Người có của — Chương 4: Dự tính xây nhà
Chương 5 / 33 · Bài review Người có của
Ba ngày sau bữa tối ở nhà Swithin, Soames Forsyte bước ra khỏi cánh cửa chính sơn xanh; từ bên kia quảng trường ngoái nhìn lại, ông càng tin chắc rằng ngôi nhà cần được sơn lại.
Ông để vợ ngồi trên trường kỷ trong phòng khách, hai bàn tay đan lại đặt trên lòng, rõ ràng đang chờ ông ra khỏi nhà. Chuyện ấy chẳng có gì khác thường. Thực ra, ngày nào cũng vậy.
Ông không sao hiểu nổi nàng thấy ông có điều gì không phải. Nào phải ông rượu chè! Ông có mắc nợ, cờ bạc hay văng tục không; ông có thô bạo không; bạn bè ông có phải hạng phóng đãng không; ông có la cà đêm hôm không? Hoàn toàn trái lại.
Mối ác cảm sâu xa, âm thầm mà ông cảm thấy nơi vợ là một điều bí ẩn đối với ông, đồng thời là nguồn cơn của nỗi bực bội khủng khiếp nhất. Việc nàng đã lầm, không yêu ông, đã cố yêu mà không thể yêu ông, hiển nhiên chẳng phải là lý do.
Kẻ nào có thể hình dung ra một nguyên do quái gở đến thế để giải thích việc vợ mình không hòa hợp với mình, kẻ ấy chắc chắn chẳng phải một Forsyte.
Bởi vậy, Soames buộc phải quy hết lỗi cho vợ. Ông chưa từng gặp người đàn bà nào có khả năng khơi gợi tình cảm yêu mến đến thế. Họ không thể đi đâu mà ông không thấy mọi đàn ông đều bị nàng cuốn hút; ánh mắt, cung cách, giọng nói của họ đều để lộ điều ấy; còn cách nàng xử sự trước sự săn đón đó thì không chê vào đâu được. Rằng nàng thuộc về hạng đàn bà—không mấy thường gặp trong giống người Anglo-Saxon—sinh ra để được yêu và để yêu, những người mà khi không yêu thì cũng chẳng phải đang sống, điều ấy quả thật chưa bao giờ thoáng qua tâm trí ông. Sức hấp dẫn của nàng, ông coi là một phần giá trị của nàng với tư cách vật sở hữu của mình; song nó quả thực khiến ông ngờ rằng nàng cũng có thể trao ban như đón nhận; thế mà nàng chẳng trao cho ông chút gì! “Vậy thì tại sao nàng lại lấy mình?” là ý nghĩ thường trực của ông. Ông đã quên thời kỳ mình theo đuổi nàng; quên một năm rưỡi ông vây hãm và rình chờ, bày ra đủ cách mua vui cho nàng, tặng quà, đều đặn ngỏ lời cầu hôn, và dùng sự hiện diện không lúc nào thiếu của mình để xua mọi kẻ ái mộ khác tránh xa. Ông đã quên cái ngày, khéo léo lợi dụng lúc nàng đang đặc biệt chán ghét cảnh ngộ gia đình, ông đưa công sức của mình đến thành công trọn vẹn. Nếu còn nhớ điều gì, thì đó là vẻ đỏng đảnh duyên dáng mà cô gái tóc vàng, mắt sẫm ấy đã dành cho ông. Chắc chắn ông không nhớ vẻ mặt nàng—lạ lùng, cam chịu, như van nài—khi một ngày kia nàng bỗng nhượng bộ và nói rằng nàng sẽ lấy ông.
Đó từng là một trong những cuộc cầu hôn tận tụy đích thực vẫn được sách vở và người đời ca ngợi, khi người si tình rốt cuộc được tưởng thưởng vì đã nện mãi vào sắt cho đến lúc nó chịu mềm ra, và từ đó về sau tất cả ắt phải hạnh phúc như tiếng chuông cưới.
Soames đi về hướng đông, lầm lũi dò bước dọc theo phía râm mát.
Ngôi nhà cần được sửa sang lại, trừ phi ông quyết định dọn về miền quê và xây nhà.
Đã đến lần thứ một trăm trong tháng ấy ông cân nhắc vấn đề này. Vội vàng lao vào mọi việc thì chẳng ích gì! Ông sống rất dư dả, với khoản thu nhập ngày một tăng, gần ba nghìn bảng một năm; nhưng số vốn đầu tư của ông có lẽ không lớn như cha ông vẫn tưởng—James vốn có khuynh hướng cho rằng các con mình phải khá giả hơn thực tế. “Mình có thể dễ dàng xoay xở tám nghìn,” ông nghĩ, “mà không phải rút vốn ở Robertson hay Nicholl.”
Ông dừng lại nhìn vào một hiệu bán tranh, bởi Soames là một nhà “chơi” tranh, và tại số 62 Quảng trường Montpellier ông có một căn phòng nhỏ chất đầy tranh sơn dầu dựng sát tường vì không còn chỗ treo. Trên đường từ Khu City về nhà, thường là sau khi trời tối, ông mang tranh về theo; rồi các chiều Chủ nhật, ông vào căn phòng ấy, bỏ hàng giờ xoay tranh về phía ánh sáng, xem xét những dấu hiệu ở mặt sau và thỉnh thoảng ghi chép.
Hầu như tất cả đều là tranh phong cảnh có người ở tiền cảnh, dấu hiệu của một sự phản kháng bí ẩn nào đó đối với London, với những ngôi nhà cao và những dãy phố bất tận, nơi cuộc đời ông cùng cuộc đời của giống nòi và giai tầng ông trôi qua. Thỉnh thoảng ông đem theo một hai bức tranh trên xe ngựa thuê và ghé lại Jobson trên đường vào Khu City.
Ông hiếm khi cho ai xem chúng; Irene, người mà ý kiến được ông thầm coi trọng và có lẽ chính vì thế mà chẳng bao giờ hỏi đến, chỉ đôi lần hiếm hoi bước vào căn phòng để làm tròn một bổn phận nào đó của người vợ. Nàng không được mời xem tranh, và nàng cũng chẳng bao giờ xem. Đối với Soames, đó lại là một nỗi bất bình nữa. Ông căm ghét niềm kiêu hãnh ấy của nàng, và thầm khiếp sợ nó.
Trên tấm kính lớn của cửa hiệu tranh, hình ông đứng đó nhìn lại chính mình.
Mái tóc bóng mượt dưới vành mũ cao óng lên như chính chiếc mũ; đôi má nhợt nhạt, phẳng lì, đường nét của đôi môi cạo nhẵn ria, chiếc cằm rắn rỏi phơn phớt xám vì mới cạo, cùng vẻ nghiêm cẩn kín bưng của chiếc áo đuôi tôm đen cài khuy, tất cả tạo nên một dáng vẻ dè dặt và kín đáo, một sự điềm tĩnh bất khả xâm phạm nhưng đầy gượng ép; song đôi mắt ông—lạnh lẽo, xám, có vẻ căng thẳng, với một nếp hằn giữa hai đầu mày—lại nhìn ông đầy khắc khoải, như thể chúng biết một nhược điểm thầm kín nào đó.
Ông ghi nhận đề tài các bức tranh, tên các họa sĩ, tính nhẩm giá trị của chúng, nhưng không có được niềm thỏa mãn mà việc thầm định giá này vẫn thường đem lại, rồi bước tiếp.
Số 62 vẫn đủ dùng thêm một năm nữa, nếu ông quyết định xây nhà! Thời buổi này thuận lợi cho việc xây cất, tiền đã nhiều năm chưa bao giờ đắt đến thế; còn khu đất ông trông thấy ở Robin Hill, khi xuống đó vào mùa xuân để xem xét khoản thế chấp của Nicholl—còn gì tốt hơn nữa! Chỉ cách Hyde Park Corner chưa đầy mười hai dặm, giá đất chắc chắn sẽ tăng, lúc nào cũng có thể bán được cao hơn giá ông mua; vì vậy một ngôi nhà, nếu được xây theo phong cách thực sự đẹp, sẽ là khoản đầu tư hạng nhất.
Ý nghĩ mình sẽ là thành viên duy nhất trong gia đình có một ngôi nhà ở miền quê chẳng có mấy sức nặng đối với ông; bởi với một Forsyte chân chính, tình cảm, ngay cả tình cảm về địa vị xã hội, cũng là một thứ xa xỉ chỉ được phép chiều theo sau khi ham muốn những lạc thú vật chất hơn đã thỏa mãn.
Đưa Irene ra khỏi London, tránh xa những dịp đi đây đi đó và gặp gỡ người này người kia, tránh xa bạn bè cùng những kẻ gieo ý tưởng vào đầu nàng! Chính là thế! Nàng quá thân thiết với June! June không ưa ông. Ông cũng đáp lại y như vậy. Họ cùng một dòng máu.
Đưa được Irene ra khỏi thành phố sẽ giải quyết tất cả. Ngôi nhà sẽ làm nàng vui lòng, nàng sẽ thích thú loay hoay với việc trang hoàng; nàng rất có khiếu nghệ thuật!
Ngôi nhà phải có phong cách đẹp, một thứ luôn chắc chắn được giá, một thứ độc đáo, như ngôi nhà mới nhất của Parkes, có hẳn một ngọn tháp; nhưng chính Parkes từng nói kiến trúc sư của ông ta khiến người ta khuynh gia bại sản. Với những tay ấy, chẳng bao giờ biết phí tổn sẽ đi đến đâu; hễ có chút tên tuổi là họ đẩy người ta vào những khoản chi vô tận, lại còn tự phụ nữa.
Mà một kiến trúc sư tầm thường thì chẳng được tích sự gì—ký ức về ngọn tháp của Parkes không cho phép ông thuê một kiến trúc sư tầm thường:
Đó là lý do ông nghĩ đến Bosinney. Từ sau bữa tối ở nhà Swithin, ông đã dò hỏi; kết quả thu được ít ỏi nhưng đáng khích lệ: “Thuộc trường phái mới.”
“Có tài không?”
“Muốn tài đến đâu cũng có—chỉ hơi—hơi viển vông!”
Ông không sao tìm ra Bosinney đã xây những ngôi nhà nào, cũng không biết anh ta lấy thù lao bao nhiêu. Theo ấn tượng ông thu thập được, ông sẽ có thể tự đặt điều kiện. Càng ngẫm nghĩ về ý định ấy, ông càng thích. Như thế là giữ công việc trong phạm vi gia đình, một điều gần như bản năng đối với các Forsyte; và ông sẽ có thể được hưởng điều kiện “ưu đãi nhất”, nếu không phải mức phí chỉ có tính danh nghĩa—cũng là công bằng thôi, xét đến cơ hội dành cho Bosinney phô bày tài năng, bởi ngôi nhà này quyết không thể là một công trình tầm thường.
Soames mãn nguyện nghĩ đến những công việc mà ngôi nhà này chắc chắn sẽ đem lại cho chàng trai trẻ; bởi cũng như mọi Forsyte, ông có thể là một người lạc quan triệt để khi trong đó có món lợi nào dành cho mình.
Văn phòng của Bosinney ở phố Sloane, ngay gần đó, nên ông sẽ có thể thường xuyên để mắt đến các bản vẽ.
Hơn nữa, Irene sẽ khó mà phản đối việc rời London nếu người yêu của bạn thân nhất của nàng được giao công trình. Cuộc hôn nhân của June có thể phụ thuộc vào đó. Irene không thể nào đàng hoàng mà cản đường hôn nhân của June; nàng sẽ không bao giờ làm thế, ông hiểu nàng quá rõ. Và June sẽ hài lòng; ông thấy rõ cái lợi trong việc ấy.
Bosinney trông có vẻ tài giỏi, nhưng anh ta còn có—và đó là một trong những điểm hấp dẫn lớn của anh ta—dáng vẻ của người không biết chắc miếng bánh mì của mình được phết bơ ở mặt nào; hẳn sẽ dễ thương lượng với anh ta về tiền bạc. Soames nghĩ vậy không phải với ý định lừa gạt; đó là thái độ tự nhiên của đầu óc ông—đầu óc của bất kỳ nhà kinh doanh giỏi nào—của tất cả hàng nghìn nhà kinh doanh giỏi mà giữa họ ông đang len bước lên đồi Ludgate.
Bởi thế, ông tuân theo những quy luật bí hiểm của giai cấp lớn lao của mình—của chính bản tính con người—khi nghĩ, với một cảm giác dễ chịu, rằng Bosinney sẽ là người dễ thương lượng trong chuyện tiền nong.
Trong lúc chen vai tiến bước, đôi mắt thường dán xuống mặt đất trước chân ông bỗng bị mái vòm Nhà thờ St. Paul hút lên. Mái vòm cổ kính ấy có một sức mê hoặc lạ lùng đối với ông; không chỉ một lần, mà mỗi tuần hai ba lần, ông lại dừng chân trong cuộc hành hương hằng ngày để bước vào bên dưới mái vòm, đứng trong các gian bên chừng năm hay mười phút, chăm chú xem tên tuổi cùng văn bia trên những đài tưởng niệm. Sức hấp dẫn mà ngôi đại giáo đường này có đối với ông thật khó giải thích, trừ phi nó giúp ông tập trung tư tưởng vào công việc trong ngày. Nếu có một vụ việc đặc biệt quan trọng hoặc đòi hỏi sự tinh nhạy khác thường đang đè nặng tâm trí, bao giờ ông cũng bước vào, lặng lẽ như chuột lần từ văn bia này sang văn bia khác. Rồi cũng rút lui không một tiếng động, ông bền bỉ đi tiếp lên Cheapside, dáng bước dường như có thêm đôi chút quyết tâm lì lợm, như thể vừa nhìn thấy một thứ mà ông đã nhất quyết mua cho bằng được.
Sáng hôm ấy ông bước vào, nhưng thay vì lặng lẽ đi từ đài tưởng niệm này sang đài tưởng niệm khác, ông ngước nhìn những hàng cột và khoảng cách giữa các mảng tường, rồi đứng bất động.
Gương mặt ngẩng lên của ông, mang vẻ kính sợ và khắc khoải mà khuôn mặt người ta thường tự khoác lấy trong nhà thờ, trở nên trắng như phấn giữa tòa kiến trúc mênh mông. Hai bàn tay đeo găng chắp trước người trên cán ô. Ông nhấc chúng lên. Có lẽ một linh cảm thiêng liêng nào đó vừa đến với ông.
“Phải,” ông nghĩ, “mình phải có chỗ để treo tranh.”
Chiều hôm ấy, trên đường từ Khu City trở về, ông ghé văn phòng Bosinney. Ông thấy kiến trúc sư đang xắn tay áo sơ mi, hút tẩu và kẻ các đường trên một bản vẽ. Soames từ chối một chén rượu và đi thẳng vào việc.
“Nếu Chủ nhật anh không có việc gì hay hơn, hãy cùng tôi xuống Robin Hill và cho tôi ý kiến về một khu đất xây nhà.”
“Ông định xây nhà à?”
“Có lẽ,” Soames nói; “nhưng đừng nói với ai. Tôi chỉ muốn nghe ý kiến của anh.”
“Hẳn rồi,” kiến trúc sư đáp.
Soames nheo mắt nhìn quanh căn phòng.
“Văn phòng của anh ở khá cao nhỉ,” ông nhận xét.
Bất kỳ thông tin nào ông có thể thu thập được về tính chất và quy mô công việc của Bosinney đều hữu ích cả.
“Đến giờ thì thế này cũng đủ dùng cho tôi,” kiến trúc sư đáp. “Ông quen với giới sang trọng rồi.”
Anh gõ tàn tẩu, nhưng lại ngậm chiếc tẩu không vào giữa hai hàm răng; có lẽ nó giúp anh tiếp tục câu chuyện. Soames nhận thấy mỗi bên má anh đều có một hõm sâu, tựa như bị hút vào.
“Một văn phòng như thế này anh phải trả bao nhiêu?” ông hỏi.
“Năm mươi bảng—quá đắt,” Bosinney đáp.
Câu trả lời ấy gây cho Soames một ấn tượng tốt.
“Tôi cho là quả có đắt,” ông nói. “Tôi sẽ đến đón anh—Chủ nhật, khoảng mười một giờ.”
Vì vậy, Chủ nhật kế tiếp ông đến đón Bosinney bằng một chiếc xe hansom và đưa anh ra ga. Khi tới Robin Hill, họ không tìm thấy xe ngựa thuê, bèn đi bộ một dặm rưỡi đến khu đất.
Hôm ấy là mồng Một tháng Tám—một ngày tuyệt đẹp, nắng như thiêu và trời không gợn mây—trên con đường thẳng, hẹp dẫn lên đồi, chân họ tung lên từng đám bụi vàng.
“Đất sỏi,” Soames nhận xét, rồi liếc ngang chiếc áo khoác Bosinney đang mặc. Những cuộn giấy được nhét vào hai túi bên áo, còn dưới một cánh tay anh kẹp một cây gậy trông kỳ quặc. Soames ghi nhận những điều này cùng các nét khác thường khác.
Chỉ một người có tài, hay quả thực một Gã Cướp Biển, mới dám tùy tiện với diện mạo mình đến thế; và tuy những nét lập dị này khiến Soames ghê khó chịu, ông vẫn tìm thấy ở chúng một niềm thỏa mãn nhất định, coi đó là bằng chứng về những phẩm chất mà ông ắt sẽ được hưởng lợi. Nếu anh chàng này xây được nhà, thì quần áo của anh ta có gì đáng kể?
“Tôi đã nói với anh,” ông bảo, “rằng tôi muốn ngôi nhà này là một điều bất ngờ, vậy nên đừng nói gì về nó. Tôi không bao giờ nói đến công việc của mình trước khi nó hoàn tất.”
Bosinney gật đầu.
“Để đàn bà biết những dự định của anh,” Soames nói tiếp, “thì chẳng bao giờ biết chuyện sẽ đi đến đâu.”
“À!” Bosinney nói, “đàn bà đúng là ma quỷ!”
Cảm nghĩ ấy từ lâu đã nằm dưới đáy lòng Soames; tuy nhiên, ông chưa bao giờ thốt nó thành lời.
“Ồ!” ông lẩm bẩm, “vậy là anh bắt đầu…” Ông ngừng lại, nhưng rồi, trong một cơn ác ý không sao kìm được, nói thêm: “June cũng có tính khí riêng đấy—xưa nay vẫn vậy.”
“Một thiên thần có chút tính khí cũng chẳng phải điều xấu.”
Soames chưa bao giờ gọi Irene là thiên thần. Ông không thể xúc phạm những bản năng tốt đẹp nhất của mình đến thế, để người khác biết bí mật về giá trị của nàng và tự phơi bày lòng mình. Ông không đáp.
Họ rẽ vào một con đường mới làm dở, chạy ngang qua vùng đất đầy hang thỏ. Một lối xe ngựa vuông góc dẫn tới hố khai thác sỏi; bên kia hố, những ống khói của một căn nhà nhỏ nhô lên giữa cụm cây nơi rìa khu rừng rậm. Những bụi cỏ tơ mọc thành mô phủ khắp mặt đất gồ ghề, và từ đó, chim sơn ca vút lên trong màn nắng mờ. Tận chân trời xa, bên kia vô số lớp ruộng đồng và hàng giậu nối tiếp nhau, một dãy đồi thấp nhô lên.
Soames dẫn đường cho tới khi họ sang đến phía bên kia, rồi dừng lại. Đó là địa điểm đã chọn; nhưng lúc sắp tiết lộ chỗ ấy cho một người khác, hắn bỗng thấy bất an.
“Người quản lý ở trong căn nhà kia,” hắn nói; “ông ta sẽ cho chúng ta chút gì ăn trưa—tốt hơn nên ăn trưa trước khi bàn đến chuyện này.”
Hắn lại dẫn đường tới căn nhà nhỏ, nơi người quản lý—một người đàn ông cao lớn tên Oliver, gương mặt nặng nề và bộ râu đã hoa râm—niềm nở đón họ. Trong bữa trưa, mà Soames hầu như không đụng tới, hắn cứ nhìn Bosinney, và một hai lần lén đưa chiếc khăn tay lụa lau trán. Cuối cùng bữa ăn cũng kết thúc, Bosinney đứng dậy.
“Chắc hai ông có công việc cần bàn với nhau,” chàng nói; “tôi đi ngó nghiêng quanh đây một chút.” Không đợi trả lời, chàng thong thả bước ra ngoài.
Soames là luật sư của điền trang này, và hắn ở gần một giờ với người quản lý, xem các sơ đồ mặt bằng rồi bàn về những khoản thế chấp của Nicholl cùng các khoản khác; mãi sau, như chợt nhớ ra, hắn mới nêu vấn đề khu đất xây nhà.
“Bên ông,” hắn nói, “nên hạ giá cho tôi, xét rằng tôi sẽ là người đầu tiên xây dựng ở đây.”
Oliver lắc đầu.
“Địa điểm ông đã chọn, thưa ông,” ông ta nói, “là chỗ rẻ nhất chúng tôi có. Những khu đất trên đỉnh dốc đắt hơn khá nhiều.”
“Xin nhớ cho,” Soames nói, “tôi vẫn chưa quyết định; rất có thể tôi sẽ chẳng xây gì cả. Địa tô quá cao.”
“Vâng, ông Forsyte, tôi sẽ rất tiếc nếu ông rút lui, và tôi nghĩ như thế là ông lầm đấy, thưa ông. Quanh London không có mảnh đất nào vừa có phong cảnh thế này vừa rẻ hơn, nếu xét mọi mặt; chúng tôi chỉ cần đăng quảng cáo là sẽ có cả đám người đổ xô đến hỏi mua.”
Họ nhìn nhau. Gương mặt hai người nói hết sức rõ ràng: “Tôi kính trọng ông với tư cách một người làm ăn; còn ông không thể mong tôi tin lấy một lời ông nói.”
“Thì đấy,” Soames nhắc lại, “tôi vẫn chưa quyết định; rất có thể việc này sẽ chẳng đi đến đâu!” Nói đoạn, hắn cầm ô lên, đặt bàn tay lạnh ngắt vào tay người quản lý, rút ra mà không siết lấy dù chỉ nhẹ nhất, rồi bước ra ngoài nắng.
Hắn chậm rãi quay về phía khu đất, chìm trong suy nghĩ. Bản năng mách hắn rằng lời người quản lý nói là thật. Một khu đất rẻ. Mà điều thú vị là hắn biết người quản lý thực ra không cho nó là rẻ; vậy nên sự hiểu biết bằng trực giác của chính hắn là một thắng lợi đối với ông ta.
“Rẻ hay không, mình cũng nhất định lấy nó,” hắn nghĩ.
Chim sơn ca vụt bay lên trước chân hắn, không trung đầy bướm, hương thơm dịu ngọt từ đám cỏ hoang dâng lên. Mùi nhựa non của dương xỉ từ khu rừng thoảng tới, nơi sâu thẳm khuất bên trong, chim bồ câu đang gù; và từ xa, theo làn gió ấm, vọng lại tiếng chuông nhà thờ ngân theo nhịp.
Soames bước đi, mắt nhìn xuống đất, đôi môi mở ra khép lại như đang đón chờ một miếng ngon. Nhưng khi tới khu đất, hắn không thấy Bosinney đâu. Đợi một lát, hắn băng qua vùng hang thỏ về phía triền dốc. Hắn đã định gọi lớn, nhưng lại sợ phải nghe tiếng nói của chính mình.
Vùng đất hoang vắng như thảo nguyên, sự tĩnh lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng sột soạt của những con thỏ phóng về hang và tiếng chim sơn ca hót.
Soames, người tiên phong dẫn đầu đạo quân Forsyte hùng hậu đang tiến tới khai hóa miền hoang dã này, cảm thấy tinh thần nao núng trước cảnh cô quạnh, tiếng hát vô hình và bầu không khí nóng ấm, ngọt ngào. Hắn vừa bắt đầu quay lại thì cuối cùng trông thấy Bosinney.
Chàng kiến trúc sư đang nằm xoài dưới một cây sồi lớn, thân cây với vòm cành lá khổng lồ, xơ xác vì tuổi tác, đứng ngay bên mép gò cao.
Soames phải chạm vào vai chàng, chàng mới ngẩng lên.
“Chào! Forsyte,” chàng nói, “tôi đã tìm được đúng chỗ để xây nhà cho anh rồi! Nhìn đây này!”
Soames đứng nhìn, rồi lạnh lùng nói:
“Anh có thể rất tài, nhưng khu đất này sẽ khiến tôi tốn thêm một nửa.”
“Mặc xác phí tổn đi, ông bạn. Nhìn quang cảnh kia kìa!”
Gần như ngay dưới chân họ, đồng lúa chín trải dài, thoai thoải đổ xuống một cụm rừng nhỏ sẫm màu ở phía xa. Một vùng đồng ruộng và hàng giậu mở rộng đến tận dãy đồi xanh xám xa xôi. Về phía bên phải, dòng sông hiện ra như một vệt bạc.
Trời xanh đến thế, nắng rực rỡ đến thế, tưởng như mùa hè vĩnh cửu đang ngự trị trên khung cảnh này. Những sợi tơ kế bay lững lờ quanh họ, ngây ngất trong sự thanh bình của tầng không. Hơi nóng chập chờn trên đồng lúa, và thấm khắp mọi nơi là một tiếng ngân êm ái, khó nhận biết, tựa lời rì rầm của những phút giây sáng ngời đang mở hội giữa đất và trời.
Soames nhìn. Bất chấp chính mình, hắn cảm thấy một điều gì đó dâng lên trong lồng ngực. Được sống ở đây, trước mắt là tất cả cảnh này; được chỉ cho bạn bè xem, được nói về nó, được sở hữu nó! Má hắn ửng đỏ. Hơi ấm, ánh rực rỡ, vẻ huy hoàng ấy đang thấm vào giác quan hắn, cũng như bốn năm trước, sắc đẹp của Irene đã thấm vào giác quan và khiến hắn khao khát nàng. Hắn lén liếc Bosinney, đôi mắt chàng—đôi mắt của “con báo mới thuần được một nửa” theo lời người đánh xe—dường như đang tung hoành khắp phong cảnh. Ánh mặt trời bắt lấy những phần nhô ra trên gương mặt chàng, đôi gò má gồ ghề, chóp cằm, những nếp dọc trên chân mày; và Soames nhìn gương mặt thô ráp, nhiệt thành, vô tư ấy với một cảm giác khó chịu.
Một gợn gió dài, êm dịu lướt trên đồng lúa, mang một luồng khí ấm phả vào mặt họ.
“Ở đây tôi có thể xây cho anh một căn nhà tuyệt diệu,” cuối cùng Bosinney lên tiếng, phá tan im lặng.
“Hẳn rồi,” Soames khô khan đáp. “Anh có phải là người trả tiền đâu.”
“Với khoảng tám nghìn bảng, tôi có thể xây cho anh một tòa cung điện.”
Soames trở nên tái nhợt—một cuộc giằng co đang diễn ra trong lòng hắn. Hắn hạ mắt xuống, bướng bỉnh nói:
“Tôi không kham nổi.”
Rồi chậm rãi, với dáng đi rón rén như mèo rình chuột, hắn dẫn đường trở lại khu đất đầu tiên.
Họ ở đó một lúc, xem xét kỹ các chi tiết của ngôi nhà dự định xây, rồi Soames trở lại căn nhà của người quản lý.
Khoảng nửa giờ sau hắn bước ra, nhập bọn với Bosinney rồi lên đường về ga.
“Thế đấy,” hắn nói, môi hầu như không mở, “rốt cuộc tôi đã lấy khu đất anh chọn rồi.”
Rồi hắn lại im lặng, bối rối tự hỏi vì sao gã này, kẻ mà theo thói quen hắn vẫn khinh miệt, lại có thể lấn át quyết định của chính hắn.