Người có của — Chương 2: Cụ Jolyon đi xem opera

Chương 3 / 33 · Bài review Người có của

Năm giờ chiều hôm sau, cụ Jolyon ngồi một mình, điếu xì gà ngậm giữa hai môi, bên cạnh là tách trà đặt trên bàn. Cụ mệt, và chưa hút hết điếu xì gà đã ngủ thiếp đi. Một con ruồi đậu lên tóc cụ; trong bầu im lặng ngái ngủ, hơi thở cụ nghe nặng nề, môi trên dưới hàng ria trắng phập phồng. Từ những ngón tay nổi gân, nhăn nheo của cụ, điếu xì gà rơi xuống lò sưởi trống không rồi tự cháy tàn.

Gian phòng làm việc nhỏ bé, u tối, với những ô cửa kính màu để che khuất quang cảnh bên ngoài, đầy nhung xanh sẫm và gỗ gụ chạm trổ nặng nề—một bộ đồ mà cụ Jolyon thường nói: “Chẳng biết chừng một ngày kia lại bán được giá lớn!”

Thật dễ chịu khi nghĩ rằng về sau người ta có thể bán các thứ được nhiều hơn số tiền đã bỏ ra mua chúng.

Trong bầu không khí nâu sẫm, đậm đặc, đặc trưng cho những căn phòng phía sau trong dinh thự của một người nhà Forsyte, hiệu quả kiểu Rembrandt của cái đầu lớn với mái tóc bạc, nổi trên tấm đệm nơi chiếc ghế lưng cao, đã bị hàng ria phá hỏng, bởi nó đem lại cho gương mặt cụ một vẻ hơi có tính nhà binh. Một chiếc đồng hồ cổ đã ở bên cụ từ trước cuộc hôn nhân bốn mươi năm về trước vẫn bằng tiếng tích tắc mà ghi chép đầy ghen tuông từng giây đang vĩnh viễn tuột khỏi người chủ già của nó.

Cụ chưa bao giờ ưa căn phòng này, hết năm này sang năm khác hầu như chẳng bước vào, trừ lúc lấy xì gà trong chiếc tủ Nhật Bản ở góc phòng; và giờ đây căn phòng đã báo được mối thù của nó.

Hai bên thái dương cong như mái rạ trên những hõm sâu phía dưới, gò má và cằm cụ, tất cả đều trở nên sắc nét trong giấc ngủ; và trên gương mặt cụ đã hiện ra lời thú nhận rằng cụ là một ông già.

Cụ tỉnh giấc. June đã đi rồi! James bảo cụ sẽ cô quạnh. James xưa nay vẫn là một kẻ tầm thường. Cụ hài lòng nhớ lại rằng mình đã mua được căn nhà ấy ngay trước mũi James.

Đáng đời hắn vì cứ cò kè giá cả; tiền là thứ duy nhất gã ấy nghĩ tới. Nhưng liệu cụ có trả quá nhiều không? Căn nhà còn cần làm nhiều lắm mới—Có lẽ cụ sẽ cần đến từng đồng tiền của mình trước khi giải quyết xong chuyện của June. Đáng lẽ cụ không bao giờ nên cho phép cuộc đính hôn ấy. Con bé gặp Bosinney tại nhà Baynes, thuộc hãng kiến trúc Baynes và Bildeboy. Cụ tin rằng Baynes, người cụ quen—một lão hơi đàn bà—là bác của chàng trai theo đường hôn nhân. Sau đó con bé cứ chạy theo anh ta mãi; mà một khi nó đã để điều gì vào đầu thì không sao ngăn nổi. Nó luôn luôn cưu mang hết hạng “vịt què” này đến hạng khác. Gã này không có tiền, vậy mà nó cứ nhất định phải đính hôn với hắn—một anh chàng khinh suất, thiếu thực tế, rồi sẽ tự chuốc lấy không biết bao nhiêu rắc rối.

Một hôm, nó đến gặp cụ theo lối hấp tấp quen thuộc và báo chuyện ấy; rồi, như thể điều đó có thể an ủi cụ được chút nào, nó nói thêm:

“Anh ấy tuyệt vời lắm; nhiều lần anh ấy chỉ sống bằng ca cao suốt cả tuần!”

“Và anh ta cũng muốn cháu sống bằng ca cao đấy à?”

“Ồ không; bây giờ anh ấy đang bắt đầu nhập cuộc rồi.”

Cụ Jolyon đã rút điếu xì gà ra khỏi hàng ria trắng, nơi mép ria đã ố màu cà phê, và nhìn con bé mảnh khảnh nhỏ nhoi đang nắm chặt trái tim cụ đến thế. Cụ hiểu những chuyện “nhập cuộc” ấy hơn cô cháu gái nhiều. Nhưng con bé chắp hai tay trên đầu gối cụ, cọ cằm vào người cụ, phát ra tiếng như mèo rừ rừ. Và, gõ tàn khỏi điếu xì gà, cụ đã bùng lên trong nỗi tuyệt vọng bồn chồn:

“Các người đều giống nhau cả: chưa đạt được điều mình muốn thì chưa chịu yên. Nếu cháu nhất định phải chuốc lấy tai họa thì cứ việc; _ông_ phủi tay khỏi chuyện này.”

Thế là cụ đã phủi tay khỏi chuyện ấy, với điều kiện họ không được kết hôn cho tới khi Bosinney có ít nhất bốn trăm bảng một năm.

“_Ông_ sẽ không thể cho cháu được bao nhiêu đâu,” cụ đã nói—một công thức mà June chẳng xa lạ gì. “Có lẽ cái anh Tên-Gì-Ấy sẽ lo được ca cao.”

Từ khi chuyện ấy bắt đầu, cụ hầu như chẳng gặp nó. Một vụ chẳng lành! Cụ không hề có ý định cho nó một món tiền lớn để nuôi một gã mà cụ không biết chút gì sống nhàn rỗi. Cụ đã từng thấy những chuyện như thế; chẳng bao giờ có kết cục tốt đẹp. Tệ nhất là cụ không hy vọng gì lay chuyển được quyết tâm của nó; nó bướng như la, từ thuở nhỏ đã vậy. Cụ không biết chuyện này rồi sẽ đi đến đâu. Có bao nhiêu vải thì phải may áo bấy nhiêu. Cụ sẽ không nhượng bộ cho tới khi thấy Bosinney trẻ có một khoản thu nhập riêng. June sẽ gặp rắc rối với gã ấy—điều đó rõ như ban ngày; hắn chẳng hiểu tiền bạc hơn gì một con bò. Còn chuyện hấp tấp xuống Wales thăm các bà cô của chàng trai, cụ hoàn toàn tin rằng họ là mấy mụ già nanh nọc.

Và cụ Jolyon ngồi bất động, nhìn chằm chằm vào tường; nếu không vì đôi mắt mở, người ta có thể tưởng cụ đang ngủ.... Thật là một ý nghĩ quái gở, cho rằng thằng nhãi Soames ấy có thể khuyên bảo cụ! Nó xưa nay vẫn là một thằng nhãi, lúc nào cũng vênh mũi lên trời! Rồi đây nó sẽ ra vẻ một người có của, với một cơ ngơi ở miền quê! Một người có của! Hừm! Giống hệt cha mình, nó luôn đánh hơi lùng sục những món hời—một thằng nhóc máu lạnh!

Cụ đứng dậy, đi tới chiếc tủ và bắt đầu tuần tự nhét vào hộp xì gà những điếu lấy từ một bó mới nhập. So với giá tiền thì chúng không tệ, nhưng thời buổi này chẳng thể kiếm nổi một điếu xì gà ngon, không thứ gì bì được với những điếu Superfinos ngày trước của Hanson và Bridger. _Đó_ mới là xì gà!

Ý nghĩ ấy, như một làn hương len lén, đưa cụ trở lại những đêm tuyệt diệu ở Richmond, khi sau bữa tối cụ ngồi hút thuốc trên sân hiên quán Crown and Sceptre cùng Nicholas Treffry, Traquair, Jack Herring và Anthony Thornworthy. Xì gà thuở ấy ngon biết bao! Nick già tội nghiệp!—đã chết; Jack Herring—đã chết; Traquair—chết vì mụ vợ của mình; còn Thornworthy—ốm yếu ghê gớm (với sức ăn của ông ta thì cũng chẳng lạ).

Trong toàn bộ bạn bè thuở ấy, dường như chỉ còn mình cụ, tất nhiên trừ Swithin; mà ông ta lại đồ sộ quá quắt đến mức chẳng thể làm gì nổi.

Thật khó tin đã lâu đến thế; cụ vẫn cảm thấy mình còn trẻ! Trong tất cả những ý nghĩ khi cụ đứng đó đếm xì gà, đây là điều nhức nhối nhất, cay đắng nhất. Dẫu mái đầu bạc trắng và cuộc đời cô độc, trong lòng cụ vẫn trẻ trung, tươi non. Còn những chiều Chủ nhật trên Hampstead Heath, khi Jolyon trẻ và cụ đi một quãng dài dọc theo Spaniard’s Road tới Highgate, sang Child’s Hill, rồi lại băng qua bãi hoang trở về dùng bữa tối tại Jack Straw’s Castle—xì gà thuở ấy ngon biết bao! Và thời tiết mới tuyệt làm sao! Bây giờ chẳng còn thời tiết gì nữa.

Khi June mới là đứa bé năm tuổi chập chững, cứ cách một Chủ nhật cụ lại đưa nó tới Vườn thú, tách khỏi sự trông nom của hai người đàn bà hiền hậu kia—mẹ và bà ngoại nó—rồi trên đỉnh chuồng gấu, cụ cắm bánh mì ngọt vào đầu ô để nhử những con gấu nó yêu thích, xì gà thuở ấy thơm ngọt biết bao!

Xì gà! Cụ thậm chí còn chưa sống lâu đến mức mất đi khẩu vị tinh tường—cái khẩu vị lừng danh mà vào những năm năm mươi người ta lấy làm chuẩn mực, và khi nhắc tới cụ đều nói: “Forsyte có khẩu vị tinh tường nhất London!” Cái khẩu vị, theo một nghĩa nào đó, đã làm nên gia tài của cụ—gia tài của những nhà buôn trà lừng tiếng Forsyte và Treffry, thứ trà của họ, không giống trà của bất kỳ ai khác, có một hương thơm lãng mạn, cái duyên của một sự chân thực hoàn toàn hiếm có. Quanh hãng Forsyte và Treffry trong khu City luôn phảng phất một bầu không khí phiêu lưu và bí ẩn, với những thương vụ đặc biệt trên những con tàu đặc biệt, tại những hải cảng đặc biệt, cùng những người phương Đông đặc biệt.

Cụ đã làm việc cật lực trong cơ nghiệp ấy! Thời đó người ta quả có làm việc! Lũ nhãi trẻ này hầu như chẳng hiểu từ ấy có nghĩa gì. Cụ đã đi sâu vào từng chi tiết, biết mọi chuyện diễn ra, đôi khi thức trắng đêm vì công việc. Và cụ luôn tự mình chọn các đại diện, vẫn lấy đó làm tự hào. Cụ thường nói con mắt nhìn người chính là bí quyết thành công của mình; và việc vận dụng quyền năng chọn lựa đầy uy lực ấy là phần duy nhất trong tất cả công việc mà cụ thật sự ưa thích. Đó không phải sự nghiệp xứng với một người có tài năng như cụ. Ngay cả bây giờ, khi doanh nghiệp đã được chuyển thành một Công ty Trách nhiệm Hữu hạn và đang suy thoái (cụ đã bán hết cổ phần từ lâu), cụ vẫn thấy cay đắng nhói lòng khi nghĩ tới thời ấy. Cụ đã có thể làm nên sự nghiệp lớn hơn biết bao! Cụ hẳn đã thành công rực rỡ trong nghề luật! Cụ thậm chí từng nghĩ đến việc ra tranh cử vào Nghị viện. Nicholas Treffry đã biết bao lần nói với cụ:

“Cậu có thể làm được bất cứ điều gì, Jo, nếu cậu không quá ch-chết tiệt là biết giữ mình!” Nick già thân yêu! Một người bạn tốt biết bao, nhưng cũng thật phóng túng! Treffry khét tiếng! _Ông ấy_ chưa bao giờ biết giữ gìn mình. Vì thế ông ấy đã chết. Cụ Jolyon đếm xì gà bằng bàn tay vững vàng, và trong đầu chợt nảy ra câu hỏi phải chăng mình đã _quá_ biết giữ gìn bản thân.

Cụ đặt hộp xì gà vào túi ngực áo, cài khuy lại, rồi bước lên những dãy cầu thang dài tới phòng ngủ, dồn sức lên chân này rồi chân kia và vịn tay vào lan can. Ngôi nhà quá lớn. Sau khi June lấy chồng—nếu nó quả có lấy gã này, như cụ đoán là sẽ thế—cụ sẽ cho thuê nhà rồi dọn tới ở vài căn phòng. Giữ nửa tá gia nhân chỉ để chúng ăn tốn của thì có ích gì?

Nghe tiếng chuông, viên quản gia bước vào—một người đàn ông to lớn, có râu, chân bước nhẹ nhàng và một khả năng im lặng khác thường. Cụ Jolyon bảo ông ta lấy bộ lễ phục ra; cụ sẽ tới dùng bữa tối ở Câu lạc bộ.

Cỗ xe đưa cô June ra ga đã trở về bao lâu rồi? Từ hai giờ ư? Vậy thì bảo xe tới cửa lúc sáu giờ rưỡi!

Câu lạc bộ mà cụ Jolyon bước vào đúng bảy giờ là một trong những thiết chế chính trị của tầng lớp trung lưu thượng lưu đã từng có những ngày huy hoàng hơn. Dẫu bị người ta bàn ra tán vào—mà có lẽ chính vì bị bàn ra tán vào—nó vẫn bộc lộ một sức sống dai dẳng đáng thất vọng. Người ta đã chán nói rằng “Disunion” sắp đến hồi cáo chung. Cụ Jolyon cũng nói thế, song lại phớt lờ sự thật ấy theo một cách hết sức khó chịu đối với những hội viên Câu lạc bộ có nề nếp.

“Sao anh vẫn giữ tên mình ở đó?” Swithin thường hỏi cụ với vẻ bực bội sâu sắc. “Sao anh không gia nhập ‘Polyglot’? Khắp London anh không thể kiếm đâu ra thứ rượu như Heidsieck của chúng tôi với giá dưới hai mươi shilling một chai đâu”; rồi hạ thấp giọng, ông ta nói thêm: “Chỉ còn năm trăm tá thôi. Đêm nào trong đời tôi cũng uống thứ ấy.”

“Tôi sẽ nghĩ xem,” cụ Jolyon thường đáp; nhưng mỗi khi nghĩ tới, vẫn còn khoản phí gia nhập năm mươi guinea, và cụ sẽ phải mất bốn hoặc năm năm mới vào được. Cụ tiếp tục nghĩ.

Cụ đã quá già để còn là người của Đảng Tự do, từ lâu không còn tin vào những học thuyết chính trị của Câu lạc bộ, thậm chí từng bị bắt gặp gọi chúng là “mớ rác rưởi”; và cụ thấy thích thú khi vẫn tiếp tục làm hội viên, bất chấp những nguyên tắc đối nghịch đến thế với nguyên tắc của chính mình. Cụ vẫn luôn khinh thường nơi này, bởi nhiều năm trước cụ gia nhập nó sau khi bị “Hotch Potch” từ chối vì cụ “làm nghề buôn bán”. Cứ như cụ không ngang hàng với bất kỳ ai trong bọn họ vậy! Đương nhiên cụ khinh cái Câu lạc bộ _đã_ nhận mình. Đám hội viên là một lũ xoàng xĩnh, nhiều người làm việc trong khu City—môi giới chứng khoán, luật sư, người bán đấu giá—đủ mọi hạng! Như phần lớn những người có cá tính mạnh nhưng không quá nhiều tính độc sáng, cụ Jolyon chẳng coi trọng tầng lớp mà mình thuộc về. Cụ trung thành noi theo các tập tục của họ, cả về xã giao lẫn những phương diện khác, nhưng thầm nghĩ họ là “một đám tầm thường”.

Năm tháng và triết lý sống, thứ cụ cũng có phần mình, đã làm mờ ký ức về thất bại tại “Hotch Potch”; và giờ đây, trong tâm tưởng cụ, nơi ấy được tôn thờ như Nữ hoàng của các Câu lạc bộ. Suốt bao năm qua, lẽ ra chính cụ đã là hội viên ở đó, nhưng vì người đề cử cụ, Jack Herring, làm việc quá cẩu thả nên khi gạt cụ ra họ đã chẳng biết mình đang làm gì. Kìa! Họ nhận ngay con trai cụ, Jo, và cụ tin cậu ta vẫn còn là hội viên; tám năm trước cụ đã nhận được một lá thư đề ngày tháng từ nơi ấy.

Cụ đã nhiều tháng không đặt chân tới “Disunion”, và tòa nhà vừa trải qua lối trang hoàng loang lổ mà người ta thường ban cho những ngôi nhà cũ và tàu cũ khi nóng lòng muốn bán chúng.

“Phòng hút thuốc màu ghê tởm!” cụ nghĩ. “Phòng ăn thì đẹp!”

Màu sô-cô-la u tối điểm những nét xanh nhạt của căn phòng hợp ý cụ.

Cụ gọi bữa tối rồi ngồi xuống đúng cái góc ấy, có lẽ đúng cả chiếc bàn ấy! (mọi thứ ở “Disunion” không tiến triển mấy, dù đó là một Câu lạc bộ có những nguyên tắc gần như Cấp tiến), nơi cụ và Jolyon trẻ từng ngồi hai mươi lăm năm trước, khi cụ đưa cậu tới Drury Lane trong kỳ nghỉ.

Cậu bé rất mê sân khấu, và cụ Jolyon nhớ cậu thường ngồi đối diện mình, che giấu vẻ háo hức dưới một thái độ thản nhiên được giữ gìn cẩn thận nhưng vẫn trong suốt.

Cụ cũng gọi cho mình chính bữa tối mà cậu bé vẫn luôn chọn—xúp, cá whitebait, thịt cốt lết và một chiếc bánh tart. Ôi! Giá giờ đây cậu vẫn ngồi đối diện!

Hai cha con đã mười bốn năm không gặp nhau. Và không phải lần đầu trong mười bốn năm ấy, cụ Jolyon tự hỏi liệu mình có đáng trách đôi chút trong chuyện của con trai hay không. Một mối tình bất hạnh với cô nàng lẳng lơ quý hóa Danae Thornworthy (nay là Danae Pellew), con gái Anthony Thornworthy, đã khiến cậu trong cơn hụt hẫng ngả vào vòng tay mẹ của June. Có lẽ cụ đáng ra nên ngăn trở cuộc hôn nhân của họ; họ còn quá trẻ; nhưng sau kinh nghiệm về bản tính đa cảm của Jo, cụ chỉ quá nóng lòng muốn thấy con mình kết hôn. Và bốn năm sau, sự tan vỡ đã xảy ra! Tất nhiên, tán thành cách hành xử của con trai trong vụ tan vỡ ấy là điều không thể; lý trí và sự giáo dưỡng—sự kết hợp của những nhân tố đầy uy lực tạo thành các nguyên tắc của cụ—bảo cụ rằng điều ấy không thể, còn trái tim cụ thì kêu gào. Sự khắc nghiệt lạnh lùng của chuyện ấy không chút xót thương cho những trái tim. Còn June, cái sinh vật bé xíu với mái tóc rực lửa, từng trèo khắp người cụ, quấn lấy cụ—quấn lấy trái tim vốn sinh ra để làm đồ chơi và nơi nương náu yêu dấu của những sinh linh nhỏ bé, bất lực. Với sự sáng suốt đặc trưng, cụ thấy mình phải lìa bỏ người này hoặc người kia; trong một tình thế như vậy, không thể có biện pháp nửa vời. Bi kịch nằm ở đó. Và sinh linh nhỏ bé, bất lực đã thắng. Cụ không muốn vừa chạy theo thỏ vừa săn cùng đàn chó, thế là cụ nói lời từ biệt với con trai.

Lời từ biệt ấy kéo dài cho tới tận bây giờ.

Cụ từng đề nghị tiếp tục cấp cho Jolyon trẻ một khoản trợ cấp đã giảm bớt, nhưng cậu từ chối; và có lẽ sự từ chối ấy làm cụ tổn thương hơn bất cứ điều gì, bởi cùng với nó, lối thoát cuối cùng cho tình thương bị giam hãm của cụ cũng mất đi; và từ đó nảy sinh một bằng chứng về sự đoạn tuyệt hữu hình, vững chắc đến mức chỉ một giao dịch tài sản—việc trao tặng hay khước từ nó—mới có thể đem lại.

Bữa tối nhạt nhẽo. Một pint sâm banh của cụ khô khốc, đắng nghét, chẳng giống Veuve Clicquot thuở trước.

Bên tách cà phê, cụ chợt nghĩ mình sẽ đi xem opera. Vì thế, trên tờ _Times_—cụ không tin các báo khác—cụ đọc mục thông báo cho buổi tối. Vở diễn là “Fidelio”.

May thay, đó không phải một trong những vở kịch câm kiểu Đức tân kỳ của cái gã Wagner ấy.

Đội chiếc mũ chóp xếp đi xem opera đã cũ—vành mũ bị dùng lâu ngày ép bẹp, lòng mũ rộng thênh, nom như biểu tượng của một thời huy hoàng hơn—rồi lấy ra đôi găng da dê non màu oải hương rất mỏng đã cũ, sực nức mùi da Nga vì vẫn nằm sát hộp xì-gà trong túi áo khoác ngoài, cụ bước lên một cỗ xe hansom.

Chiếc xe lọc cọc vui tai qua các phố, và cụ Jolyon ngạc nhiên trước vẻ náo nhiệt khác thường của chúng.

“Các khách sạn hẳn đang làm ăn phát đạt ghê gớm,” cụ nghĩ. Mấy năm trước nào đã có những khách sạn lớn thế này. Cụ hài lòng nghĩ tới một số bất động sản mình có trong vùng lân cận. Giá trị của chúng hẳn đang tăng vùn vụt! Xe cộ mới đông làm sao!

Nhưng từ đó, cụ bắt đầu buông mình vào một trong những suy tưởng phi cá nhân kỳ lạ, hết sức không giống một Forsyte—mà chính nơi đó, phần nào, ẩn chứa bí quyết khiến cụ vượt trội giữa họ. Con người chỉ là những hạt bụi nhỏ bé biết bao, mà lại đông biết bao! Rồi tất cả họ sẽ đi về đâu?

Cụ vấp chân khi xuống xe, trả người đánh xe đúng từng xu tiền cước, đi tới phòng vé mua một ghế khu stalls, rồi đứng đó, tay cầm túi tiền—cụ bao giờ cũng đựng tiền trong túi, vì chưa từng tán thành cái thói để tiền rời rạc trong túi áo quần như rất nhiều thanh niên thời nay. Người bán vé thò mình ra, như một con chó già ló khỏi cũi.

“Ơ kìa,” ông ta ngạc nhiên nói, “ông Jolyon Forsyte đây mà! Đúng là ông rồi! Bao nhiêu năm nay tôi không được gặp ông. Trời đất! Thời thế chẳng còn như xưa. Chà! Ông với em trai ông, rồi ông nhà đấu giá ấy—ông Traquair, và ông Nicholas Treffry—mùa nào các ông cũng đều đặn lấy sáu, bảy ghế ở đây. Ông vẫn khỏe chứ? Chúng ta chẳng trẻ ra được đâu!”

Màu trong mắt cụ Jolyon sẫm lại; cụ trả một guinea. Người ta vẫn chưa quên cụ. Giữa tiếng nhạc dạo đầu, cụ hiên ngang bước vào như một chiến mã già ra trận.

Gấp chiếc mũ opera lại, cụ ngồi xuống, rút đôi găng màu oải hương ra theo lối cũ, rồi nâng ống nhòm lên, chậm rãi nhìn khắp nhà hát. Cuối cùng, đặt nó xuống chiếc mũ đã gấp, cụ dán mắt vào màn sân khấu. Hơn bao giờ hết, cụ thấm thía rằng đời mình đã hoàn toàn qua rồi. Những người đàn bà đâu cả, những người đàn bà xinh đẹp từng ngồi đầy nhà hát này? Cái cảm giác xưa trong tim, khi cụ chờ đợi một trong những danh ca vĩ đại ấy, nay ở đâu? Đâu rồi cảm giác ngây ngất trước cuộc đời và trước chính sức mình có thể tận hưởng tất cả?

Khách mê opera bậc nhất thời mình! Giờ thì còn opera gì nữa! Cái gã Wagner ấy đã phá hỏng tất cả; chẳng còn giai điệu, cũng chẳng còn giọng ca nào để hát. Ôi! Những danh ca tuyệt diệu! Mất cả rồi! Cụ ngồi xem những cảnh cũ được diễn lại, lòng tê tái.

Từ lọn tóc bạc uốn bên vành tai đến dáng đặt bàn chân trong chiếc ủng da láng có hông co giãn, nơi cụ Jolyon không có gì vụng về hay yếu ớt. Cụ vẫn thẳng người—gần như thế—hệt những ngày xưa, khi đêm nào cụ cũng tới; thị lực vẫn tốt—gần như tốt bằng xưa. Nhưng sao mà mỏi mệt và vỡ mộng!

Suốt đời cụ vẫn có thói quen tìm được thú vui trong mọi sự, ngay cả những sự không hoàn hảo—mà những sự không hoàn hảo thì nhiều lắm—cụ đã thưởng thức tất cả một cách điều độ để giữ mình trẻ mãi. Nhưng giờ đây, năng lực hưởng thụ và triết lý sống đều bỏ cụ mà đi, để cụ lại với cảm giác khủng khiếp rằng mọi chuyện đã xong cả rồi. Ngay cả Hợp xướng của những người tù hay Khúc hát của Florian cũng không đủ sức xua tan bóng tối cô đơn của cụ.

Giá mà Jo ở bên cụ! Thằng bé hẳn đã bốn mươi rồi. Cụ đã để phí mười bốn năm trong cuộc đời đứa con trai duy nhất. Mà Jo cũng không còn là kẻ bị xã hội ruồng bỏ nữa. Anh đã kết hôn. Cụ Jolyon không thể không biểu lộ sự tán thưởng đối với hành động ấy bằng cách gửi kèm cho con trai một tấm séc năm trăm bảng. Tấm séc được gửi trả trong một lá thư từ câu lạc bộ “Hotch Potch”, viết như sau.

“CHA YÊU QUÝ NHẤT CỦA CON,—Món quà hào phóng của cha thật đáng quý, như một dấu hiệu cho thấy có lẽ cha nghĩ về con tệ hơn. Con xin gửi trả, nhưng nếu cha thấy nên đem đầu tư vì lợi ích của thằng bé (chúng con gọi nó là Jolly), đứa mang tên thánh của chúng ta và, theo phép lịch sự, mang họ của chúng ta, thì con sẽ rất vui.—Con hết lòng mong sức khỏe của cha vẫn tốt như xưa.

“Con trai yêu thương của cha,—JO.”

Lá thư thật giống thằng bé. Nó bao giờ cũng là một chàng trai dễ mến. Cụ Jolyon đã gửi lời phúc đáp này:

“JO THÂN MẾN,—Số tiền ấy (500 bảng) được ghi trong sổ sách của cha vì lợi ích của con trai con, dưới tên Jolyon Forsyte, và sẽ được ghi thêm tiền lãi đúng kỳ với mức 5 phần trăm. Cha mong công việc của con thuận lợi. Hiện giờ sức khỏe cha vẫn tốt.

“Thương con, cha là,—Người cha trìu mến của con,—JOLYON FORSYTE.”

Và cứ đến ngày mồng một tháng Giêng hằng năm, cụ lại cộng thêm một trăm bảng cùng tiền lãi. Số tiền cứ tăng dần—đến ngày đầu năm tới sẽ là hơn một nghìn năm trăm bảng! Khó mà nói được giao dịch thường niên ấy đã đem lại cho cụ bao nhiêu thỏa mãn. Nhưng thư từ giữa họ đã chấm dứt.

Bất chấp tình yêu dành cho con trai, bất chấp một bản năng—phần do thể chất, phần là kết quả của việc không ngừng xử lý và theo dõi công chuyện, như ở hàng nghìn người cùng tầng lớp với cụ—thôi thúc cụ phán xét hành vi theo hậu quả hơn là nguyên tắc, tận đáy lòng cụ vẫn có một nỗi bất an. Trong hoàn cảnh ấy, con trai cụ lẽ ra phải sa đọa; quy luật đó đã được khẳng định trong mọi tiểu thuyết, bài giảng đạo và vở kịch cụ từng đọc, nghe hay xem.

Sau khi nhận lại tấm séc, cụ cảm thấy đâu đó có điều gì không ổn. Tại sao con trai cụ lại không sa đọa? Nhưng rồi, ai mà biết được?

Dĩ nhiên cụ đã nghe nói—thực ra, cụ đã chủ tâm dò hỏi—rằng Jo sống ở St. John’s Wood, có một ngôi nhà nhỏ với khu vườn trên đại lộ Wistaria, thường đưa vợ cùng đi giao du—hẳn là với một giới xã hội kỳ quặc nào đó—và họ có hai con: thằng bé gọi là Jolly (xét hoàn cảnh, cái tên ấy khiến cụ thấy có vẻ cay độc, mà cụ Jolyon vừa e sợ vừa không ưa sự cay độc), cùng một bé gái tên Holly, sinh ra sau khi họ kết hôn. Ai biết được thực sự gia cảnh con trai cụ ra sao? Anh đã biến khoản lợi tức thừa kế từ ông ngoại thành vốn và gia nhập Lloyd’s với tư cách người nhận bảo hiểm; anh còn vẽ tranh nữa—tranh màu nước. Cụ Jolyon biết điều này vì thỉnh thoảng cụ đã lén mua chúng, sau khi tình cờ thấy tên con trai ký dưới một bức họa sông Thames trong cửa sổ hiệu buôn tranh. Cụ cho rằng chúng dở, và không treo lên vì có chữ ký ấy; cụ khóa chúng trong một ngăn kéo.

Trong nhà hát opera rộng lớn, một nỗi khát khao mãnh liệt muốn gặp con trai chợt xâm chiếm cụ. Cụ nhớ những ngày thường cho thằng bé mặc bộ đồ vải holland nâu, trượt đi trượt lại dưới vòm hai chân mình; những lần cụ chạy bên con ngựa nhỏ của nó, dạy nó cưỡi; ngày đầu tiên đưa nó tới trường. Nó từng là một thằng bé trìu mến, đáng yêu biết bao! Sau khi vào Eton, có lẽ nó đã nhiễm hơi quá nhiều cái phong thái đáng ao ước mà cụ Jolyon biết chỉ có thể đạt được ở những nơi như thế, với một khoản chi phí rất lớn; nhưng bao giờ nó cũng là người bạn đồng hành dễ chịu. Bao giờ cũng là một người bạn, ngay cả sau Cambridge—có lẽ hơi cách biệt đôi chút, do những ưu thế nó được hưởng. Tình cảm của cụ Jolyon đối với các trường trung học danh giá và những “Đại học” của nước Anh chưa bao giờ lay chuyển; một cách cảm động, cụ vẫn giữ thái độ vừa ngưỡng mộ vừa ngờ vực đối với một hệ thống dành cho những bậc cao sang nhất trong xứ sở, mà chính cụ không có đặc ân được dự phần.... Giờ đây June đã đi, đã rời bỏ cụ, hoặc gần như thế, thì được gặp lại con trai hẳn sẽ là một niềm an ủi. Mang tội phản bội gia đình, nguyên tắc và giai cấp của mình như vậy, cụ Jolyon dán mắt vào người ca sĩ. Một thứ tồi tàn—tồi tàn đến thảm hại! Còn anh chàng đóng Florian thì cứng đờ như khúc gỗ!

Vở diễn đã hết. Người thời nay thật dễ vừa lòng!

Ngoài con phố đông nghịt, cụ nhanh tay giành được một chiếc xe ngay trước mũi một quý ông béo tốt và trẻ hơn nhiều, người đã mặc nhiên cho rằng nó là của mình. Đường cụ về đi qua Pall Mall, nhưng tới góc phố, thay vì xuyên qua Green Park, người đánh xe lại rẽ lên phố St. James’s. Cụ Jolyon thò tay qua ô cửa trên nóc xe (cụ không chịu nổi việc bị chở chệch đường); tuy nhiên, khi xe rẽ, cụ chợt thấy mình đối diện câu lạc bộ “Hotch Potch”, và nỗi khát khao âm thầm theo cụ suốt tối nay đã thắng thế. Cụ gọi người đánh xe dừng lại. Cụ sẽ vào hỏi xem Jo còn là hội viên ở đó không.

Cụ bước vào. Tiền sảnh trông hệt như hồi cụ thường tới dùng bữa với Jack Herring, khi nơi đây có người đầu bếp giỏi nhất London; cụ nhìn quanh bằng ánh mắt thẳng thắn, tinh tường mà suốt đời đã khiến cụ luôn được phục vụ chu đáo hơn phần đông thiên hạ.

“Ông Jolyon Forsyte vẫn còn là hội viên ở đây chứ?”

“Vâng, thưa ông; hiện ông ấy đang ở trong câu lạc bộ. Xin cho biết quý danh?”

Cụ Jolyon sửng sốt.

“Cha ông ấy,” cụ nói.

Nói xong, cụ đứng yên, quay lưng về phía lò sưởi.

Jolyon trẻ, đang định rời câu lạc bộ, đã đội mũ và vừa băng qua tiền sảnh thì người gác cổng tới gặp. Anh không còn trẻ nữa; tóc đã điểm bạc, khuôn mặt—một bản sao thanh hẹp hơn của cha, với cùng bộ ria lớn rủ xuống—rõ ràng hằn vẻ mỏi mòn. Anh tái mặt. Cuộc gặp gỡ sau ngần ấy năm thật khủng khiếp, bởi trên đời không gì khủng khiếp bằng một cảnh xúc động. Họ tiến lại, bắt tay nhau mà không nói một lời. Rồi người cha cất tiếng run run:

“Con có khỏe không, con trai?”

Người con đáp:

“Cha có khỏe không?”

Bàn tay cụ Jolyon run lên trong chiếc găng mỏng màu oải hương.

“Nếu con đi cùng đường với cha,” cụ nói, “cha có thể cho con đi nhờ.”

Và như thể đêm nào họ cũng vẫn quen đưa nhau về, hai người bước ra ngoài rồi lên xe.

Cụ Jolyon cảm thấy con trai mình đã trưởng thành hơn. “Hoàn toàn ra dáng một người đàn ông hơn,” cụ thầm nhận xét. Trên vẻ hiền hòa tự nhiên của khuôn mặt người con giờ đã phủ một chiếc mặt nạ hơi giễu cợt, như thể hoàn cảnh sống đã khiến anh thấy mình cần một lớp giáp. Những đường nét ấy chắc chắn là của một Forsyte, nhưng vẻ mặt lại mang nét hướng nội của một học giả hay triết gia. Hẳn trong suốt mười lăm năm ấy, anh đã buộc phải soi xét vào chính mình rất nhiều.

Đối với Jolyon trẻ, cái nhìn đầu tiên về cha chắc chắn là một cú sốc—cụ nom già nua, tiều tụy đến thế. Nhưng khi đã ngồi trong xe, cụ dường như hầu chẳng thay đổi, vẫn giữ vẻ điềm tĩnh mà anh nhớ rất rõ, vẫn thẳng lưng và tinh mắt.

“Trông cha vẫn khỏe.”

“Cũng thường thôi,” cụ Jolyon đáp.

Cụ đang bị một nỗi lo âu giày vò và nhận thấy mình phải nói nó thành lời. Đã tìm lại được con trai như thế này, cụ cảm thấy nhất định phải biết tình hình tài chính của anh.

“Jo,” cụ nói, “cha muốn biết con đang ở trong cảnh ngộ thế nào. Chắc con đang mắc nợ?”

Cụ nói theo cách ấy để con trai thấy dễ thú nhận hơn.

Jolyon trẻ đáp bằng giọng mỉa mai:

“Không! Con không mắc nợ!”

Cụ Jolyon thấy anh nổi giận, bèn chạm vào tay anh. Cụ đã liều một phen. Dẫu sao cũng đáng, mà Jo chưa bao giờ hờn dỗi cụ. Họ tiếp tục đi, không nói thêm lời nào, tới Stanhope Gate. Cụ Jolyon mời anh vào nhà, nhưng Jolyon trẻ lắc đầu.

“June không có nhà,” cha anh vội nói, “hôm nay nó đã đi thăm người quen. Chắc con biết nó đã đính hôn rồi chứ?”

“Đã thế rồi sao?” Jolyon trẻ lẩm bẩm.

Cụ Jolyon bước xuống và, khi trả tiền xe, lần đầu tiên trong đời đưa nhầm cho người đánh xe một đồng sovereign thay vì một đồng shilling.

Ngậm đồng tiền vào miệng, người đánh xe lén quất roi vào bụng dưới con ngựa rồi vội vã đi mất.

Cụ Jolyon khẽ xoay chìa trong ổ khóa, đẩy cửa ra và vẫy tay. Người con nghiêm trang nhìn cụ treo áo khoác lên, trên mặt mang vẻ của một cậu bé sắp đi ăn trộm anh đào.

Cửa phòng ăn để mở, đèn khí vặn thấp; một bình đun nước bằng cồn đang xì xì trên khay trà, và sát bên, một con mèo có vẻ giễu cợt đã ngủ thiếp trên bàn ăn. Cụ Jolyon lập tức “suỵt” đuổi nó xuống. Sự việc ấy làm cảm xúc của cụ nhẹ đi; cụ lắc chiếc mũ opera loạt xoạt sau con vật.

“Nó có bọ chét,” cụ nói, đi theo nó ra khỏi phòng. Qua cánh cửa ngoài hành lang dẫn xuống tầng hầm, cụ gọi “Suỵt!” mấy lần, như thể tiếp tay cho con mèo rút lui, cho tới khi, bởi một sự trùng hợp lạ lùng nào đó, người quản gia xuất hiện phía dưới.

“Ông có thể đi ngủ, Parfitt,” cụ Jolyon nói. “Tôi sẽ khóa cửa và tắt đèn.”

Khi cụ trở vào phòng ăn, chẳng may con mèo lại đi trước cụ, đuôi dựng ngược, như muốn tuyên bố rằng ngay từ đầu nó đã nhìn thấu mưu mẹo nhằm tống khứ người quản gia này....

Suốt đời cụ Jolyon, mọi mưu mẹo trong nhà của cụ dường như đều bị một vận rủi đeo đẳng.

Jolyon trẻ không nhịn được cười. Anh rất sành sự trớ trêu, và mọi chuyện tối hôm ấy đều có vẻ trớ trêu đối với anh. Chuyện con mèo; lời báo tin con gái ruột của anh đã đính hôn. Vậy là anh chẳng còn phần nào nơi con gái mình hơn là nơi ả mèo kia! Và sự báo ứng đầy chất thơ ấy khiến anh thấy thú vị.

“Bây giờ June trông thế nào?” anh hỏi.

“Nó nhỏ nhắn,” cụ Jolyon đáp; “người ta bảo nó giống cha, nhưng đó là họ nói ngớ ngẩn. Nó giống mẹ con hơn—cùng đôi mắt và mái tóc ấy.”

“À! Và nó có xinh không?”

Cụ Jolyon quá đỗi là một người Forsyte nên chẳng bao giờ hào phóng lời khen; nhất là đối với những gì cụ thật lòng thán phục.

“Trông cũng không đến nỗi nào—đúng là cái cằm nhà Forsyte. Khi nó đi rồi, nơi này sẽ quạnh quẽ lắm, Jo.”

Vẻ mặt cụ một lần nữa khiến Jolyon trẻ choáng váng như khi mới trông thấy cha.

“Rồi cha sẽ làm gì cho khuây khỏa? Con đoán là nó mê anh ta lắm phải không?”

“Ta sẽ làm gì ư?” cụ Jolyon nhắc lại, giọng đột ngột nghẹn đi vì giận dữ. “Sống một mình ở đây sẽ khốn khổ lắm. Ta không biết chuyện này rồi sẽ kết thúc ra sao. Ước gì, lạy Trời....” Cụ kìm lại, rồi nói thêm: “Vấn đề là ta nên làm gì với ngôi nhà này?”

Jolyon trẻ nhìn quanh căn phòng. Nó rộng mênh mông và buồn thảm một cách khác thường, trang hoàng bằng những bức tĩnh vật khổng lồ mà chàng còn nhớ từ thuở bé—những con chó đang ngủ, mõm gác lên từng bó cà rốt, bên cạnh là hành và nho nằm kề nhau trong vẻ ngạc nhiên hiền lành. Ngôi nhà là một món của nợ tốn kém, nhưng chàng không sao hình dung nổi cha mình sống ở một nơi nhỏ hơn; và bởi thế, tất cả càng có vẻ trớ trêu.

Trong chiếc ghế bành lớn có giá kê sách, cụ Jolyon ngồi đó, như pho tượng mũi tàu của gia đình, giai cấp và tín điều mình, với mái đầu bạc trắng và vầng trán tựa mái vòm—hiện thân của sự điều độ, trật tự và lòng yêu của cải. Một ông già cô độc vào bậc nhất London.

Cụ ngồi đó giữa tiện nghi u ám của căn phòng, một con rối dưới quyền những sức mạnh lớn lao chẳng hề đoái hoài đến gia đình, giai cấp hay tín điều, mà vận hành như máy móc qua những tiến trình đáng sợ, hướng tới các cứu cánh không thể dò thấu. Đó là ấn tượng của Jolyon trẻ, người có con mắt quan sát vô tư.

Cha già tội nghiệp! Vậy đây là kết cuộc, là mục đích mà vì nó cụ đã sống với một sự điều độ phi thường đến thế! Để rồi cô độc, mỗi ngày một già thêm, khắc khoải mong có một tâm hồn mà chuyện trò!

Đến lượt mình, cụ Jolyon nhìn lại con trai. Cụ muốn nói về bao nhiêu điều mà suốt những năm qua cụ không thể đem ra nói. Không thể nào nghiêm túc thổ lộ với June niềm tin rằng bất động sản ở khu Soho sẽ tăng giá; nỗi bất an của cụ trước sự im lặng ghê gớm ấy của Pippin, viên quản lý Công ty Mỏ than Mới mà cụ đã làm chủ tịch từ lâu; nỗi chán ghét của cụ trước đà sụt giá không ngừng của cổ phiếu Golgotha Mỹ; hoặc thậm chí bàn xem bằng một sự dàn xếp nào đó, cụ có thể tránh được tốt nhất việc đóng những khoản thuế di sản sẽ phát sinh sau khi cụ qua đời. Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của một tách trà mà dường như cụ cứ khuấy mãi không thôi, cuối cùng cụ bắt đầu lên tiếng. Như thế, một chân trời mới của cuộc sống mở ra, một miền đất hứa của chuyện trò, nơi cụ có thể tìm được bến cảng che chở trước những ngọn sóng của dự cảm và nuối tiếc; nơi cụ có thể xoa dịu tâm hồn bằng thứ thuốc phiện của việc trù tính làm sao cho sản nghiệp được trọn vẹn và khiến phần duy nhất của mình còn sống mãi trở thành vĩnh cửu.

Jolyon trẻ là một người biết lắng nghe; đó là phẩm chất lớn nhất của chàng. Chàng không rời mắt khỏi gương mặt cha, thỉnh thoảng mới đặt một câu hỏi.

Đồng hồ điểm một giờ trước khi cụ Jolyon nói xong, và theo tiếng chuông ngân, những nguyên tắc của cụ trở lại. Cụ lấy đồng hồ bỏ túi ra, vẻ ngạc nhiên:

“Ta phải đi ngủ thôi, Jo,” cụ nói.

Jolyon trẻ đứng dậy, chìa tay đỡ cha lên. Gương mặt già nua lại hiện vẻ mỏi mệt, hõm sâu; đôi mắt nhất quyết tránh sang nơi khác.

“Tạm biệt, con trai; nhớ giữ gìn sức khỏe.”

Một khoảnh khắc trôi qua, rồi Jolyon trẻ quay gót, bước thẳng ra cửa. Chàng hầu như không nhìn thấy gì; nụ cười run rẩy. Trong suốt mười lăm năm kể từ lần đầu nhận ra cuộc đời chẳng phải chuyện đơn giản, chưa bao giờ chàng thấy nó phức tạp một cách lạ lùng đến thế.