Người có của — Chương 25: Đêm trong công viên

Chương 26 / 33 · Bài review Người có của

Mặc dù, với trực giác không bao giờ sai, bà Small đã nói đúng ngay điều khiến vị khách của mình “tò mò hơn bao giờ hết”, thật khó mà biết bà còn có thể nói cách nào khác mà vẫn đúng sự thật.

Đó không phải là chuyện người nhà Forsyte có thể đem ra bàn tán, ngay cả với nhau—dùng từ Soames đã đặt ra để tự mô tả tình thế ấy, thì đó là chuyện “ngấm ngầm”.

Ấy thế mà, chỉ trong vòng một tuần sau cuộc chạm mặt của bà MacAnder tại Richmond Park, tất cả bọn họ—trừ Timothy, người được cẩn thận giấu kín chuyện này—từ James trên lộ trình quen thuộc hằng ngày từ Poultry đến Park Lane, đến George ngông cuồng trên chuyến phiêu lưu mỗi ngày từ ô cửa sổ lồi ở Haversnake tới phòng bi-a tại “Red Pottle”, đều đã biết rằng “hai người ấy” đã đi quá giới hạn.

George (chính anh là người sáng tạo ra nhiều cách nói đầy ấn tượng đến nay vẫn còn lưu hành trong giới thượng lưu) đã diễn đạt tâm trạng chung chính xác hơn bất cứ ai, khi bảo em trai Eustace rằng “Gã Cướp Biển” đang “làm tới”. Anh đoán Soames hẳn đã gần “hết chịu nổi”.

Mọi người đều cảm thấy hẳn ông phải thế, nhưng biết làm gì đây? Có lẽ ông nên có biện pháp; song có biện pháp thì thật đáng tiếc.

Nếu không gây ra một vụ tai tiếng công khai—điều họ chẳng thấy có cách nào khuyên làm—thì khó mà biết có thể dùng biện pháp gì. Trong thế bế tắc ấy, cách duy nhất là không nói gì với Soames, cũng không nói gì với nhau; tóm lại, cứ lờ đi.

Bằng cách tỏ ra lạnh nhạt một cách đường bệ với Irene, may ra họ có thể gây được ít nhiều tác động đến nàng; nhưng dạo này hiếm khi thấy nàng, mà cố ý tìm nàng chỉ để tỏ vẻ lạnh nhạt dường như cũng hơi khó xử. Đôi khi, trong chốn riêng tư của phòng ngủ, James thổ lộ với Emily nỗi đau khổ thực sự mà bất hạnh của con trai gây ra cho ông.

“_Tôi_ chẳng biết nữa,” ông thường nói; “chuyện ấy làm tôi lo đến chết mất. Sẽ có tai tiếng, mà như thế thì chẳng ích gì cho nó. Tôi sẽ không nói gì với nó đâu. Có khi chẳng có chuyện gì thật. Bà nghĩ sao? Người ta bảo cô ấy có tâm hồn nghệ sĩ lắm. Gì cơ? Ồ, bà đúng là một ‘Juley chính hiệu’! Thôi, tôi chẳng biết; tôi chỉ e điều tệ nhất. Không có con thì thành ra thế đấy. Ngay từ đầu tôi đã biết sẽ như vậy mà. Chúng nó chẳng bao giờ nói với tôi rằng chúng nó không định có con—chẳng ai nói với tôi chuyện gì cả!”

Quỳ bên giường, đôi mắt mở trừng và đăm đăm lo lắng, ông thở những lời ấy vào tấm phủ giường. Mặc áo ngủ, cổ rướn ra trước, lưng khòm xuống, ông trông giống một con chim trắng mình dài.

“Lạy Cha chúng con—”, ông lặp đi lặp lại, trong đầu không ngừng nghiền ngẫm ý nghĩ về vụ tai tiếng có thể xảy ra ấy.

Cũng như cụ Jolyon, trong thâm tâm ông quy nguyên nhân của bi kịch này cho sự can thiệp của gia đình. Cái đám ấy—ông đã bắt đầu nghĩ về nhánh Stanhope Gate, kể cả Jolyon trẻ và con gái anh, như “cái đám ấy”—có việc gì mà đưa một kẻ như cái anh Bosinney này vào gia đình? (Ông đã nghe biệt danh George đặt cho anh ta, “Gã Cướp Biển”, nhưng chẳng hiểu nó có nghĩa gì—chàng trai ấy là một kiến trúc sư kia mà.)

Ông bắt đầu cảm thấy rằng anh trai Jolyon, người ông vẫn luôn kính nể và tin cậy ý kiến, không hẳn như ông vẫn tưởng.

Không có nghị lực như người anh cả, ông buồn nhiều hơn giận. Niềm an ủi lớn nhất của ông là đến nhà Winifred, đưa lũ trẻ nhà Dartie bằng xe ngựa của mình tới Kensington Gardens; tại đó, bên Round Pond, người ta thường thấy ông đi đi lại lại, đôi mắt lo âu dán vào chiếc thuyền buồm của Publius bé bỏng, trên đó chính ông đã đặt một đồng penny làm hàng, như thể tin chắc nó sẽ chẳng bao giờ trở vào bờ nữa; còn Publius bé bỏng—đứa trẻ mà James thích thú nhận xét là chẳng giống cha nó chút nào—lon ton bên phía khuất gió của ông, lại cố dụ ông cược thêm một penny rằng chiếc thuyền sẽ không bao giờ trở về, vì cậu đã biết lần nào nó cũng trở về. Và James vẫn nhận lời cược; ông bao giờ cũng trả—đôi khi tới ba bốn penny trong một buổi chiều, bởi trò ấy dường như chẳng bao giờ làm Publius bé bỏng chán—và mỗi lần trả, ông đều nói: “Nào, đồng này để bỏ vào hộp tiết kiệm của cháu. Chà, cháu sắp thành một người giàu có hẳn rồi!” Ý nghĩ về gia sản ngày một tăng của đứa cháu ngoại nhỏ thực sự khiến ông vui thích. Nhưng Publius bé bỏng biết một hiệu kẹo, lại biết một mánh còn lợi gấp đôi thế.

Rồi họ đi bộ về nhà xuyên qua Công viên; dáng James, với đôi vai nhô cao cùng gương mặt đăm chiêu lo lắng, làm nhiệm vụ che chở bằng thân hình cao gầy của mình—một sự che chở thảm thương chẳng được đoái hoài—cho hai vóc dáng trẻ thơ chắc nịch của Imogen và Publius bé bỏng.

Nhưng những Khu Vườn ấy và Công viên ấy đâu phải chốn dành riêng cho James. Người nhà Forsyte và những kẻ lang thang, trẻ con và các đôi tình nhân, ngày qua ngày, đêm qua đêm, vẫn nghỉ chân và dạo bước ở đó, tất cả đều tìm kiếm chút tự do khỏi công việc, khỏi mùi xú uế và cảnh hỗn độn ngoài phố.

Lá cây chậm rãi ngả nâu, còn nấn ná nhờ nắng và hơi ấm như mùa hạ của những đêm.

Thứ Bảy, ngày 5 tháng Mười, bầu trời vốn xanh suốt ngày, sau hoàng hôn sẫm lại thành màu phấn phủ trên những trái nho tím. Không có trăng, và một màn tối trong trẻo tựa tấm áo nhung bao bọc lấy cây cối; những cành cây đã thưa lá, nom như những chùm lông vũ, không hề lay động trong không khí ấm áp, lặng gió. Cả London đã tràn vào Công viên, uống chén mùa hè đến tận giọt cuối cùng.

Từng đôi từng đôi, từ mọi cổng, họ tuôn theo những lối đi và băng qua thảm cỏ cháy nắng; rồi hết đôi này đến đôi khác lặng lẽ rời những khoảng sáng, lẻn vào nơi trú ẩn dưới những tán cây mềm như lông vũ, để rồi, hòa thành một vệt tối bên thân cây nào đó hoặc khuất dưới bóng bụi rậm, họ không còn tồn tại với ai ngoài chính mình giữa lòng bóng tối dịu dàng.

Đối với những người mới đến trên các lối đi, những kẻ đi trước ấy chỉ là một phần của buổi chạng vạng nồng nàn, từ đó chỉ vọng ra một tiếng rì rầm lạ lùng, tựa nhịp đập hỗn độn của những trái tim. Nhưng khi tiếng rì rầm ấy chạm tới mỗi đôi trong ánh đèn, giọng nói của họ chao đi rồi tắt hẳn; tay họ quấn lấy nhau, mắt bắt đầu kiếm tìm, dò xét, thăm dò bóng đen. Bỗng nhiên, như bị những bàn tay vô hình lôi kéo, họ cũng bước qua hàng rào và, lặng lẽ như những cái bóng, biến mất khỏi vùng sáng.

Sự tĩnh lặng, bị vây trong tiếng gầm xa xôi và không sao cưỡng nổi của thành phố, sống động với muôn vàn đam mê, hy vọng và tình yêu của vô số nguyên tử người đang vật lộn; bởi bất chấp sự bất bình của cái tập thể Forsyte khổng lồ kia, Hội đồng Thành phố—đối với họ, Tình yêu từ lâu vẫn được coi là mối nguy lớn nhất cho cộng đồng, chỉ sau Vấn đề Nước thải—đêm ấy trong Công viên, cũng như trong hàng trăm công viên khác, vẫn đang diễn ra một quá trình mà thiếu nó thì hàng nghìn nhà máy, nhà thờ, cửa hiệu, khoản thuế và cống thoát nước do họ trông coi sẽ chẳng khác gì động mạch không máu, con người không tim.

Những bản năng quên mình, đam mê và yêu đương, ẩn dưới những tán cây, lánh xa những kẻ canh giữ cho kẻ thù không chút xót thương của chúng—“ý thức sở hữu”—đang mở một cuộc hoan lạc vụng trộm; còn Soames, trên đường từ Bayswater về—bởi ông đã một mình đến ăn tối tại nhà Timothy—đang đi bộ về nhà dọc theo mặt nước, đầu óc bận nghĩ về vụ kiện sắp tới, thì một tiếng cười khẽ cùng những tiếng hôn khiến máu trong tim ông như chạy biến. Ông nghĩ sáng hôm sau sẽ viết thư cho _The Times_, lưu ý ngài chủ bút về tình trạng các công viên của chúng ta. Tuy nhiên, ông đã không viết, vì ông ghê sợ phải thấy tên mình xuất hiện trên mặt báo.

Nhưng trong cảnh đói khát ấy, những tiếng thì thầm giữa tĩnh lặng, những hình hài nửa thấy nửa không trong bóng tối, tác động lên ông như một chất kích thích bệnh hoạn. Ông rời lối đi ven hồ, len lén vào dưới những tán cây, men theo vùng bóng tối sâu của những cụm cây nhỏ, nơi cành dẻ ngựa rủ những chiếc lá lớn xuống thấp và có những chỗ ẩn thân tối đen hơn; ông đi thành những vòng quanh co, với mục đích lén lút dò xét những chiếc ghế kê sát nhau bên thân cây và những đôi tình nhân quấn lấy nhau, giật mình cựa quậy khi ông đến gần.

Giờ đây ông đứng sững trên gò cao nhìn xuống Serpentine, nơi dưới ánh đèn trọn vẹn, in đen trên mặt nước bạc, một đôi tình nhân ngồi bất động, gương mặt người đàn bà vùi vào cổ người đàn ông—một hình hài duy nhất, như biểu tượng đam mê được chạm khắc, im lặng và không chút hổ thẹn.

Và, nhói buốt vì cảnh tượng ấy, Soames vội vã đi tiếp, lấn sâu hơn vào bóng cây.

Trong cuộc kiếm tìm này, ai biết ông đã nghĩ gì và tìm kiếm điều gì? Bánh cho cơn đói—ánh sáng giữa bóng tối? Ai biết ông mong tìm thấy gì—một hiểu biết vô tư về lòng người—điểm kết thúc cho bi kịch ngấm ngầm của riêng ông—bởi, một lần nữa, ai mà biết được, mỗi đôi trong bóng tối kia, vô danh, không thể gọi tên, lại chẳng chính là hắn và nàng?

Nhưng chắc hẳn ông không thể tìm kiếm một hiểu biết như thế—vợ của Soames Forsyte mà lại ngồi trong Công viên như một ả đàn bà hạ tiện! Những ý nghĩ như vậy không sao hình dung nổi; và ông lướt qua từ cây này sang cây khác bằng những bước chân không tiếng động.

Có lần ông bị chửi rủa; một lần khác, lời thì thầm “Giá mà mọi chuyện cứ được mãi thế này!” lại khiến máu trong tim ông chạy biến, và ông đứng chờ tại đó, kiên nhẫn và lì lợm, cho đến khi hai người kia rời đi. Nhưng kẻ đi ngang qua ông chỉ là một cô bán hàng trẻ gầy gò tội nghiệp trong chiếc áo cánh xộc xệch, bám chặt lấy cánh tay người yêu.

Hàng trăm đôi tình nhân khác cũng thì thầm niềm hy vọng ấy giữa sự tĩnh lặng của cây cối, hàng trăm đôi tình nhân khác cũng bám chặt lấy nhau.

Nhưng rồi, bất chợt rùng mình ghê tởm, Soames trở lại lối đi và từ bỏ cuộc kiếm tìm chính ông cũng không biết là tìm gì.