng hay!”
“Vậy mà chính anh đã làm thế!”
Jolyon trẻ thừa nhận đòn đánh trúng bằng cách đánh mất nụ cười.
“Anh quên rồi,” chàng nói với một niềm kiêu hãnh kỳ lạ, “tôi cũng biết bám giữ — chính tôi là một Forsyte. Tất cả chúng ta đều đứng trên đường đi của những sức mạnh lớn lao. Người rời khỏi chỗ che chắn của bức tường — chà — anh hiểu ý tôi. Tôi,” chàng kết thúc thật khẽ, như đang thốt một lời đe dọa, “không khuyên mọi người đều đi theo đường của tôi. Còn tùy.”
Máu dồn lên mặt Bosinney nhưng chẳng bao lâu lại rút xuống, để nó trở về màu nâu vàng như trước. Anh bật một tiếng cười ngắn khiến đôi môi giữ nguyên thành nụ cười dữ dằn, kỳ lạ; đôi mắt anh giễu cợt Jolyon trẻ.
“Cảm ơn,” anh nói. “Anh tử tế quá sức. Nhưng các anh không phải những kẻ duy nhất biết bám giữ.” Anh đứng lên.
Jolyon trẻ nhìn theo anh bước đi, rồi tựa đầu lên tay, thở dài.
Trong căn phòng ngái ngủ gần như trống không, chỉ có tiếng báo sột soạt và tiếng que diêm cạo lên để châm lửa. Chàng ngồi bất động rất lâu, sống lại những ngày chính mình cũng từng ngồi hàng giờ nhìn đồng hồ, chờ từng phút trôi qua — những giờ dài đầy nỗi giày vò của bất định và cơn đau nhức dữ dội, ngọt ngào; nỗi thống khổ chậm rãi, khoái lạc của mùa ấy trở về với chàng trong tất cả độ nhói buốt xưa kia. Hình ảnh Bosinney với gương mặt hốc hác và đôi mắt bất an luôn lang thang về phía đồng hồ đã đánh thức trong chàng một niềm thương xót pha lẫn sự ghen tị kỳ lạ, không thể cưỡng lại.
Chàng biết quá rõ những dấu hiệu ấy. Bosinney đang đi về đâu — tới một số phận thế nào? Người đàn bà đang hút anh về phía mình bằng lực nam châm mà không một cân nhắc danh dự, không nguyên tắc, không lợi ích nào chống lại nổi, là người thế nào; một lực hút mà lối thoát duy nhất là chạy trốn.
Chạy trốn! Nhưng vì sao Bosinney phải chạy? Một người đàn ông chạy khi anh ta có nguy cơ phá hủy mái ấm gia đình, khi có con trẻ, khi anh ta cảm thấy mình đang giẫm nát những lý tưởng, đập vỡ một điều gì đó. Nhưng ở đây, theo những gì chàng nghe được, mọi thứ đã được đập vỡ sẵn cho anh.
Bản thân chàng đã không chạy, và nếu mọi chuyện xảy lại, chàng cũng sẽ không chạy. Vậy mà chàng đã đi xa hơn Bosinney, đã phá tan mái ấm bất hạnh của chính mình chứ không phải của người khác. Và câu nói xưa lại trở về: “Số phận một người nằm trong chính trái tim người ấy.”
Trong chính trái tim mình! Muốn biết bánh ngon phải ăn thử — Bosinney vẫn chưa ăn phần bánh của anh.
Ý nghĩ chàng chuyển sang người đàn bà, người chàng không quen biết nhưng đã được nghe những nét đại cương trong câu chuyện của nàng.
Một cuộc hôn nhân bất hạnh! Không ngược đãi — chỉ có nỗi khó chịu không sao định nghĩa, thứ tàn lụi khủng khiếp giết chết mọi ngọt ngào dưới gầm trời; cứ thế từ ngày này sang ngày khác, từ đêm này sang đêm khác, từ tuần này sang tuần khác, từ năm này sang năm khác, cho tới khi cái chết kết thúc nó.
Nhưng Jolyon trẻ, người đã được thời gian xoa dịu vị đắng trong cảm xúc của chính mình, cũng nhìn thấy phía Soames trong câu chuyện. Một người như em họ chàng, thấm đẫm mọi thành kiến và niềm tin của giai cấp mình, có thể lấy ở đâu sự thấu hiểu hoặc cảm hứng cần thiết để phá vỡ cuộc sống này? Đó là vấn đề của trí tưởng tượng, của việc phóng mình vào tương lai, vượt qua những lời đàm tiếu khó chịu, những tiếng nhạo báng và chuyện ngồi lê đôi mách kéo theo các cuộc chia lìa như thế; vượt qua những cơn đau nhất thời vì không còn được nhìn thấy nàng; vượt qua sự phản đối nghiêm khắc của những người đoan chính. Nhưng ít người đàn ông, đặc biệt ít người thuộc giai cấp Soames, có đủ trí tưởng tượng cho việc đó. Thế gian có quá nhiều người phàm mà trí tưởng tượng thì không đủ chia! Và trời cao dịu ngọt ơi, lý thuyết với thực hành khác nhau biết mấy; nhiều người đàn ông, có lẽ ngay cả Soames, vẫn giữ những quan điểm hào hiệp về chuyện như vậy, nhưng tới khi giày siết chân mình thì lại tìm ra một yếu tố phân biệt để biến bản thân thành ngoại lệ.
Hơn nữa, chàng không tin vào phán đoán của chính mình. Chàng đã tự trải qua chuyện đó, đã nếm đến tận cặn vị đắng của một cuộc hôn nhân bất hạnh; làm sao chàng có được cái nhìn bao quát, vô tư của những người chưa bao giờ ở trong tầm nghe của trận chiến? Chứng cứ của chàng quá trực tiếp — như chứng cứ về việc binh của một người lính đã trải nhiều trận mạc so với chứng cứ của thường dân, những người không phải chịu bất lợi vì nhìn sự vật quá gần. Phần đông sẽ coi một cuộc hôn nhân như của Soames và Irene là khá thành công; hắn có tiền, nàng có sắc đẹp; đây là trường hợp nên thỏa hiệp. Chẳng có lý do gì họ không thể tà tà sống tiếp, ngay cả khi căm ghét nhau. Mỗi người đi con đường riêng một chút cũng chẳng hề gì, miễn là vẫn giữ đúng khuôn phép — tôn trọng tính thiêng liêng của dây hôn phối, của mái nhà chung. Một nửa số hôn nhân trong giới thượng lưu được tiến hành theo những đường lối ấy: Đừng xúc phạm sự nhạy cảm của Xã hội; đừng xúc phạm sự nhạy cảm của Giáo hội. Để tránh xúc phạm hai bên ấy, hy sinh bất kỳ tình cảm riêng tư nào cũng đáng. Lợi ích của một mái ấm ổn định thì hữu hình, sờ nắm được, là biết bao món tài sản; trong hiện trạng không có rủi ro. Phá vỡ một mái ấm, xét theo cách tốt nhất, vẫn là cuộc thử nghiệm nguy hiểm, hơn nữa còn ích kỷ.
Đó là lý lẽ của bên bào chữa, và Jolyon trẻ thở dài.
“Cốt lõi của tất cả,” chàng nghĩ, “là tài sản, nhưng nhiều người sẽ không thích nghe nói theo cách ấy. Với họ, đó là ‘tính thiêng liêng của dây hôn phối’; nhưng tính thiêng liêng của dây hôn phối phụ thuộc vào tính thiêng liêng của gia đình, mà tính thiêng liêng của gia đình lại phụ thuộc vào tính thiêng liêng của tài sản. Vậy mà ta tưởng tất cả những người ấy đều là môn đồ của một Đấng chưa từng sở hữu gì. Thật kỳ lạ!”
Và Jolyon trẻ lại thở dài.
“Trên đường về nhà, ta có định mời những kẻ khốn khổ mình gặp cùng chia bữa tối, để rồi phần ăn không đủ cho chính ta, hoặc ít nhất là không đủ cho vợ ta, người thiết yếu đối với sức khỏe và hạnh phúc của ta không? Có lẽ rốt cuộc Soames làm đúng khi thực thi quyền của hắn, và bằng hành động ấy nâng đỡ nguyên tắc sở hữu thiêng liêng vốn mang lợi ích cho tất cả chúng ta, ngoại trừ những người phải chịu khổ trong quá trình đó.”
Vậy là chàng rời ghế, len qua mê cung chỗ ngồi, lấy mũ, rồi uể oải lên những con phố nóng bức, đông nghịt xe cộ, nồng mùi bụi mà đi về nhà.
Trước khi tới Wistaria Avenue, chàng lấy lá thư của cụ Jolyon trong túi ra, cẩn thận xé thành những mảnh thật nhỏ rồi rắc chúng xuống bụi đường.
Chàng dùng chìa khóa tự mở cửa vào và gọi tên vợ. Nhưng nàng đã đưa Jolly và Holly ra ngoài, ngôi nhà trống không; chỉ có con chó Balthasar nằm trong bóng râm ngoài vườn, táp lũ ruồi.
Jolyon trẻ cũng ngồi xuống đó, dưới cây lê không sinh trái.