Người có của — Chương 3: Bữa tối tại nhà Swithin

Chương 4 / 33 · Bài review Người có của

Trong phòng ăn màu cam và lam nhạt của Swithin, trông ra Công viên, chiếc bàn tròn đã được bày cho mười hai người.

Một chùm đèn pha lê cắt, cắm đầy nến thắp sáng, treo trên chính giữa bàn như một thạch nhũ khổng lồ, tỏa ánh sáng lên những tấm gương lớn đóng khung mạ vàng, những phiến cẩm thạch trên mặt các bàn kê tường, và những chiếc ghế nặng nề thếp vàng với mặt ghế thêu len. Mọi thứ đều biểu lộ lòng yêu cái đẹp vốn bén rễ sâu xa trong mỗi gia đình đã phải tự mở đường vào Giới Thượng lưu từ cõi lòng dung tục hơn của Tự nhiên. Quả thực, Swithin không sao chịu nổi sự giản dị và đặc biệt yêu thích đồ đồng mạ vàng, điều vẫn khiến ông nổi bật giữa những người quen như một người có thị hiếu lớn lao, dẫu hơi xa hoa; và từ sự biết chắc rằng không ai có thể bước vào các căn phòng của ông mà không nhận ra ông là người giàu có, ông đã rút được một niềm hạnh phúc vững bền, lâu dài mà có lẽ không hoàn cảnh nào khác trong đời từng đem lại cho ông.

Từ khi thôi nghề quản lý điền sản—một nghề mà theo ông thật đáng chê trách, nhất là bộ phận bán đấu giá—ông đã hoàn toàn buông mình theo những thị hiếu quý tộc bẩm sinh.

Cuộc sống xa hoa trọn vẹn trong những năm cuối đời đã vùi ông vào đó như con ruồi trong đường; và tâm trí ông, nơi từ sáng đến tối chẳng mấy khi có chuyện gì diễn ra, là chỗ hội tụ của hai cảm xúc đối nghịch một cách kỳ lạ: một niềm mãn nguyện dai dẳng và vững chãi vì đã tự mình gây dựng cơ đồ cùng gia sản, và cảm giác rằng một người có địa vị như ông lẽ ra không bao giờ nên bị bắt phải làm hoen bẩn tâm trí bằng công việc.

Ông đứng bên tủ bày đồ ăn trong chiếc áo gi-lê trắng đính những chiếc cúc lớn bằng vàng và mã não, nhìn người hầu riêng xoay cổ ba chai sâm-panh lún sâu hơn vào các xô đá. Giữa hai mũi cổ áo dựng đứng—dẫu mỗi khi cử động đều làm ông đau, ông cũng nhất quyết không chịu sửa—lớp thịt nhợt nhạt dưới cằm ông nằm bất động. Mắt ông đảo từ chai nọ sang chai kia. Ông đang cân nhắc, và lập luận thế này: Jolyon uống một ly, có lẽ hai, ông ấy giữ gìn mình kỹ lắm. James thì dạo này không uống được rượu nữa. Nicholas—Fanny với ông ấy có khi chỉ nốc nước lã cũng nên! Soames không đáng kể; đám cháu trẻ này—Soames đã ba mươi mốt—không biết uống! Nhưng Bosinney—

Gặp phải trong cái tên của người lạ này một điều nằm ngoài phạm vi triết lý của mình, Swithin ngừng lại. Một nỗi hồ nghi dấy lên trong lòng ông! Không sao biết được! June chỉ là một cô gái, lại đang yêu nữa! Emily (bà James) thích một ly sâm-panh ngon. Rượu ấy quá khô đối với Juley; tội nghiệp bà già, bà chẳng có khẩu vị gì. Còn Hatty Chessman! Ý nghĩ về người bạn già này khiến một đám mây suy tư che mờ vẻ trong veo hoàn hảo trong mắt ông: Ông chẳng lấy làm lạ nếu bà ta uống hết nửa chai!

Nhưng khi nghĩ đến vị khách còn lại, một vẻ như con mèo sắp sửa cất tiếng gừ gừ khoan khoái lẻn vào khuôn mặt già nua của ông: bà Soames! Có thể nàng không uống nhiều, nhưng sẽ biết thưởng thức thứ mình uống; mời nàng rượu ngon quả là một niềm vui! Một người đàn bà xinh đẹp—lại còn có cảm tình với ông!

Nghĩ đến nàng cũng chẳng khác nào chính sâm-panh! Thật thích thú khi mời rượu ngon một thiếu phụ trông duyên dáng đến thế, biết cách ăn vận, phong thái quyến rũ, thật thanh nhã—thật thích thú khi được khoản đãi nàng. Giữa hai mũi cổ áo, ông thực hiện cái lắc đầu nhỏ bé, đau đớn đầu tiên trong buổi tối ấy.

“Adolf!” ông nói. “Cho thêm một chai nữa.”

Bản thân ông có thể uống khá nhiều, bởi nhờ toa thuốc của Blight, ông thấy mình khỏe vô cùng, và ông đã cẩn thận không ăn trưa. Đã nhiều tuần rồi ông chưa thấy khỏe đến thế. Trề môi dưới ra, ông ban những lời dặn cuối cùng:

“Adolf, đến món giăm-bông thì chỉ cho một chút xíu sốt Tây Ấn thôi.”

Sang phòng ngoài, ông ngồi xuống mép một chiếc ghế, hai đầu gối dạng ra; và thân hình cao lớn, đồ sộ của ông lập tức chìm vào một trạng thái bất động chờ đợi, kỳ lạ và nguyên thủy. Ông sẵn sàng đứng dậy bất cứ lúc nào. Đã nhiều tháng ông không mở tiệc tối. Thoạt đầu, bữa tiệc mừng lễ đính hôn của June có vẻ là một chuyện phiền phức (trong nhà Forsyte, tục lệ long trọng hóa những cuộc đính hôn bằng yến tiệc được tuân giữ như một nghi thức tôn giáo), nhưng khi công việc gửi thiệp mời và đặt món đã xong, ông cảm thấy một niềm hứng khởi dễ chịu.

Và cứ ngồi như thế, đồng hồ cầm trong tay, mập mạp, nhẵn nhụi và óng vàng như một khối bơ tròn bị ép dẹt, ông chẳng nghĩ gì cả.

Một người đàn ông cao lêu nghêu, để râu quai nón, trước từng phục vụ Swithin nhưng nay đã làm nghề bán rau quả, bước vào và xướng lên:

“Bà Chessman, bà Septimus Small!”

Hai quý bà tiến vào. Người đi trước mặc toàn màu đỏ, trên đôi má có những mảng lớn cố định cũng màu ấy, và đôi mắt cứng rắn, táo tợn. Bà xăm xăm tiến về phía Swithin, chìa ra một bàn tay bọc trong chiếc găng dài màu vàng anh thảo:

“Chà! Swithin,” bà nói, “lâu lắm rồi tôi không gặp ông. Ông thế nào? Trời, ông bạn thân mến của tôi, ông càng ngày càng béo ra đấy!”

Chỉ sự bất động trong mắt Swithin để lộ cảm xúc. Một cơn giận câm lặng, gầm gừ làm lồng ngực ông phồng lên. Béo là dung tục, nói đến chuyện béo cũng dung tục; ông chỉ có một bộ ngực nở nang, không hơn. Quay sang em gái, ông nắm lấy tay bà và nói bằng giọng ra lệnh:

“Chào Juley.”

Bà Septimus Small là người cao nhất trong bốn chị em; khuôn mặt già nua, tròn trịa và hiền hậu của bà đã hơi chua chát; vô số nét phụng phịu bám khắp mặt bà, như thể cho đến tận tối hôm ấy nó vẫn bị nhốt trong một chiếc mặt nạ bằng dây thép, nay đột ngột được tháo ra, để lại khắp diện mạo bà những nếp thịt nhỏ đầy vẻ bất phục. Ngay cả đôi mắt bà cũng phụng phịu. Bằng cách ấy, bà ghi khắc nỗi oán hờn thường trực trước việc mất đi Septimus Small.

Bà khá nổi tiếng vì luôn nói nhầm điều không nên nói, và, dai dẳng như tất cả nòi giống nhà mình, một khi đã nói ra bà sẽ khăng khăng giữ lấy, rồi thêm vào một điều sai khác, và cứ thế mãi. Sau cái chết của chồng, tính ngoan cố của gia đình, đầu óc thực tế của gia đình, đã hóa cằn cỗi trong bà. Là người rất hay chuyện khi được phép, bà có thể trò chuyện hàng giờ liền mà không biểu lộ chút sinh khí nào, kể lại, với giọng đều đều như trường ca, vô số dịp Số phận đã bạc đãi mình; bà cũng chẳng bao giờ nhận ra rằng người nghe đều đứng về phía Số phận, bởi lòng bà vốn nhân hậu.

Tội nghiệp bà, vì đã ngồi lâu bên giường bệnh của Small (một người thể chất yếu đuối), bà thành quen; và vô số lần sau đó, bà lại ngồi những khoảng thời gian dài vô tận để mua vui cho người ốm, trẻ con và những kẻ bất lực khác, thành thử bà không bao giờ rũ bỏ được cảm giác rằng thế gian là nơi bạc bẽo nhất mà con người có thể sống. Chủ nhật này qua Chủ nhật khác, bà ngồi dưới chân vị thuyết giáo cực kỳ dí dỏm, Mục sư Thomas Scoles, người có ảnh hưởng lớn đối với bà; thế nhưng bà vẫn khiến mọi người tin rằng ngay cả việc ấy cũng là một tai họa. Bà đã trở thành một thành ngữ trong gia đình, và hễ ai tỏ ra đặc biệt khiến người khác khổ sở thì kẻ ấy được gọi là một “Juley” chính hiệu. Thói quen tâm trí ấy hẳn đã giết chết bất kỳ ai ngoài một người Forsyte từ tuổi bốn mươi; nhưng bà đã bảy mươi hai và chưa bao giờ trông khỏe hơn. Người ta còn cảm thấy trong bà có những khả năng hưởng lạc biết đâu một ngày kia sẽ bộc lộ. Bà sở hữu ba con hoàng yến, con mèo Tommy, và một nửa con vẹt—đồng sở hữu với cô Hester; và những sinh vật tội nghiệp này (được cẩn thận giữ tránh xa Timothy—ông vốn sợ súc vật), không giống con người, nhận ra rằng bà không thể cưỡng lại việc mình đã bị tai họa làm cho héo hắt, nên quấn quýt với bà bằng cả tấm lòng nồng nhiệt.

Tối hôm ấy bà mang vẻ lộng lẫy u trầm trong bộ váy bombazine đen, với mảnh thân trước màu hoa cà khoét thành một tam giác e lệ, phía trên là dải nhung đen quấn quanh chân chiếc cổ gầy; trang phục dạ hội màu đen và hoa cà được hầu như mọi người Forsyte coi là hết sức đoan trang.

Phụng phịu nhìn Swithin, bà nói:

“Cô Ann vẫn hỏi thăm ông. Đã lâu lắm ông chẳng ghé thăm chúng tôi!”

Swithin luồn hai ngón tay cái vào nách áo gi-lê và đáp:

“Ann yếu lắm rồi; cô ấy nên mời bác sĩ!”

“Ông bà Nicholas Forsyte!”

Nicholas Forsyte nhướng đôi lông mày vuông vức, miệng nở nụ cười. Trong ngày hôm ấy, ông đã thành công đưa đến kết quả một kế hoạch thuê một bộ tộc từ miền Thượng Ấn làm việc trong các mỏ vàng ở Ceylon. Một kế hoạch tâm đắc, cuối cùng đã thực hiện được bất chấp những trở ngại lớn—ông hài lòng là phải. Nó sẽ tăng gấp đôi sản lượng các mỏ của ông, và, như ông vẫn thường hùng hồn lập luận, mọi kinh nghiệm đều cho thấy con người ắt phải chết; mà chết vì tuổi già khốn khổ ngay trên quê hương mình, hay chết sớm vì khí ẩm dưới đáy một hầm mỏ ngoại quốc, hẳn cũng chẳng khác nhau là bao, miễn sao nhờ thay đổi lối sống mà người ấy làm lợi cho Đế quốc Anh.

Tài năng của ông là điều không ai nghi ngờ. Hếch chiếc mũi gãy về phía người nghe, ông thường nói thêm:

“Chỉ vì thiếu vài trăm tên như thế mà bao năm nay chúng ta không trả nổi cổ tức, cứ nhìn giá cổ phiếu mà xem. Tôi bán mười shilling cũng chẳng ai mua.”

Ông cũng vừa đến Yarmouth, và trở về với cảm giác mình đã kéo dài đời mình thêm ít nhất mười năm. Ông siết tay Swithin, vui vẻ kêu lên:

“Chà, thế là chúng ta lại gặp nhau!”

Bà Nicholas, một người đàn bà suy nhược, đứng sau lưng chồng nở một nụ cười vui vẻ đầy sợ sệt.

“Ông bà James Forsyte! Ông bà Soames Forsyte!”

Swithin khép hai gót chân lại, phong thái lúc nào cũng đáng khâm phục.

“Chào James, chào Emily! Soames, anh thế nào? Còn cô _khỏe_ chứ?”

Bàn tay ông khép quanh tay Irene, và đôi mắt ông nở lớn. Nàng quả là một người đàn bà xinh đẹp—hơi tái một chút, nhưng vóc dáng nàng, đôi mắt nàng, hàm răng nàng! Quá tốt đối với cái gã Soames ấy!

Các vị thần đã ban cho Irene đôi mắt nâu sẫm và mái tóc vàng, một sự kết hợp kỳ lạ khêu gợi ánh nhìn của đàn ông, mà người ta bảo là dấu hiệu của một tính cách yếu đuối. Và vẻ trắng ngần đầy đặn, mềm mại của cổ cùng đôi vai nàng, nổi lên trên chiếc áo dài màu vàng kim, đem đến cho con người nàng một nét xa lạ đầy quyến rũ.

Soames đứng phía sau, mắt dán vào cổ vợ. Kim chiếc đồng hồ của Swithin, vẫn còn mở trong tay ông, đã vượt qua số tám; bữa tối đã muộn nửa giờ—ông chưa ăn trưa—và một nỗi nôn nóng nguyên thủy, kỳ lạ trào lên trong ông.

“Jolyon xưa nay đâu có đến muộn!” ông nói với Irene, vẻ bực tức không sao kìm nổi. “Chắc là June giữ chân ông ấy!”

“Người đang yêu bao giờ cũng đến muộn,” nàng đáp.

Swithin nhìn nàng chằm chằm; một sắc cam sẫm nhuộm lên đôi má ông.

“Họ không có quyền đến muộn. Toàn trò vớ vẩn thời thượng!”

Và đằng sau lời bột phát ấy, bạo lực không thành lời của những thế hệ nguyên thủy dường như đang lầm bầm, gầm gừ.

“Chú Swithin, hãy cho cháu biết chú nghĩ sao về ngôi sao mới của cháu,” Irene dịu dàng nói.

Giữa lớp đăng-ten trước ngực áo nàng lấp lánh một ngôi sao năm cánh kết bằng mười một viên kim cương. Swithin nhìn ngôi sao. Ông có con mắt khá tinh tường về đá quý; không câu hỏi nào có thể được nghĩ ra khéo hơn để làm ông sao lãng.

“Ai tặng cô thứ ấy?” ông hỏi.

“Soames.”

Gương mặt nàng không hề thay đổi, nhưng đôi mắt nhợt nhạt của Swithin lồi ra như thể ông vừa đột ngột mắc phải chứng thấu hiểu.

“Tôi dám chắc cô buồn chán ở nhà,” ông nói. “Bất cứ hôm nào muốn đến dùng bữa với tôi, tôi sẽ mời cô một chai rượu ngon chẳng kém bất kỳ chai nào cô tìm được ở London.”

“Cô June Forsyte—ông Jolyon Forsyte!... Ông Boswainey!...”

Swithin vung cánh tay và nói bằng giọng ầm ầm:

“Ăn tối thôi—ăn tối!”

Ông đưa Irene vào bàn, với lý do ông chưa từng khoản đãi nàng kể từ khi nàng làm cô dâu. June thuộc phần Bosinney, người được xếp ngồi giữa Irene và vị hôn thê của mình. Phía bên kia June là James ngồi với bà Nicholas, kế đó là cụ Jolyon với bà James, Nicholas với Hatty Chessman, Soames với bà Small, rồi vòng tròn khép lại ở Swithin.

Những bữa tiệc gia đình của nhà Forsyte tuân theo một số truyền thống nhất định. Chẳng hạn, không hề có _món khai vị_. Lý do thì không ai biết. Một giả thuyết trong đám thành viên trẻ quy điều ấy cho giá hàu đắt đến đáng hổ thẹn; nhưng có lẽ đúng hơn, nó bắt nguồn từ ý muốn đi thẳng vào điều chính yếu, từ óc thực tế lành mạnh lập tức phán quyết rằng _món khai vị_ chỉ là những thứ xoàng xĩnh. Chỉ riêng nhà James, không cưỡng nổi một tập tục gần như phổ biến khắp Park Lane, thỉnh thoảng mới thất tín với truyền thống ấy.

Sau khi mọi người lắng xuống ghế, một thái độ lơ đãng im lặng, gần như cau có, đối với nhau liền tiếp diễn cho đến quá nửa món nóng đầu tiên, tuy đôi lúc bị xen ngang bởi những câu như: “Tom lại ốm rồi; tôi chẳng biết nó làm sao!” “Tôi đoán buổi sáng Ann không xuống nhà nữa?”—“Bác sĩ của chị tên gì ấy nhỉ, Fanny?” “Stubbs à?” “Lão ấy là lang băm!”—“Winifred ư? Nó có quá nhiều con. Bốn đứa, phải không? Nó gầy như que củi!”—“Chai sherry này ông mua bao nhiêu, Swithin? Khô quá đối với tôi!”

Đến ly sâm-panh thứ hai, một thứ tiếng rì rầm bắt đầu nổi lên; khi tước bỏ những phụ tiết ngẫu nhiên và phân giải về yếu tố nguyên thủy, người ta nhận ra đó là James đang kể một câu chuyện, và chuyện ấy kéo dài rất lâu, đôi khi còn lấn sang cả thứ mà ai ai cũng phải công nhận là đỉnh cao của một bữa tiệc Forsyte—_món lưng cừu_.

Không một người Forsyte nào từng mở tiệc tối mà không dọn món lưng cừu. Trong cái chắc nịch mọng nước của nó có điều gì đó khiến nó đặc biệt thích hợp với những người “có địa vị nhất định.” Nó bổ dưỡng và ngon miệng; là loại thức ăn mà người ta nhớ mình đã từng ăn. Nó có quá khứ và tương lai, như một khoản tiền gửi vào ngân hàng; và còn là một thứ có thể đem ra bàn luận.

Mỗi nhánh trong gia đình đều khăng khăng trung thành với một vùng riêng: cụ Jolyon một mực tin vào thịt cừu Dartmoor, James chọn thịt xứ Wales, Swithin chọn giống Southdown, còn Nicholas thì quả quyết rằng thiên hạ có thể gièm pha, nhưng chẳng gì bằng thịt New Zealand! Riêng Roger, người “độc đáo” nhất trong mấy anh em, đành phải tự nghĩ ra một xuất xứ cho mình; và với tài tháo vát xứng đáng ở một người đã nghĩ ra cả một nghề mới cho các con trai, ông đã tìm được một cửa hàng bán thịt cừu Đức. Khi bị phản đối, ông chứng minh lẽ phải của mình bằng cách đưa ra hóa đơn hàng thịt, cho thấy ông trả giá cao hơn tất cả những người kia. Chính vào dịp ấy, cụ Jolyon quay sang June và nói, trong một cơn bộc phát triết lý:

“Cháu cứ tin chắc đi, nhà Forsyte là một lũ gàn dở — rồi càng lớn cháu càng thấy rõ!”

Chỉ riêng Timothy đứng ngoài cuộc, bởi tuy ăn món lưng cừu rất ngon lành, ông vẫn bảo mình sợ món ấy.

Đối với bất kỳ ai quan tâm đến tâm lý nhà Forsyte, đặc tính vĩ đại gắn với món lưng cừu này có tầm quan trọng bậc nhất; nó không chỉ minh họa tính bền bỉ của họ, cả với tư cách tập thể lẫn từng cá nhân, mà còn đánh dấu họ, từ bản chất và bản năng, là thành viên của cái giai cấp lớn lao tin vào chất bổ và hương vị, không chịu nhượng bộ một khát vọng đa cảm nào đối với cái đẹp.

Quả thực, những người trẻ hơn trong gia đình hẳn đã sẵn lòng bỏ hẳn món thịt quay, thích gà Phi hoặc xà lách tôm hùm hơn — một thứ gì đó khêu gợi trí tưởng tượng mà lại ít bổ dưỡng hơn — nhưng đó là phụ nữ; hoặc nếu không, thì cũng là những người đàn ông đã bị vợ làm cho hư đi, hay bị ảnh hưởng bởi những bà mẹ, sau khi buộc phải ăn lưng cừu suốt đời sống vợ chồng, đã truyền mối thù ghét thầm kín đối với món ấy vào tận bản chất các con trai mình.

Cuộc tranh luận lớn về món lưng cừu vừa kết thúc thì một chiếc giăm-bông Tewkesbury được khai món, kèm theo một thoáng hương Tây Ấn hết sức nhẹ — Swithin dùng món này lâu đến nỗi làm cả bữa ăn bị ùn lại. Để chuyên tâm vào nó với tinh thần thoải mái hơn, ông tạm ngừng trò chuyện.

Từ chỗ ngồi bên cạnh bà Septimus Small, Soames vẫn quan sát. Anh có một lý do riêng, liên quan đến một dự án xây nhà mà anh đặc biệt ấp ủ, để để mắt tới Bosinney. Tay kiến trúc sư ấy có thể hợp với mục đích của anh; trông hắn có vẻ thông minh khi ngả người trên ghế, ủ ê đắp những bức lũy nhỏ bằng vụn bánh mì. Soames nhận thấy bộ lễ phục của hắn được cắt may khéo, nhưng quá chật, như thể đã được may từ nhiều năm trước.

Anh thấy hắn quay sang Irene nói điều gì đó, và gương mặt nàng bừng sáng như anh vẫn thường thấy nó bừng sáng trước những người khác — nhưng chưa bao giờ trước anh. Anh cố nghe xem họ nói gì, song cô Juley đang lên tiếng.

Chẳng phải điều ấy bao giờ cũng có vẻ hết sức lạ lùng đối với Soames hay sao? Mới Chủ nhật vừa rồi, mục sư Scoles thân mến đã dí dỏm biết bao trong bài giảng, châm biếm biết bao: “Bởi chưng,” ông đã nói, “một người được ích gì nếu giành được linh hồn mình mà mất hết mọi tài sản?” Ông bảo đó là phương châm của tầng lớp trung lưu; vậy ông thực sự muốn nói gì nhỉ? Dĩ nhiên, có thể đó là điều những người trung lưu tin tưởng — cô không biết; Soames nghĩ sao?

Anh lơ đãng đáp: “Làm sao cháu biết được? Nhưng Scoles là một tay bịp bợm, phải không?” Bởi Bosinney đang nhìn quanh bàn, như thể chỉ ra những nét kỳ quặc của các vị khách, và Soames tự hỏi hắn đang nói gì. Căn cứ vào nụ cười của Irene, rõ ràng nàng tán thành những lời nhận xét ấy. Dường như nàng bao giờ cũng tán thành người khác.

Mắt nàng hướng về phía anh; Soames lập tức cụp mắt xuống. Nụ cười đã tắt trên môi nàng.

Một tay bịp bợm ư? Nhưng Soames muốn nói gì? Nếu mục sư Scoles, một giáo sĩ, mà là tay bịp bợm — thì bất cứ ai cũng có thể như thế — thật kinh khủng!

“Vâng, mà đúng là ai cũng thế cả!” Soames nói.

Trong khoảnh khắc cô Juley im bặt vì kinh hãi, anh bắt được mấy lời của Irene nghe như: “Hãy bỏ hết hy vọng, hỡi những ai bước vào đây!”

Nhưng Swithin đã dùng xong món giăm-bông.

“Cô mua nấm ở đâu vậy?” ông đang hỏi Irene bằng giọng của một vị cận thần; “cô nên đến cửa hàng Smileybob — hắn sẽ bán cho cô nấm tươi. Mấy tay buôn nhỏ này, họ chẳng chịu mất công đâu!”

Irene quay sang trả lời ông, và Soames thấy Bosinney ngắm nàng, một mình mỉm cười. Gã này có một nụ cười kỳ lạ. Một nét cười hơi ngây ngô, giống như đứa trẻ mỉm cười khi thích thú. Còn cái biệt danh George đặt cho hắn — “Gã Cướp Biển” — anh chẳng thấy có gì đáng kể. Và khi thấy Bosinney quay sang June, Soames cũng mỉm cười, nhưng đầy mỉa mai — anh không ưa June, lúc ấy trông cô cũng chẳng vui vẻ gì cho lắm.

Điều ấy không có gì đáng ngạc nhiên, bởi cô vừa có cuộc trò chuyện sau đây với James:

“Trên đường về, cháu có dừng lại bên sông, bác James ạ, và trông thấy một địa điểm tuyệt đẹp để xây nhà.”

James, một người ăn chậm rãi và kỹ lưỡng, ngừng nhai.

“Hả?” ông nói. “Ở chỗ nào vậy?”

“Gần Pangbourne.”

James bỏ một miếng giăm-bông vào miệng, còn June chờ đợi.

“Bác chắc cháu không biết đất đai quanh vùng ấy có phải quyền sở hữu vĩnh viễn không?” cuối cùng ông hỏi. “Cháu thì hẳn chẳng biết gì về giá đất quanh đấy chứ?”

“Có chứ,” June nói; “cháu đã hỏi han rồi.” Gương mặt nhỏ nhắn, cương nghị dưới mái tóc màu đồng của cô ánh lên vẻ háo hức đáng ngờ.

James nhìn cô với dáng vẻ của một viên quan thẩm vấn.

“Cái gì? Cháu không định mua đất đấy chứ!” ông thốt lên, đánh rơi chiếc nĩa.

Sự quan tâm của ông khiến June phấn khởi hẳn. Từ lâu cô vẫn ấp ủ kế hoạch để các ông bác vừa làm lợi cho mình vừa giúp Bosinney bằng cách xây những ngôi nhà ở miền quê.

“Dĩ nhiên là không,” cô nói. “Cháu nghĩ đó sẽ là một nơi tuyệt vời để — bác hoặc — một người nào đó xây một ngôi nhà ở miền quê!”

James liếc xéo cô rồi bỏ miếng giăm-bông thứ hai vào miệng…

“Đất quanh đấy hẳn phải đắt lắm,” ông nói.

Điều June tưởng là sự quan tâm riêng đến cô thực ra chỉ là nỗi kích động không mang tính cá nhân của bất cứ người Forsyte nào khi nghe nói đến một món hời đang có nguy cơ rơi vào tay kẻ khác. Nhưng cô không chịu thừa nhận cơ hội của mình đã tiêu tan và tiếp tục cố thuyết phục ông.

“Bác nên về miền quê ở, bác James ạ. Giá mà cháu có thật nhiều tiền, cháu sẽ chẳng ở London thêm một ngày nào nữa.”

James bị khuấy động đến tận đáy con người cao gầy của ông; ông không ngờ cô cháu gái lại có những quan điểm dứt khoát đến thế.

“Sao bác không về miền quê?” June nhắc lại; “điều đó sẽ rất có lợi cho bác.”

“Tại sao?” James bối rối mở lời. “Mua đất — cháu cho rằng bác mua đất, xây nhà thì có lợi gì chứ? — Bác không thể kiếm nổi bốn phần trăm trên số tiền bỏ ra!”

“Điều ấy có gì quan trọng? Bác sẽ được hưởng không khí trong lành.”

“Không khí trong lành!” James kêu lên; “bác cần không khí trong lành để làm gì?”

“Cháu cứ tưởng ai cũng thích được hưởng không khí trong lành,” June khinh khỉnh nói.

James lấy khăn ăn lau khắp miệng.

“Cháu không hiểu giá trị của đồng tiền,” ông nói, tránh ánh mắt cô.

“Không! Và cháu hy vọng mình sẽ chẳng bao giờ hiểu!” Rồi cắn môi vì nỗi tủi hổ không lời nào tả xiết, June tội nghiệp im bặt.

Tại sao họ hàng của cô lại giàu đến thế, còn Phil thì chẳng bao giờ biết tiền mua thuốc hút ngày mai sẽ từ đâu ra? Tại sao họ không thể làm gì đó cho anh? Nhưng họ ích kỷ quá. Tại sao họ không thể xây những ngôi nhà ở miền quê? Cô có trọn vẹn cái tính giáo điều ngây thơ vừa đáng thương, vừa đôi khi đạt được những kết quả lớn lao đến thế. Bosinney, người cô tìm đến trong lúc bẽ bàng, lại đang trò chuyện với Irene, và một luồng giá lạnh tràn xuống tâm hồn June. Mắt cô trở nên cứng lại vì giận dữ, giống mắt cụ Jolyon mỗi khi ý muốn của ông bị chống trái.

James cũng hết sức bực bội. Ông có cảm giác như ai đó vừa đe dọa quyền đầu tư tiền của ông với lãi suất năm phần trăm. Jolyon đã làm hư con bé. Không đứa con gái nào của ông lại nói một điều như thế. James xưa nay vẫn cực kỳ rộng rãi với các con, và ý thức ấy càng khiến ông đau lòng hơn. Ông ủ ê nghịch mấy quả dâu tây, rồi dội ngập kem lên chúng và ăn thật nhanh; dù sao đi nữa, chúng cũng không được thoát khỏi ông.

Ông bực bội như thế cũng chẳng lạ. Suốt năm mươi tư năm hành nghề — ông đã được công nhận là luật sư vào đúng ngày sớm nhất mà pháp luật cho phép — với công việc thu xếp các khoản thế chấp, duy trì các khoản đầu tư ở mức lãi suất cao và an toàn tuyệt đối, tiến hành thương lượng theo nguyên tắc lấy được từ người khác càng nhiều càng tốt trong giới hạn vẫn bảo đảm an toàn cho thân chủ và bản thân, tính toán chính xác mọi khả năng tiền bạc trong tất cả các quan hệ của đời sống, rốt cuộc ông đã đi đến chỗ chỉ suy nghĩ thuần túy bằng tiền. Giờ đây tiền là ánh sáng của ông, là phương tiện để ông nhìn; thiếu nó, ông thực sự không thể nhìn thấy, thực sự không nhận thức được sự đời. Bởi vậy, nghe câu “Cháu hy vọng mình sẽ chẳng bao giờ hiểu giá trị của đồng tiền!” nói thẳng vào mặt mình khiến ông vừa buồn vừa tức tối. Ông biết đó là lời vô nghĩa, bằng không nó đã làm ông khiếp sợ. Thế giới này rồi sẽ đi đến đâu! Tuy nhiên, chợt nhớ lại chuyện Jolyon trẻ, ông cảm thấy được an ủi đôi chút, bởi có một người cha như thế thì còn mong đợi gì được! Ý nghĩ ấy lại đưa tâm trí ông vào một lối còn khó chịu hơn. Tất cả những lời bàn tán về Soames và Irene là thế nào?

Cũng như trong mọi gia đình biết tự trọng, một thương trường đã được thiết lập, nơi những bí mật gia đình được đem trao đổi và cổ phần gia đình được định giá. Tại Sở Giao dịch Forsyte, ai nấy đều biết Irene hối tiếc về cuộc hôn nhân của mình. Nỗi hối tiếc ấy không được tán thành. Nàng lẽ ra phải biết rõ lòng mình; chẳng người đàn bà đáng tin cậy nào lại phạm những sai lầm như thế.

James chua chát nghĩ rằng họ có một ngôi nhà đẹp — hơi nhỏ — ở một vị trí tuyệt hảo, không con cái, cũng không túng thiếu tiền nong. Soames kín tiếng về công việc của mình, nhưng hẳn nó đang trở nên rất giàu. Nó có một khoản thu nhập đáng kể từ hãng — bởi Soames, cũng như cha mình, là thành viên của hãng luật danh tiếng Forsyte, Bustard và Forsyte — và xưa nay vẫn hết sức thận trọng. Nó còn thu lợi đặc biệt khá từ vài khoản thế chấp đã nhận — đôi ba vụ tịch biên đúng lúc — những cú gặp may hết sức thuận lợi!

Không có lý do gì để Irene không hạnh phúc, thế mà người ta bảo nàng đã đòi một phòng riêng. Ông biết chuyện ấy sẽ kết thúc ở đâu. Giá như Soames là kẻ rượu chè thì còn nói được.

James nhìn con dâu. Cái nhìn không ai bắt gặp ấy lạnh lùng và ngờ vực. Trong đó có sự van nài, nỗi sợ hãi và cảm giác chính bản thân ông bị xúc phạm. Tại sao ông phải lo lắng như thế này? Rất có thể tất cả chỉ là chuyện vô nghĩa; đàn bà là những sinh vật kỳ quặc! Họ phóng đại mọi chuyện đến nỗi người ta chẳng biết nên tin gì; hơn nữa, chẳng ai nói với ông điều gì, việc gì ông cũng phải tự mình tìm hiểu. Ông lại lén nhìn Irene, rồi từ nàng nhìn sang Soames. Soames đang nghe cô Juley nói, mắt ngước lên dưới đôi mày, hướng về phía Bosinney.

“Nó yêu vợ, mình biết,” James nghĩ. “Cứ xem cái cách nó luôn mua hết thứ này đến thứ khác cho cô ta.”

Sự vô lý khác thường trong nỗi bất mãn của nàng càng đập mạnh vào tâm trí ông. Cũng đáng tiếc nữa, nàng là một cô gái nhỏ nhắn duyên dáng, và ông, James, hẳn sẽ thật lòng rất mến nàng giá nàng chịu cho phép. Gần đây nàng lại thân thiết với June; chuyện ấy chẳng có lợi gì cho nàng, chắc chắn chẳng có lợi gì. Nàng đang bắt đầu có những ý kiến riêng. Ông không hiểu nàng cần bất cứ thứ gì như thế để làm gì. Nàng có một mái nhà tử tế và mọi thứ nàng có thể ao ước. Ông cảm thấy bạn bè của nàng đáng lẽ phải được lựa chọn thay nàng. Cứ tiếp tục thế này thật nguy hiểm.

Quả thực June, với thói quen bênh vực những người bất hạnh, đã gặng được từ Irene một lời thú nhận, và đáp lại, cô giảng giải về sự cần thiết phải đối mặt với điều xấu, bằng cách ly thân nếu cần. Nhưng trước những lời thúc giục ấy, Irene vẫn giữ vẻ im lặng trầm tư, như thể nàng thấy ý nghĩ tiến hành cuộc đấu tranh này một cách lạnh lùng thật khủng khiếp. Soames sẽ không bao giờ chịu buông nàng ra, nàng đã nói với June như thế.

“Ai cần quan tâm?” June kêu lên; “cứ để anh ta làm điều anh ta muốn — chị chỉ cần kiên quyết đến cùng!” Và cô đã chẳng ngần ngại nói một điều đại loại như thế ở nhà Timothy; khi nghe kể lại, James cảm thấy một nỗi phẫn nộ và kinh hoàng hết sức tự nhiên.

Nếu Irene bỗng nảy ra ý định — ông hầu như không thể kết thành ý nghĩ — rời bỏ Soames thì sao? Nhưng ông thấy ý nghĩ ấy không thể chịu nổi đến mức lập tức gạt nó đi; những cảnh tượng ám muội nó gợi lên, tiếng miệng lưỡi họ hàng vo ve bên tai, nỗi kinh hoàng trước một vụ việc tai tiếng xảy ra ngay sát bên ông, với chính một trong những đứa con của ông! May thay, nàng không có tiền — vẻn vẹn năm mươi bảng còm cõi một năm! Và ông khinh miệt nghĩ đến Heron quá cố, người chẳng có gì để lại cho nàng. Ngồi trầm ngâm bên ly rượu, đôi chân dài quấn vào nhau dưới gầm bàn, ông hoàn toàn quên đứng dậy khi các bà rời phòng. Ông sẽ phải nói chuyện với Soames — phải cảnh báo nó; họ không thể tiếp tục thế này, giờ đây khi một khả năng như vậy đã nảy ra trong đầu ông. Và ông chua chát bất bình nhận thấy June đã bỏ lại những chiếc ly vẫn còn đầy rượu.

“Con bé ấy là đầu mối của tất cả mọi chuyện,” ông ngẫm nghĩ; “Irene chẳng bao giờ tự mình nghĩ ra điều đó.” James là một người giàu trí tưởng tượng.

Giọng Swithin đánh thức ông khỏi cơn mơ màng.

“Tôi đã trả bốn trăm bảng cho nó,” ông đang nói. “Dĩ nhiên, đó là một tác phẩm nghệ thuật chính hiệu.”

“Bốn trăm! Hừm! Một món tiền lớn đấy!” Nicholas góp lời.

Vật được nhắc tới là một nhóm tượng cầu kỳ bằng đá cẩm thạch Ý, đặt trên một bệ cao — cũng bằng đá cẩm thạch — và tỏa khắp căn phòng một bầu không khí văn hóa. Sáu nhân vật phụ, tất cả đều là nữ, khỏa thân và được chạm trổ hết sức hoa mỹ, cùng chỉ về phía nhân vật trung tâm, cũng khỏa thân và cũng là nữ, đang chỉ vào chính mình; tất cả những điều ấy đem lại cho người ngắm một cảm giác rất dễ chịu về giá trị tột bậc của nàng. Cô Juley, ngồi gần như đối diện, đã phải vô cùng khó nhọc mới tránh nhìn vào nhóm tượng suốt cả buổi tối.

Cụ Jolyon lên tiếng; chính cụ là người đã khơi mào cuộc tranh luận.

“Bốn trăm cái quái gì! Đừng bảo tôi rằng anh đã trả bốn trăm cho _thứ ấy_ nhé?”

Giữa hai chóp cổ áo, cằm Swithin lại thực hiện lần thứ hai trong buổi tối ấy một chuyển động đong đưa đầy khó nhọc.

“Bốn-trăm-bảng, tiền Anh hẳn hoi; không thiếu một farthing. Tôi không hối tiếc. Nó không phải thứ đồ Anh tầm thường—mà là đồ Ý hiện đại chính hiệu!”

Soames nhếch một bên mép thành nụ cười, rồi nhìn sang Bosinney. Viên kiến trúc sư đang cười toe sau làn khói thuốc lá. Giờ đây, quả thật, anh ta trông càng giống một gã cướp biển hơn.

“Công phu lắm đấy,” James vội nhận xét; quả thực ông bị kích động bởi kích thước của nhóm tượng. “Đem bán ở Jobson’s ắt được giá.”

“Cái gã ngoại quốc khốn khổ làm ra nó,” Swithin nói tiếp, “đòi tôi năm trăm—tôi trả hắn bốn. Nó đáng giá tám trăm. Trông hắn đói rạc cả người, gã khốn khổ!”

“À!” Nicholas chợt góp lời, “cánh nghệ sĩ ấy mà, toàn những anh chàng nghèo túng, tiều tụy; tôi thật không hiểu họ sống bằng cách nào. Như cậu Flageoletti trẻ tuổi kia chẳng hạn, Fanny và các cô con gái lúc nào cũng mời đến kéo vĩ cầm; nếu cậu ta kiếm được một trăm bảng một năm thì cũng đã là hết mức!”

James lắc đầu. “À!” ông nói, “_tôi_ chẳng hiểu họ sống bằng cách nào!”

Cụ Jolyon đã đứng dậy, ngậm điếu xì gà trong miệng, bước đến xem xét nhóm tượng ở cự ly gần.

“Tôi chẳng trả đến hai trăm cho nó!” cuối cùng cụ phán.

Soames thấy cha mình và Nicholas lo lắng liếc nhìn nhau; còn phía bên kia Swithin là Bosinney, vẫn khuất trong màn khói.

“Không biết _anh ta_ nghĩ gì về nó?” Soames thầm nghĩ; anh thừa biết nhóm tượng này đã lỗi thời đến vô phương cứu chữa; hoàn toàn thuộc về thế hệ trước. Những tác phẩm nghệ thuật như thế không còn bán được ở Jobson’s nữa.

Mãi rồi Swithin mới đáp. “Anh có bao giờ biết gì về tượng đâu. Anh chỉ biết mấy bức tranh của anh, thế thôi!”

Cụ Jolyon vừa phì phèo điếu xì gà vừa trở về chỗ ngồi. Đời nào cụ lại để mình bị lôi vào một cuộc tranh cãi với một gã ương ngạnh như Swithin, cứng đầu chẳng khác gì la, chưa từng phân biệt nổi một pho tượng với một—chiếc mũ rơm.

“Thạch cao!” cụ chỉ nói có thế.

Từ lâu, thể xác nặng nề đã khiến Swithin không thể giật nảy mình; nắm đấm ông giáng xuống bàn.

“Thạch cao! Tôi muốn xem trong nhà anh có thứ gì tốt bằng một nửa nó không!”

Và phía sau lời ông dường như lại vang lên sự hung bạo ầm ì của những thế hệ nguyên thủy.

Chính James đã cứu vãn tình thế.

“Nào, ông nói sao, ông Bosinney? Ông là kiến trúc sư; hẳn phải biết hết mọi chuyện về tượng với những thứ tương tự chứ!”

Mọi con mắt đều đổ dồn về phía Bosinney; tất cả chờ đợi câu trả lời của anh với một vẻ nghi hoặc kỳ lạ.

Và Soames, lần đầu tiên lên tiếng, hỏi:

“Phải đấy, Bosinney, anh nói sao?”

Bosinney điềm nhiên đáp:

“Tác phẩm này thật đáng chú ý.”

Lời anh nói hướng về Swithin, còn đôi mắt lại ranh mãnh mỉm cười với cụ Jolyon; chỉ riêng Soames vẫn chưa thỏa mãn.

“Đáng chú ý ở điểm nào?”

“Ở vẻ ngây ngô của nó.”

Sau câu trả lời là một khoảng im lặng đầy ý nghĩa; riêng Swithin không rõ đó có phải là một lời khen hay không.