Phúc lành của đất — Chương 10: Quyển I · Chương X

Chương 10 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Hôm sau là ngày định mang tới một sự kiện lớn. Có khách tới trại — Geissler tới. Trên vùng đất lầy còn chưa vào hè, nhưng Geissler chẳng đoái hoài gì tới đường sá; ông ta đi bộ, mang đôi ủng cao sang trọng với vành trên rộng bóng loáng; lại còn đeo găng vàng, trông thật lịch sự; một người từ dưới làng khiêng đồ cho ông ta.

Nói cho đúng, ông ta lên để mua một mảnh đất của Isak trên đồi — một mỏ đồng. Thế giá bao nhiêu? Mà nhân thể, ông ta cũng có lời nhắn của Inger — cô gái tốt, ai cũng quý; ông ta đã ở Trondhjem và đã gặp cô ta. “Isak, anh đã đổ khối công vào đây.”

“Ừ, chắc thế. Mà ông đã gặp Inger?”

“Cái gì đằng kia thế? Dựng cả một cái cối xay riêng à? Tự xay lúa lấy? Tuyệt lắm. Mà anh cũng vỡ thêm khối đất từ lần tôi lên đây.”

“Cô ấy có khoẻ không ạ?”

“Hả? À, vợ anh! — ừ, chị ấy khoẻ mạnh bình thường. Ta vào buồng trong đi. Tôi kể hết cho anh nghe.”

“Trong ấy chưa dọn,” Oline chen vào. Oline có lý do riêng để không muốn họ vào đó. Nhưng họ vẫn vào gian buồng nhỏ, rồi đóng cửa lại. Oline đứng dưới bếp và chẳng nghe được gì.

Geissler ngồi xuống, lấy bàn tay lực lưỡng vỗ đùi mình một cái, và ông ta ngồi đó — làm chủ số phận của Isak.

“Anh chưa bán cái vạt đồng ấy chứ?” ông ta hỏi.

“Chưa.”

“Tốt. Tôi sẽ tự mua. Mà tôi đã gặp Inger và vài người khác nữa. Chẳng mấy nữa chị ấy sẽ ra, nếu tôi không nhầm to — vụ ấy đã trình lên Đức Vua.”

“Đức Vua ạ?”

“Đức Vua, đúng thế. Tôi vào nói chuyện với vợ anh — dĩ nhiên họ thu xếp cho tôi, chuyện ấy chẳng khó gì — và chúng tôi nói chuyện khá lâu. ‘Nào, Inger, chị sống thế nào? Ổn cả chứ?’ ‘Ơ, tôi chẳng có gì phải phàn nàn.’ ‘Có muốn về nhà không?’ ‘Ừ, tôi chẳng nói không.’ ‘Thế thì chẳng bao lâu nữa chị sẽ về,’ tôi bảo. Mà tôi nói với anh thế này, Isak, chị ấy là một người đàn bà tốt, cái chị Inger ấy. Chẳng mếu máo gì, chẳng lấy một giọt nước mắt, mà tươi cười vui vẻ… nhân thể, họ đã chữa xong cái tật ở miệng chị ấy — mổ — khâu lại rồi. ‘Thôi, chào chị nhé,’ tôi bảo. ‘Chị sẽ chẳng ở đây lâu nữa đâu, tôi hứa với chị thế.’

“Rồi tôi tới chỗ ông Giám thị — dĩ nhiên ông ta tiếp tôi, chuyện ấy chẳng khó gì. ‘Ông đang giữ ở đây một người đàn bà,’ tôi bảo, ‘đáng lẽ phải ra khỏi chỗ này mà về nhà — Inger Sellanraa.’ ‘Inger?’ ông ta bảo; ‘à phải. Chị ta thuộc loại tốt — tôi mà giữ được chị ta hai chục năm thì hay,’ ông ta bảo. ‘Ông chẳng giữ được đâu,’ tôi bảo. ‘Chị ấy ở đây lâu quá rồi.’ ‘Lâu quá?’ ông ta bảo. ‘Ông có biết chị ta vào đây vì tội gì không?’ ‘Tôi biết cả,’ tôi bảo, ‘vì tôi là _Lensmand_ ở hạt ấy.’ ‘Ồ,’ ông ta bảo, ‘mời ông ngồi.’ Dĩ nhiên nói thế là rất phải phép. ‘Ơ,’ ông Giám thị bảo, ‘chúng tôi ở đây làm hết những gì có thể cho chị ta, cho cả con bé của chị ta nữa. Thế ra chị ta là người vùng ông à? Chúng tôi đã giúp chị ta có một cái máy khâu riêng; chị ta đã qua hết các xưởng, lên tới trên cùng, và chúng tôi đã dạy chị ta khối thứ — dệt, việc nhà, nhuộm, cắt may. Ông bảo ở đây lâu quá à?’ Ừ thì tôi đã có sẵn câu trả lời cho chuyện đó, nhưng nó có thể đợi, nên tôi chỉ nói rằng vụ của chị ấy đã bị làm rối beng, và phải đưa ra lại; nay, sau khi bộ hình luật đã sửa, rất có thể chị ấy đã được tha bổng hẳn. Rồi tôi kể ông ta nghe chuyện con thỏ rừng. ‘Một con thỏ?’ ông Giám thị bảo. ‘Một con thỏ rừng,’ tôi bảo. ‘Mà đứa bé sinh ra thì sứt môi như môi thỏ.’ ‘Ồ,’ ông ta bảo, mỉm cười, ‘tôi hiểu rồi. Và ông cho rằng đáng lẽ họ phải xét đến chuyện ấy nhiều hơn?’ ‘Họ chẳng xét đến chút nào cả,’ tôi bảo, ‘vì chuyện ấy chẳng hề được nhắc tới.’ ‘Ừ, tôi cho là rốt cuộc cũng chẳng đến nỗi.’ ‘Với chị ấy thì cũng đủ nỗi rồi.’ ‘Thế ông tin một con thỏ làm được phép lạ à?’ ông ta bảo. ‘Cái đó thì,’ tôi bảo, ‘thỏ có làm được phép lạ hay không là chuyện tôi không bàn lúc này. Vấn đề là việc _trông thấy_ một con thỏ có thể gây tác động gì lên một người đàn bà mang dị tật ấy, trong tình trạng ấy.’ Ừ thì ông ta nghĩ về chuyện đó một lát. ‘Hừm,’ rốt cuộc ông ta bảo. ‘Có thể, có thể. Dù sao ở đây chúng tôi cũng chẳng dính gì tới chuyện ấy. Việc của chúng tôi chỉ là nhận những người ta gửi tới; chứ không phải xét lại bản án của họ. Mà theo bản án thì Inger chưa mãn hạn.’

“Ừ, thế là tôi vào cái điều tôi vẫn muốn nói từ đầu. ‘Ngay từ đầu, khi đưa chị ấy tới đây, đã có một sự sơ suất nghiêm trọng,’ tôi bảo. ‘Sơ suất?’ ‘Vâng. Thứ nhất, đáng lẽ không bao giờ được giải chị ấy đi ngang cả nước trong tình trạng chị ấy lúc ấy.’ Ông ta nhìn tôi đờ ra. ‘Không, cái đó thì hoàn toàn đúng,’ ông ta bảo. ‘Nhưng ông biết đấy, chuyện đó chẳng dính gì tới chúng tôi ở đây.’ ‘Còn thứ hai,’ tôi bảo, ‘chắc chắn đáng lẽ chị ấy không được nằm trong nhà tù suốt hai tháng tròn mà nhà chức trách ở đây chẳng hề để ý gì tới tình trạng của chị ấy.’ Câu ấy làm ông ta cứng người, tôi thấy rõ; ông ta im khá lâu. ‘Ông có được uỷ quyền hành động thay mặt chị ta không?’ rốt cuộc ông ta hỏi. ‘Có,’ tôi bảo. Ừ thì rồi ông ta bắt đầu kể lể họ đã hài lòng với chị ấy thế nào, và kể lại một lượt nữa những gì họ đã dạy và đã làm cho chị ấy ở đó — dạy cả viết nữa, ông ta bảo. Còn con bé thì đã gửi cho một nhà tử tế nuôi, vân vân. Rồi tôi kể ông ta nghe ở nhà thì thế nào, khi Inger vắng mặt. Hai thằng bé bỏ lại, chỉ có một người đàn bà làm thuê trông nom, với tất cả những chuyện còn lại. ‘Tôi có một bản trình bày của chồng chị ấy,’ tôi bảo, ‘tôi có thể đệ trình dù vụ này được đưa ra xét lại toàn bộ hay là làm đơn xin ân xá.’ ‘Tôi muốn xem bản trình bày ấy,’ ông Giám thị bảo. ‘Được thôi,’ tôi bảo. ‘Mai tôi mang tới trong giờ thăm.’”

Isak ngồi nghe — nghe mà nôn nao, một câu chuyện kỳ diệu từ xứ lạ. Hắn dõi theo miệng Geissler bằng đôi mắt nô lệ.

Geissler nói tiếp: “Tôi về thẳng khách sạn viết một bản trình bày; dĩ nhiên tự tay tôi làm tất, anh hiểu chứ, rồi ký ‘Isak Sellanraa’. Nhưng đừng tưởng tôi nói một lời nào chống lại cái lối họ xử sự trong nhà tù. Không một lời. Hôm sau tôi mang tờ giấy tới. ‘Mời ông ngồi,’ ông Giám thị bảo, ngay lúc tôi vừa bước vào cửa. Ông ta đọc hết những gì tôi viết, chỗ này chỗ nọ gật đầu, rồi rốt cuộc ông ta bảo: ‘Rất tốt, thật sự rất tốt. Có lẽ đưa vụ này ra xét lại thì cũng khó, nhưng mà…’ ‘Khoan đã,’ tôi bảo. ‘Tôi còn một văn bản nữa mà tôi nghĩ sẽ làm cho chuyện này ổn thoả.’ Lại chặn được ông ta, anh thấy chưa. ‘Ừ,’ ông ta bảo, vội vàng, ‘từ hôm qua tới giờ tôi đã suy nghĩ về việc này, và tôi cho rằng có đủ căn cứ chính đáng để xin ân xá.’ ‘Và đơn ấy sẽ được ông Giám thị ủng hộ chứ?’ tôi hỏi. ‘Dĩ nhiên; vâng, tôi sẽ tiến cử hết mức.’ Thế là tôi cúi chào mà nói: ‘Vậy thì dĩ nhiên chuyện ân xá sẽ chẳng có gì khó. Tôi xin cảm ơn ông, thay mặt một người đàn bà đau khổ và một mái nhà tan nát.’ Rồi ông ta bảo: ‘Tôi nghĩ chẳng cần thêm bản khai nào nữa — ý tôi là từ dưới hạt — về vụ của chị ta. Chính ông biết rõ người đàn bà ấy — thế là quá đủ.’ Dĩ nhiên tôi thừa hiểu vì sao ông ta muốn giải quyết chuyện này càng êm càng tốt, nên tôi chỉ đồng ý: bảo rằng thu thập thêm tài liệu thì chỉ làm chậm thủ tục…

“Và thế đấy, Isak, đó là toàn bộ câu chuyện.” Geissler nhìn đồng hồ. “Bây giờ ta vào việc. Anh lên trên ấy với tôi lần nữa được không?”

Isak là một sinh vật bằng đá, một gốc cây cụt hình người; hắn chẳng dễ gì đổi đề tài ngay lập tức; đầu hắn còn ngập trong những ý nghĩ và ngạc nhiên, và hắn bắt đầu hỏi hết chuyện này tới chuyện kia. Hắn biết được rằng lá đơn đã trình lên Đức Vua, và có thể được quyết trong một trong những phiên Hội đồng Nhà nước đầu tiên. “Cả một phép lạ,” hắn nói.

Rồi họ lên đồi; Geissler, người của ông ta, và Isak, và đi mấy tiếng đồng hồ. Chỉ trong một thời gian rất ngắn Geissler đã dò theo được thế nằm của mạch đồng trên cả một vạt đất rộng và vạch ra giới hạn khu ông ta muốn. Chỗ này, chỗ kia, chỗ nào cũng có mặt ông ta. Nhưng chẳng phải kẻ khờ, bất kể những cử động vội vã ấy; xét đoán nhanh, mà dù sao vẫn chắc.

Khi họ về tới trại lần nữa với một bao đầy mẫu quặng — ông ta lấy giấy bút ra ngồi viết. Nhưng ông ta không vùi hẳn vào việc viết, mà thỉnh thoảng vẫn nói chuyện. “Ừ, Isak, lần này thì món tiền đất chẳng lớn lắm đâu, nhưng dù sao tôi cũng đưa anh được vài trăm _Daler_, ngay tại chỗ.” Rồi ông ta lại viết. “Nhắc tôi trước khi tôi đi, tôi muốn xem cái cối xay của anh,” ông ta nói. Rồi ông ta trông thấy mấy vệt xanh đỏ trên khung cửi, bèn hỏi: “Ai vẽ đấy?” Ấy là Eleseus, nó vẽ một con ngựa và một con dê; nó dùng cái bút chì màu vẽ lên khung cửi và lên gỗ khắp nơi, vì chẳng có giấy. “Chẳng tồi chút nào,” Geissler nói, rồi cho Eleseus một đồng tiền.

Geissler viết thêm một lúc, rồi ngẩng lên. “Chẳng bao lâu nữa sẽ có người khác lên đây lấy đất quanh vùng này.”

Nghe thế người đi cùng ông ta lên tiếng: “Có mấy người bắt đầu rồi.”

“Ơ! Ai thế?”

“Ừ thì, trước hết là nhà ở Breidablik, họ gọi thế — lão Brede, ở Breidablik.”

“Lão ấy — phù!” Geissler khịt mũi khinh khỉnh.

“Rồi còn một hai người nữa đã mua.”

“Chẳng biết có ai nên hồn không,” Geissler nói. Và cùng lúc để ý thấy trong buồng có hai thằng bé, ông ta túm lấy thằng Sivert bé mà cho nó một đồng tiền. Geissler là một người đáng chú ý. Mà nhân thể, mắt ông ta đã bắt đầu có vẻ mọng đỏ; rìa mắt hơi ửng lên. Có thể là vì mất ngủ; mà cái ấy đôi khi cũng do uống rượu mạnh mà ra. Nhưng trông ông ta chẳng có vẻ chán nản chút nào; và mặc dù chốc chốc lại nói chuyện này chuyện nọ, hẳn suốt lúc ấy ông ta vẫn nghĩ về cái văn bản của mình, bởi thình lình ông ta cầm bút lên viết thêm một đoạn nữa.

Rốt cuộc thì có vẻ ông ta đã xong.

Ông ta quay sang Isak: “Ừ, như tôi đã nói, vụ này chưa làm anh giàu ngay được đâu. Nhưng có thể còn nữa. Ta sẽ thu xếp sao cho về sau anh được thêm. Dù sao, bây giờ tôi đưa anh được hai trăm.”

Isak chẳng hiểu được mấy về toàn bộ chuyện ấy, nhưng dù sao hai trăm _Daler_ cũng là một phép lạ nữa, và là một khoản vô lý. Dĩ nhiên hắn sẽ nhận trên giấy, chứ chẳng phải tiền mặt, nhưng thôi kệ. Lúc này trong đầu Isak còn những thứ khác.

“Thế ông nghĩ cô ấy sẽ được ân xá?” hắn hỏi.

“Hả? À, vợ anh! Ừ, giá dưới làng có một trạm điện tín thì tôi đã đánh dây về Trondhjem hỏi xem chị ấy đã được thả chưa.”

Isak đã nghe người ta nói về điện tín; một thứ kỳ diệu, một sợi dây treo trên những cây cột lớn, một cái gì đó hoàn toàn ở trên cõi đất thường. Việc nhắc tới nó lúc này xem chừng làm lung lay niềm tin của hắn vào những lời to tát của Geissler, và hắn lo lắng chen vào: “Nhưng nhỡ Đức Vua bảo không thì sao ạ?”

Geissler nói: “Thì tôi gửi tiếp phần tài liệu bổ sung, một bản tường trình đầy đủ toàn bộ sự việc. Và thế thì họ _buộc phải_ thả chị ấy. Chẳng còn một bóng nghi ngờ nào.”

Rồi ông ta đọc lại những gì mình đã viết; bản hợp đồng mua đất. Hai trăm _Daler_ trả ngay, và về sau, một phần trăm cao đẹp đẽ trên khoản thu từ việc khai thác, hoặc từ việc sang nhượng lại vạt đồng ấy sau này. “Ký tên vào đây,” Geissler nói.

Isak hẳn đã sẵn lòng ký, nhưng hắn chẳng có chữ nghĩa; cả đời hắn chưa đi xa hơn việc khắc chữ đầu tên mình lên gỗ. Nhưng có cái mụ Oline đáng ghét kia đang đứng nhìn; hắn cầm cây bút lên — một thứ ghê tởm, đằng nào cũng nhẹ quá chẳng cầm nổi — xoay cho đúng đầu chúc xuống, và _viết_ — viết tên mình. Rồi Geissler thêm vào một câu, chắc là lời giải thích, và người ông ta mang theo ký làm chứng.

Xong.

Nhưng Oline vẫn còn đó, đứng bất động — thật ra bà ta vừa mới cứng đờ ra như thế. Chuyện gì sắp xảy ra đây?

“Dọn cơm đi, Oline,” Isak nói, có lẽ với một thoáng oai vệ, sau khi đã ký tên bằng chữ viết lên một tờ giấy. “Nhà có gì thì mời ông vậy,” hắn nói thêm với Geissler.

“Thơm quá còn gì,” Geissler nói. “Miếng ăn thức uống lành mạnh. Đây, Isak, tiền của anh đây!” Geissler móc ví ra — dày và phồng lắm — rút ra hai tập giấy bạc đặt xuống. “Anh tự đếm lấy.”

Chẳng một cử động, chẳng một tiếng động.

“Isak,” Geissler lại gọi.

“Vâng. Dạ,” Isak đáp, rồi lẩm bẩm, choáng ngợp: “Chẳng phải tôi hỏi xin đâu, mà cũng chẳng dám — sau ngần ấy việc ông đã làm.”

“Chỗ kia mười tờ mười — phải thế mới đúng, còn đây hai mươi tờ năm,” Geissler nói cộc. “Mà tôi mong chẳng bao lâu nữa phần của anh sẽ nhiều hơn thế rất nhiều.”

Và chính lúc ấy Oline mới tỉnh khỏi cơn xuất thần. Rốt cuộc điều kỳ diệu đã xảy ra. Bà ta bưng thức ăn lên bàn.

Sáng hôm sau Geissler ra sông xem cái cối xay. Nó nhỏ đủ, và đóng thô sơ; ừ, một cái cối xay cho người lùn, cho lũ yêu tinh, nhưng chắc chắn và dùng được cho việc của một con người. Isak dẫn khách ngược lên sông thêm một đoạn, và chỉ cho ông ta một thác nước nữa hắn đã làm được đôi chút; nó sẽ quay một cái cưa, nếu Chúa cho hắn sức khoẻ. “Chỉ mỗi cái,” hắn nói, “là xa trường học quá: tôi sẽ phải gửi hai thằng bé ở lại dưới làng.” Nhưng Geissler, vốn lúc nào cũng nhanh tìm ra cách, chẳng thấy có gì đáng lo ở đây. “Bây giờ đã có thêm người mua đất và lập nhà quanh đây rồi,” ông ta nói. “Chẳng bao lâu nữa sẽ đủ người để mở một cái trường.”

“Ừ, có thể, nhưng chẳng kịp trước khi hai thằng bé nhà tôi lớn.”

“Ừ, thế sao không cho chúng ở trọ một cái trại dưới làng? Anh có thể đánh xe chở hai thằng với ít thức ăn xuống, rồi ba tuần — sáu tuần sau lại đón lên; chắc chắn với anh thì cũng chẳng khó gì?”

“Ừ, có thể,” Isak nói.

Ừ, mọi sự sẽ chẳng khó gì, nếu Inger về. Nhà cửa và đất đai và cái ăn và bao nhiêu thứ lớn lao, lại thêm một món tiền lớn nữa hắn cũng có, và sức lực của hắn; hắn rắn như đinh. Sức khoẻ và sức lực — ừ, tràn trề và nguyên vẹn, chưa mòn mỏi, về mọi mặt, sức khoẻ và sức lực của một người đàn ông.

Geissler đi rồi, Isak bắt đầu nghĩ tới bao nhiêu chuyện to gan. Ừ, bởi chẳng phải Geissler, cái phúc lành của cả nhà, lúc chia tay đã nói rằng ông ta sẽ gửi tin về rất sớm — sẽ đánh điện tín ngay khi nào có thể đó sao. “Chừng nửa tháng nữa anh ghé nhà bưu điện mà hỏi,” ông ta đã bảo thế. Mà chỉ riêng chuyện ấy đã đủ kỳ diệu lắm rồi. Isak bắt tay vào đóng một cái ghế ngồi cho cỗ xe. Dĩ nhiên là một cái ghế có thể tháo ra khi dùng xe chở phân, nhưng lắp lại được khi có ai muốn ngồi xe. Và khi đóng xong cái ghế thì nó trắng và mới quá, đến nỗi phải sơn cho sẫm lại. Mà nói tới chuyện ấy, còn khối thứ phải làm! Trước hết là cả cơ ngơi cần sơn. Rồi bao nhiêu năm nay hắn vẫn nghĩ tới chuyện dựng một cái kho cho ra kho, có cầu dẫn, để chứa mùa màng. Hắn cũng đã nghĩ tới chuyện dựng cho xong cái cưa ấy; tới chuyện rào hết đất canh tác của mình; tới chuyện đóng một cái thuyền trên cái hồ trên đồi. Bao nhiêu chuyện hắn đã nghĩ tới. Nhưng hắn làm hùng hục, làm đến vô lý — mà ăn thua gì với thời gian? Thời gian — chính thời gian mới là cái quá ngắn. Chưa kịp biết thì đã Chủ nhật, rồi ngay sau đó, kìa, lại Chủ nhật nữa!

Dù sao thì hắn cũng sẽ sơn; cái đó thì đã quyết và dứt khoát. Những dãy nhà đứng đó xám xịt và trần trụi — đứng đó như những ngôi nhà mặc mỗi áo lót. Vẫn còn kịp trước mùa bận; xuân mới chỉ vừa chớm; đám gia súc non đã ra ngoài, nhưng trong đất vẫn còn băng giá.

Isak xuống làng, mang theo vài chục quả trứng để bán, và mang sơn về. Đủ sơn cho một dãy nhà, cho cái kho, và nó được sơn đỏ. Hắn lại lấy thêm sơn về, lần này là màu vàng đất, cho chính ngôi nhà. “Ừ, tôi vẫn bảo mà, ở đây sắp thành đẹp đẽ sang trọng,” Oline làu bàu mỗi ngày. Ừ, hẳn Oline cũng đoán được rằng thời của bà ta ở Sellanraa sắp hết; bà ta đủ dai và đủ mạnh để chịu chuyện đó, dù không phải không cay đắng. Về phần Isak, nay hắn không còn tìm cách thanh toán những món nợ cũ với bà ta nữa, dù về cuối bà ta ăn cắp và giấu giếm khá là hào phóng. Hắn tặng bà ta một con cừu thiến non; nói cho cùng, bà ta cũng đã ở với hắn lâu, và làm lụng với đồng công ít ỏi. Mà Oline cũng chẳng đến nỗi tệ với lũ trẻ; bà ta không nghiêm khắc, không đạo mạo phải trái kiểu ấy, mà có cái tài xử với trẻ con: chịu nghe chúng nói, và để chúng làm gần như tuỳ ý. Nếu chúng lảng vảng quanh lúc bà ta làm phô mai thì bà ta cho một miếng nếm thử; nếu Chủ nhật chúng nài xin khỏi phải rửa mặt thì bà ta cho khỏi.

Sơn xong lượt đầu lên vách, Isak lại xuống làng, mang về hết chỗ sơn hắn vác nổi. Cả thảy hắn quét ba lượt, và quét trắng khung cửa với các góc nhà. Giờ mà từ xa nhìn về mái nhà của hắn trên sườn đồi thì như nhìn một toà lâu đài trong cổ tích. Chốn hoang vu đã có người ở và không còn nhận ra được nữa, một phúc lành đã giáng xuống nó, sự sống đã trỗi dậy ở đó sau một giấc mơ dài, có những con người sống ở đó, có trẻ con chơi quanh nhà. Còn rừng thì trải ra, mênh mông và hiền hoà, mãi tới những đỉnh xanh.

Nhưng lần cuối cùng Isak xuống lấy sơn, người coi cửa hàng đưa cho hắn một cái phong bì xanh có in huy hiệu, và bảo trả 5 _skilling_. Đó là một bức điện tín được chuyển qua đường bưu điện, của ông _Lensmand_ Geissler. Phúc lành cho con người ấy, cái ông Geissler kỳ diệu! Ông ta đánh điện mấy chữ, rằng Inger đã được tự do, “Về nhà sớm nhất có thể: Geissler.” Và nghe thế thì cái cửa hàng bắt đầu quay tròn quay tròn một cách kỳ lạ; cái quầy và những người trong tiệm bỗng lùi xa tít. Isak thấy chứ chẳng phải nghe chính mình nói: “_Herregud_!” và “Ngợi khen và tạ ơn Chúa.”

“Cô ấy có thể tới đây ngay ngày mai đấy,” người coi cửa hàng nói, “nếu rời Trondhjem kịp chuyến.”

“Ơ!” Isak nói.

Hắn đợi tới hôm sau. Người đưa hàng mang thư từ lên, từ bến tàu nơi tàu hơi nước ghé, nhưng chẳng có Inger. “Thế thì phải sang tuần sau cô ấy mới tới,” người coi cửa hàng nói.

Rốt cuộc thì còn thì giờ để chờ cũng gần như là điều hay — Isak có khối việc phải làm. Chẳng lẽ hắn quên hẳn mình đi mà bỏ bê ruộng đất? Hắn lại lên đường về nhà và bắt đầu chở phân ra đồng. Việc ấy chóng xong. Hắn cắm cái xà beng xuống đất, để ý xem băng giá tan đi thế nào từng ngày. Mặt trời giờ đã lớn và mạnh, tuyết đã hết, chỗ nào cũng lấp ló màu xanh; đàn gia súc đã ra bãi. Isak cày một ngày, rồi ít hôm sau hắn gieo lúa, trồng khoai. Chao, cả hai thằng nhỏ nữa, trồng khoai như những thiên thần; bàn tay nhỏ đầy phúc của chúng, mà bố chúng còn làm gì được ngoài đứng nhìn?

Rồi Isak rửa cỗ xe dưới sông, và lắp cái ghế vào. Hắn nói với hai thằng bé về một chuyến đi nhỏ; hắn phải có một chuyến đi nhỏ xuống làng.

“Nhưng bố không đi bộ à?”

“Hôm nay thì không. Bố định hôm nay đi bằng ngựa với xe.”

“Chúng con đi cùng được không?”

“Các con phải ngoan, ở nhà lần này. Mẹ các con sắp về rồi, mẹ sẽ dạy các con khối thứ.”

Eleseus thì mê học đủ thứ; nó hỏi: “Bố ơi, lúc bố viết lên giấy ấy — nó thế nào ạ?”

“Ơ, gần như chẳng thấy gì cả; như cầm một cái chẳng có gì trong tay.”

“Nhưng nó có trượt không, như trên băng ấy?”

“Cái gì trượt?”

“Cái bút, cái bố viết ấy?”

“Ừ, cái bút. Nhưng con phải học cách lái nó, rồi con sẽ thấy.”

Còn thằng Sivert bé thì nghĩ khác, và chẳng nói gì về bút; nó muốn được ngồi trên xe; chỉ cần ngồi lên ghế trước khi thắng ngựa vào, và cứ thế mà đánh xe, đánh thật nhanh một cỗ xe không ngựa. Và chính nhờ nó mà bố cho cả hai đứa ngồi lên xe đi cùng một quãng dài xuống dốc.