Người có của — Chương 5: Một nếp nhà Forsyte
Chương 6 / 33 · Bài review Người có của
Cũng như hàng nghìn người sáng suốt thuộc giai cấp và thế hệ mình trong đại đô thị London này, những người không còn tin vào ghế bọc nhung đỏ và biết rằng các cụm tượng bằng cẩm thạch Ý hiện đại đã là “lỗi thời”, Soames Forsyte sống trong một ngôi nhà đã làm hết sức mình. Nó có một chiếc vòng gõ cửa bằng đồng với kiểu dáng riêng, những ô cửa sổ đã được sửa để mở ra ngoài, những hộp hoa treo đầy hoa vân anh, và ở phía sau—một nét đặc sắc lớn—là khoảng sân nhỏ lát gạch xanh ngọc bích, chung quanh đặt những khóm tú cầu hồng trong các chậu xanh lông công. Tại đây, dưới chiếc lọng Nhật Bản màu giấy da che kín cả đầu sân, người nhà hoặc khách khứa có thể tránh khỏi những con mắt tò mò trong khi uống trà và thong thả xem xét những chiếc hộp bạc nhỏ mới nhất của Soames.
Việc trang trí bên trong thiên về phong cách Đệ nhất Đế chế và William Morris. So với kích thước, ngôi nhà khá rộng rãi; vô số góc nhỏ nom như tổ chim, và những món đồ bạc bé xinh được đặt vào đó như trứng.
Trong vẻ hoàn mỹ nói chung ấy, hai thứ óc cầu kỳ đang giao chiến. Nơi đây có một nữ chủ nhân mà dù sống trên hoang đảo cũng vẫn thanh nhã; và một nam chủ nhân có sự thanh nhã, có thể nói, là một khoản đầu tư, được chính chủ nhân vun trồng để tiến thân, theo đúng quy luật cạnh tranh. Óc cầu kỳ vì cạnh tranh ấy đã khiến Soames, thuở còn ở Marlborough, trở thành cậu học sinh đầu tiên mặc áo gi-lê trắng vào mùa hè và áo gi-lê nhung kẻ vào mùa đông; đã ngăn chàng không bao giờ xuất hiện trước công chúng với chiếc cà vạt trườn lên cổ áo; và đã khiến chàng phủi bụi đôi giày da láng trước mặt đám đông tụ họp trong Ngày Diễn thuyết để nghe chàng đọc Molière.
Một lớp tinh tươm như làn da đã phủ lên Soames, cũng như lên nhiều người London khác; không sao hình dung nổi chàng với một sợi tóc sai chỗ, chiếc cà vạt lệch khỏi đường thẳng đứng một phần tám inch, hay cổ áo không bóng! Dù đổi lấy cả thế gian chàng cũng không chịu bỏ tắm—tắm rửa là thời thượng; và chàng khinh miệt cay độc biết bao những kẻ lơ là việc ấy!
Nhưng người ta có thể hình dung Irene như một nữ thần rừng, tắm mình trong những dòng suối ven đường vì niềm vui của làn nước mát lành và của việc ngắm thân thể xinh đẹp của chính nàng.
Trong cuộc xung đột diễn ra khắp ngôi nhà này, người đàn bà đã bị dồn đến chỗ thất thế. Cũng như trong cuộc tranh đấu giữa người Saxon và người Celt vẫn còn tiếp diễn trong lòng dân tộc, một khí chất nhạy cảm và dễ tiếp nhận hơn đã bị ép mang lấy một kiến trúc thượng tầng theo khuôn phép.
Bởi vậy, ngôi nhà đã trở nên hết sức giống hàng trăm ngôi nhà khác mang cùng những khát vọng cao sang, và đã biến thành: “Ngôi nhà nhỏ hết sức duyên dáng của vợ chồng Soames Forsyte ấy mà, rất có cá tính, bà thân mến ạ—thật sự thanh lịch.”
Thay Soames Forsyte bằng James Peabody, Thomas Atkins hay Emmanuel Spagnoletti—thực ra là tên của bất kỳ người Anh thuộc tầng lớp trung lưu thượng lưu nào ở London có đôi chút tham vọng về thẩm mỹ—thì dù cách trang trí có khác, lời nhận xét ấy vẫn hoàn toàn xác đáng.
Tối ngày 8 tháng Tám, một tuần sau chuyến đi Robin Hill, trong phòng ăn của ngôi nhà “rất có cá tính, bà thân mến ạ—thật sự thanh lịch” này, Soames và Irene đang ngồi dùng bữa. Một bữa tối nóng vào Chủ nhật là nét thanh lịch hơi khác người mà ngôi nhà này cùng nhiều ngôi nhà khác đều có. Ngay từ những ngày đầu hôn nhân, Soames đã đặt ra quy tắc: “Đám gia nhân phải dọn cho chúng ta bữa tối nóng vào Chủ nhật—chúng có làm gì đâu ngoài việc chơi đàn concertina.”
Tập quán ấy không gây ra cuộc cách mạng nào. Bởi vì—một dấu hiệu khá đáng chê trách trong mắt Soames—đám gia nhân hết lòng với Irene, người bất chấp mọi truyền thống an toàn, dường như thừa nhận rằng họ cũng có quyền được chia phần những yếu đuối của bản tính con người.
Đôi vợ chồng hạnh phúc ngồi không đối diện nhau mà thành một góc vuông bên chiếc bàn gỗ hồng sắc đẹp đẽ; họ dùng bữa không trải khăn—một nét thanh lịch khác người—và cho đến lúc ấy vẫn chưa nói với nhau lời nào.
Soames thích nói trong bữa tối về công việc làm ăn hoặc những thứ chàng vừa mua, và chừng nào chàng còn nói thì sự im lặng của Irene không khiến chàng khó chịu. Tối nay chàng thấy không thể nào nói được. Quyết định xây nhà đã đè nặng tâm trí chàng suốt cả tuần, và chàng đã nhất quyết báo cho nàng biết.
Sự bồn chồn trước việc tiết lộ này làm chàng bực bội sâu sắc; nàng không có quyền khiến chàng cảm thấy như thế—vợ chồng vốn là một. Từ lúc ngồi xuống, nàng chưa nhìn chàng lấy một lần; chàng tự hỏi suốt bấy lâu nay nàng nghĩ quái gì. Thật quá quắt, khi một người đàn ông làm lụng như chàng, kiếm tiền cho nàng—phải, và còn mang nỗi đau trong tim—mà nàng lại ngồi đó, trông—trông như thể thấy những bức tường trong phòng đang khép chặt quanh mình. Thật đủ khiến người ta phải đứng dậy bỏ bàn ăn.
Ánh sáng từ ngọn đèn có chụp màu hồng rọi xuống cổ và cánh tay nàng—Soames thích nàng mặc áo cổ trễ khi dùng bữa; điều đó đem lại cho chàng một cảm giác ưu việt không sao diễn tả nổi so với phần đông người quen, những người có vợ, khi ăn tối tại nhà, chỉ hài lòng với chiếc áo dài cổ cao đẹp nhất hoặc áo dùng khi uống trà. Dưới làn sáng hồng ấy, mái tóc màu hổ phách và làn da trắng của nàng tương phản lạ lùng với đôi mắt nâu sẫm.
Một người đàn ông có thể sở hữu vật gì đẹp hơn chiếc bàn ăn này, với những sắc màu thâm trầm, những đóa hồng mềm cánh lấp lánh như sao, đồ thủy tinh màu hồng ngọc và những món bạc kỳ thú; một người đàn ông có thể sở hữu vật gì đẹp hơn người đàn bà ngồi bên bàn? Lòng biết ơn không phải là một đức tính của nhà Forsyte; vốn ưa cạnh tranh và đầy lương tri thực tế, họ chẳng có dịp nào cần đến nó. Soames chỉ cảm thấy một nỗi bực tức đến mức đau đớn vì chàng không sở hữu được nàng theo cái quyền sở hữu nàng của mình; vì chàng không thể, như đưa tay về phía đóa hồng kia, ngắt lấy nàng và hít vào tận những bí mật sâu kín của trái tim nàng.
Từ những tài sản khác, từ mọi thứ chàng đã thu thập—đồ bạc, tranh, nhà cửa, các khoản đầu tư—chàng đều nhận được một cảm giác thầm kín và thân mật; còn từ nàng, chàng chẳng nhận được gì.
Trong ngôi nhà của chàng, trên bức tường nào cũng có lời cảnh báo. Khí chất thực tế của một người làm ăn trong chàng phản kháng lời cảnh báo bí ẩn rằng nàng không được sinh ra cho chàng. Chàng đã cưới người đàn bà này, chinh phục nàng, biến nàng thành của mình; và theo chàng, việc chàng không thể làm gì hơn ngoài sở hữu thân thể nàng—nếu quả thực chàng còn làm được cả việc ấy, điều chàng bắt đầu ngờ vực—là trái với định luật căn bản nhất trong mọi định luật: luật sở hữu. Nếu có ai hỏi chàng liệu chàng có muốn sở hữu linh hồn nàng không, câu hỏi ấy hẳn sẽ khiến chàng thấy vừa lố bịch vừa đa cảm. Nhưng chàng quả thực muốn thế, và lời trên tường bảo rằng chàng sẽ không bao giờ đạt được.
Nàng luôn luôn im lặng, thụ động, khước từ một cách duyên dáng; như thể kinh hãi rằng bằng một lời nói, một cử động hay một dấu hiệu nào đó, nàng có thể khiến chàng tin rằng nàng yêu mến chàng; và chàng tự hỏi: Ta phải sống mãi thế này sao?
Như phần đông độc giả tiểu thuyết thuộc thế hệ mình—mà Soames lại là một người đọc tiểu thuyết rất nhiều—văn chương nhuộm màu cách chàng nhìn cuộc đời; và chàng đã thấm nhuần niềm tin rằng đó chỉ là vấn đề thời gian.
Cuối cùng, người chồng bao giờ cũng giành được tình yêu của vợ. Ngay cả trong những trường hợp—một loại sách chàng không ưa lắm—kết thúc bằng bi kịch, người vợ bao giờ cũng chết với những lời hối tiếc xé lòng trên môi; hoặc nếu người chết là chồng—một ý nghĩ khó chịu—thì nàng sẽ vật mình lên thi thể chàng trong cơn ân hận quằn quại.
Chàng thường đưa Irene đến nhà hát, theo bản năng lựa chọn những vở kịch thượng lưu hiện đại với vấn đề hôn nhân của giới thượng lưu hiện đại—may thay, khác hẳn mọi vấn đề hôn nhân trong đời thực. Chàng nhận thấy chúng cũng luôn luôn kết thúc theo một cách, ngay cả khi trong chuyện có một tình nhân. Trong lúc xem kịch, Soames thường đồng cảm với người tình; nhưng trước khi về đến nhà, khi ngồi cùng Irene trên chiếc xe hansom, chàng đã thấy như thế là không ổn, và mừng vì vở kịch đã kết thúc như nó phải kết thúc. Bấy giờ có một loại người chồng vừa trở thành thời thượng: một người mạnh mẽ, hơi thô ráp nhưng cực kỳ vững vàng, đặc biệt thành công ở cuối vở kịch. Thực tình Soames không có thiện cảm với hạng người ấy, và nếu không vì hoàn cảnh riêng, chàng hẳn đã bày tỏ sự ghê tởm đối với hắn. Nhưng chàng ý thức quá rõ rằng đối với mình, việc trở thành một người chồng thành công, thậm chí “mạnh mẽ”, là thiết yếu đến mức nào, nên chàng không bao giờ nói ra sự ác cảm có lẽ đã được những đường lối trớ trêu của Tự nhiên sinh ra từ một nguồn tàn bạo bí mật trong chính chàng.
Nhưng sự im lặng của Irene tối nay thật khác thường. Chưa bao giờ chàng thấy vẻ mặt nàng như thế. Và bởi cái bất thường bao giờ cũng gây sợ hãi, Soames đâm lo. Chàng ăn món mặn cuối bữa và giục cô hầu khi cô dùng dụng cụ bạc quét vụn bánh khỏi bàn. Khi cô đã ra khỏi phòng, chàng rót rượu đầy ly rồi hỏi:
“Chiều nay có ai đến đây không?”
“June.”
“Cô ta muốn gì?” Với nhà Forsyte, một định lý bất di bất dịch là người ta không đi đâu cả nếu không muốn một điều gì. “Chắc đến nói chuyện về người yêu chứ gì?”
Irene không đáp.
“Theo tôi thấy,” Soames nói tiếp, “hình như cô ta mê hắn hơn là hắn mê cô ta. Lúc nào cô ta cũng lẽo đẽo theo hắn.”
Ánh mắt Irene khiến chàng bứt rứt.
“Anh không có quyền nói một điều như thế!” nàng thốt lên.
“Tại sao không? Ai cũng nhìn thấy.”
“Không ai nhìn thấy cả. Mà dù họ có thấy thì nói ra như thế cũng thật đáng hổ thẹn.”
Vẻ điềm tĩnh của Soames tan biến.
“Cô đúng là một người vợ quý hóa!” chàng nói. Nhưng thầm trong bụng, chàng kinh ngạc trước sự gay gắt trong câu trả lời của nàng; thật chẳng giống nàng chút nào. “Cô mê June đến phát rồ! Tôi nói cho cô biết một điều: giờ cô ta đã cầm cương Gã Cướp Biển rồi, cô ta chẳng còn coi cô đáng hai xu, rồi cô sẽ thấy. Nhưng từ nay cô sẽ không gặp cô ta nhiều đến thế nữa đâu; chúng ta sẽ ra miền quê sống.”
Chàng mừng vì đã nói bật được tin ấy dưới màn che của cơn cáu giận này. Chàng đã chờ đợi một tiếng kêu kinh hãi; sự im lặng đón nhận lời tuyên bố ấy làm chàng lo sợ.
“Cô có vẻ chẳng quan tâm,” chàng buộc phải nói thêm.
“Tôi biết rồi.”
Chàng nhìn nàng sắc lẹm.
“Ai nói cho cô?”
“June.”
“Làm sao cô ta biết?”
Irene không trả lời. Bối rối và khó chịu, chàng nói:
“Đây là một việc tốt cho Bosinney, nó sẽ làm nên sự nghiệp của hắn. Chắc cô ta đã kể cho cô nghe hết rồi chứ gì?”
“Phải.”
Lại một khoảng im lặng, rồi Soames nói:
“Chắc cô không muốn đi?”
Irene không đáp.
“Thế thì tôi chẳng hiểu cô muốn gì. Ở đây cô có vẻ chẳng bao giờ mãn nguyện.”
“Ý muốn của tôi có liên quan gì đến chuyện ấy sao?”
Nàng cầm bình hoa hồng và rời khỏi phòng. Soames vẫn ngồi nguyên. Chẳng lẽ chàng ký bản hợp đồng ấy là để nhận lấy điều này? Chẳng lẽ chàng sắp bỏ ra chừng mười nghìn bảng là để nhận lấy điều này? Câu nói của Bosinney trở lại trong óc chàng: “Đàn bà là quỷ dữ!”
Nhưng một lát sau chàng bình tâm lại. Chuyện có thể còn tệ hơn. Nàng có thể đã nổi giận đùng đùng. Chàng đã chờ đợi một điều gì hơn thế này. Xét cho cùng, thật may là June đã phá băng giúp chàng. Hẳn cô ta đã khéo moi chuyện từ Bosinney; chàng đáng lẽ phải biết cô ta sẽ làm vậy.
Chàng châm thuốc lá. Dù sao Irene cũng không làm ầm lên! Nàng sẽ nguôi thôi—đó là điểm tốt nhất ở nàng; nàng lạnh lùng nhưng không dỗi dai. Và trong lúc phả khói thuốc vào một con bọ rùa trên mặt bàn bóng loáng, chàng chìm vào mộng tưởng về ngôi nhà. Lo lắng cũng chẳng ích gì; lát nữa chàng sẽ ra làm hòa. Nàng hẳn đang ngồi ngoài kia trong bóng tối, dưới chiếc lọng Nhật Bản, đan len. Một đêm đẹp và ấm áp…
Thực ra, chiều hôm ấy June đã bước vào với đôi mắt sáng ngời và nói: “Soames đúng là người tử tế! Thật tuyệt cho Phil—đúng là việc dành cho anh ấy!”
Thấy gương mặt Irene vẫn tối lại và bối rối, cô nói tiếp:
“Dĩ nhiên là ngôi nhà mới của chị ở Robin Hill. Sao? Chị không biết ư?”
Irene không biết.
“Ồ! Thế thì có lẽ em không nên nói cho chị biết!” Nhìn bạn mình một cách sốt ruột, cô kêu lên: “Trông chị cứ như chẳng quan tâm. Chị không thấy sao, đây chính là điều em hằng cầu mong—đúng là cơ hội anh ấy đã chờ đợi suốt bấy lâu. Giờ chị sẽ thấy anh ấy có thể làm được gì”; rồi cô tuôn ra toàn bộ câu chuyện.
Từ khi đính hôn, dường như cô không còn mấy quan tâm đến hoàn cảnh của bạn mình; những giờ ở bên Irene đều được dành cho những lời tâm sự của riêng cô; và đôi lúc, bất chấp lòng thương mến trìu mến, cô không sao ngăn được một nét khinh miệt thương hại len vào nụ cười dành cho người đàn bà đã phạm một sai lầm như thế trong đời—một sai lầm khổng lồ và lố bịch đến thế.
“Anh ấy còn được lo cả phần trang trí nữa—hoàn toàn tự do. Thật hoàn hảo—” June bật cười, thân hình nhỏ bé của cô run lên vì vui sướng; cô giơ tay đấm vào tấm rèm vải muslin. “Chị có biết em còn hỏi cả bác James…” Nhưng chợt không muốn nhắc đến chuyện ấy, cô ngừng lại; và một lát sau, thấy bạn mình hờ hững đến thế, cô ra về. Từ vỉa hè cô ngoái nhìn lại, Irene vẫn đứng nơi cửa. Đáp lại cái vẫy tay từ biệt của cô, Irene đưa tay lên trán, rồi chậm rãi quay vào, khép cửa lại…
Một lát sau Soames đi vào phòng khách và nhìn trộm nàng qua cửa sổ.
Ngoài kia, trong bóng chiếc lọng Nhật Bản, nàng ngồi bất động; dải đăng ten trên đôi vai trắng khẽ lay theo nhịp lồng ngực dịu dàng nâng lên hạ xuống.
Nhưng quanh sinh vật lặng thinh đang ngồi bất động trong bóng tối ấy dường như có một hơi ấm, một nhiệt tình cảm xúc kín đáo, như thể toàn bộ con người nàng đã bị khuấy động và một biến đổi nào đó đang diễn ra tận nơi sâu thẳm nhất.
Chàng lặng lẽ trở lại phòng ăn mà không bị nàng nhận thấy.