Phúc lành của đất — Chương 9: Quyển I · Chương IX

Chương 9 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Năm tháng trôi qua.

Lại có khách tới Sellanraa; một viên kỹ sư, với một cai và hai người thợ, lại cắm tuyến dây điện tín qua vùng đồi. Theo lối họ chọn lần này thì đường dây sẽ chạy hơi cao hơn ngôi nhà một chút, và một con đường thẳng sẽ được mở xuyên qua rừng. Chẳng hại gì. Nó sẽ làm chỗ này bớt hiu quạnh, một thoáng thế giới bên ngoài sẽ làm nó sáng lên.

“Chỗ này,” viên kỹ sư nói, “sẽ nằm gần đúng giữa hai tuyến chạy qua hai thung lũng hai bên. Rất có thể họ sẽ nhờ anh nhận việc coi đường dây cho cả hai.”

“Ơ!” Isak nói.

“Mỗi năm bỏ túi được hai mươi lăm _Daler_ đấy.”

“Hừm,” Isak nói. “Thế tôi phải làm gì cho ngần ấy?”

“Giữ cho đường dây lành lặn, nối dây khi cần, phát cây cối mọc lên dọc tuyến. Họ sẽ đặt trong nhà anh một cái máy nhỏ treo lên vách, nó sẽ báo cho anh biết khi nào cần đến anh. Mà hễ nó báo là anh phải bỏ dở việc gì đang làm mà đi.”

Isak nghĩ ngợi. “Mùa đông thì tôi làm được,” hắn nói.

“Thế thì không được. Phải là quanh năm, hè cũng như đông.”

“Không làm được,” Isak nói. “Xuân, hạ và thu thì tôi có việc trên đất của tôi, chẳng còn thì giờ cho việc khác.”

Viên kỹ sư nhìn hắn một hồi lâu, rồi đặt một câu hỏi lạ lùng như sau: “Làm thế anh kiếm được nhiều tiền hơn à?”

“Kiếm nhiều tiền hơn?” Isak nói.

“Một ngày làm trên đất anh kiếm được nhiều tiền hơn một ngày làm cho chúng tôi à?”

“Ơ, cái đó thì tôi chẳng nói được,” Isak đáp. “Chỉ là thế này, ông thấy đấy — tôi ở đây là vì đất. Tôi phải nuôi sống lắm miệng người và còn lắm miệng thú hơn — mà chính đất nuôi chúng tôi. Đó là cái ăn của chúng tôi.”

“Anh không nhận thì tôi tìm người khác,” viên kỹ sư nói.

Nhưng Isak nghe câu doạ ấy lại chỉ có vẻ nhẹ cả người. Hắn không muốn làm mếch lòng ông lớn, nên cố giảng giải. “Là thế này,” hắn nói, “tôi có một con ngựa và năm con bò, chưa kể con bò đực. Tôi có hai mươi con cừu và mười sáu con dê. Đám gia súc ấy cho chúng tôi thức ăn, len và da; chúng tôi phải cho chúng ăn.”

“Ừ, ừ, dĩ nhiên rồi,” người kia nói cộc.

“Thì tôi nói vậy đấy, tôi lấy gì cho chúng ăn khi giữa mùa bận cứ phải bỏ chạy đi làm đường dây điện tín?”

“Thôi khỏi bàn thêm,” viên kỹ sư nói. “Tôi sẽ lấy người dưới kia, Brede Olsen; gã ấy sẽ mừng mà nhận.” Ông ta quay sang mấy người của mình, nói cụt lủn: “Nào, anh em, ta đi tiếp.”

Nghe cái giọng Isak nói, Oline biết trong bụng hắn đang cứng đầu và ương ngạnh, nên bà ta sẽ tận dụng chuyện ấy.

“Cậu vừa nói gì thế, Isak? Mười sáu con dê à? Có mười lăm thôi,” bà ta nói.

Isak nhìn bà ta, và Oline nhìn lại hắn, thẳng vào mặt.

“Không phải mười sáu con dê à?” hắn nói.

“Không,” bà ta nói, đưa mắt bất lực về phía mấy người khách, như muốn bảo hắn ương ngạnh đến thế nào.

“Ơ!” Isak nói khẽ. Hắn kéo một mớ râu vào giữa hai hàm răng rồi đứng đó mà nhai.

Viên kỹ sư và người của ông ta đi tiếp.

Bây giờ, nếu Isak muốn tỏ nỗi bất bình với Oline và có khi cho bà ta một trận vì những việc bà ta làm, thì đây là cơ hội — một cơ hội trời cho để làm việc ấy. Trong nhà chỉ có hai người; lũ trẻ đã chạy theo mấy người khách lúc họ đi. Isak đứng đó giữa buồng, còn Oline ngồi bên bếp lò. Isak hắng giọng đôi ba lần, chỉ cốt cho thấy rằng hắn sẵn sàng nói điều gì đó nếu hắn muốn. Nhưng hắn chẳng nói gì. Đó là sức mạnh của tâm hồn hắn. Sao, hắn chẳng biết mình có bao nhiêu con dê như biết mấy ngón tay trên bàn tay mình sao — mụ đàn bà này điên à? Làm sao có thể thiếu một con khi hắn biết mặt từng con một và ngày nào cũng nói chuyện với chúng — đàn dê của hắn mười sáu con? Hẳn Oline đã đổi chác mất một con hôm qua, lúc người đàn bà từ Breidablik lên xem cơ ngơi. “Hừm,” Isak nói, và lần này thì lời đã lên tận đầu lưỡi. Oline đã làm gì? Chưa hẳn là giết người, có lẽ, nhưng cũng chẳng xa mấy. Hắn có thể nói về con dê thứ mười sáu ấy bằng cái giọng nghiêm trọng chết người.

Nhưng hắn không thể đứng mãi đó giữa buồng mà chẳng nói gì. “Hừm,” hắn nói. “Ơ! Thế giờ chỉ còn mười lăm con dê thôi, bác bảo thế à?”

“Tôi đếm thì thế,” Oline đáp dịu dàng. “Nhưng cậu cứ tự đếm mà xem.”

Giờ là lúc của hắn — hắn có thể làm ngay: vươn tay ra mà sửa lại hình dáng Oline cho đáng kể, chỉ với một cái siết. Hắn làm được. Hắn không làm, mà nói to, đi ra phía cửa: “Bây giờ tôi chẳng nói thêm gì nữa.” Rồi hắn đi ra, như thể tỏ rõ rằng lần sau hắn sẽ có lời lẽ đàng hoàng để nói, khỏi lo.

“Eleseus!” hắn gọi to.

Eleseus đâu, lũ trẻ đâu? Bố chúng có điều muốn hỏi; giờ chúng đã lớn tướng, mắt mũi tinh tường. Hắn tìm thấy chúng dưới sàn kho; chúng đã bò vào tận trong cùng, nấp kín chẳng ai thấy, nhưng lại tự lộ ra bằng tiếng thì thào lo lắng. Giờ chúng bò ra như hai kẻ có tội.

Chuyện là thế này: Eleseus nhặt được một mẩu bút chì màu viên kỹ sư bỏ quên, và đã chạy theo để trả lại, nhưng mấy ông lớn với những sải chân dài đã lên tít trong rừng. Eleseus dừng lại. Trong đầu nó nảy ra ý rằng nó có thể giữ cái bút chì — giá mà giữ được! Nó lôi thằng Sivert bé ra, để ít nhất có hai đứa cùng chia tội, rồi cả hai bò xuống dưới sàn với cái của bắt được. Chao, cái mẩu bút chì ấy — nó là một sự kiện trong đời chúng, một điều kỳ diệu! Chúng tìm những dăm bào và phủ kín lên đó những nét vẽ; chúng phát hiện ra cái bút chì có một đầu vạch màu xanh và đầu kia vạch màu đỏ, và chúng thay nhau dùng. Khi bố chúng gọi to và gắt gỏng thế, Eleseus thì thào: “Họ quay lại đòi bút chì rồi!” Cả niềm vui của chúng tan biến trong khoảnh khắc, bị quét sạch khỏi đầu chỉ trong một cái chạm, và những trái tim bé nhỏ của chúng bắt đầu đập thình thịch dữ dội. Hai anh em bò ra. Eleseus chìa cái bút chì ra hết tầm tay; nó đây, chúng chẳng làm gãy; chỉ ước gì chúng chưa từng trông thấy cái của ấy.

Chẳng thấy viên kỹ sư nào cả. Tim chúng dịu lại, đập chậm hơn; thoát khỏi cái căng thẳng khủng khiếp ấy thật là sung sướng như lên trời.

“Hôm qua có một người đàn bà lên đây,” bố chúng nói.

“Vâng.”

“Người đàn bà ở cái trại dưới kia. Các con có thấy bà ấy đi không?”

“Có ạ.”

“Bà ấy có dắt theo con dê nào không?”

“Không,” hai đứa nói. “Dê ạ?”

“Lúc đi bà ấy không dắt theo con dê nào à?”

“Không. Dê nào cơ?”

Isak nghĩ mãi nghĩ mãi. Chiều đến, khi đàn gia súc về, hắn đếm đàn dê một lượt — mười sáu con. Hắn đếm lại lần nữa, đếm tới năm lần. Mười sáu con. Chẳng thiếu con nào.

Isak thở phào. Nhưng thế là thế nào? Oline, cái con người khốn khổ ấy, chẳng lẽ đếm không nổi tới mười sáu? Hắn giận dữ hỏi bà ta: “Chuyện vớ vẩn gì thế? _Có_ mười sáu con dê đấy chứ.”

“Có mười sáu à?” bà ta hỏi, ra vẻ vô tội.

“Ừ.”

“Ừ thì thế.”

“Bác đếm giỏi thật.”

Oline đáp khẽ khàng, giọng như bị oan: “Đàn dê còn đủ cả thì, ơn Trời, cậu chẳng thể bảo Oline ăn mất chúng. Thế thì may cho bà ấy, tội nghiệp.”

Oline đã lừa hắn trọn vẹn bằng cái mẹo ấy; hắn hài lòng, cứ tưởng mọi sự đều ổn. Chẳng hạn hắn không hề nghĩ tới việc đếm đàn cừu. Hắn chẳng buồn đếm gì thêm nữa trong đàn gia súc. Nói cho cùng thì Oline chẳng đến nỗi tệ như bà ta có thể tệ; bà ta cũng trông nom nhà cửa cho hắn tàm tạm, và ngó tới đàn bò; bà ta chỉ là một con người ngu ngốc, và cái đó thì thiệt cho chính bà ta nhất. Cứ để bà ta ở, cứ để bà ta sống — chẳng đáng bận tâm. Nhưng làm Isak lúc này là một điều xám xịt và chẳng có niềm vui.

Nhiều năm đã trôi qua. Cỏ đã mọc trên mái nhà, đến cả mái kho, vốn mới hơn mấy năm, cũng đã xanh. Con chuột rừng hoang dã từ lâu đã tìm được đường vào nhà kho. Chim sẻ than và đủ loại chim nhỏ tụ về khắp nơi quanh đó; trên sườn đồi còn nhiều chim hơn; đến cả quạ cũng đã tới. Mà kỳ diệu hơn cả, mùa hè trước, mòng biển đã xuất hiện, mòng biển bay ngược suốt từ bờ biển lên đậu trên những thửa ruộng giữa chốn hoang này. Cái trại của Isak đã nổi tiếng khắp nơi với mọi loài hoang dã. Còn Eleseus và thằng Sivert bé thì sao khi chúng trông thấy đàn mòng biển? Chao, đó là những con chim lạ từ đâu xa lắc; chẳng nhiều nhặn gì, chỉ sáu con chim trắng, giống hệt nhau, lạch bạch đi tới đi lui khắp ruộng, thỉnh thoảng lại mổ xuống cỏ.

“Bố ơi, chúng nó đến làm gì?” hai đứa hỏi.

“Ngoài biển sắp có bão,” bố chúng nói. Chao, trông thấy đàn mòng biển ấy thật là một điều lớn lao và bí ẩn!

Và Isak dạy hai con nhiều điều tốt lành và hữu ích khác nữa. Chúng đã tới tuổi đi học, nhưng trường thì cách mấy dặm dưới làng, xa quá chẳng với tới. Isak đã tự dạy chúng bảng chữ cái vào các ngày Chủ nhật, nhưng cho chúng học hành cao hơn thì chẳng phải việc của hắn, không phải việc của một kẻ sinh ra để cày ruộng; cuốn giáo lý và cuốn Kinh Thánh giản lược nằm im lìm trên giá cùng với những cái phô mai. Xem cái cách hắn đối với hai đứa con thì có vẻ Isak cho rằng người ta lớn lên mà không có chữ nghĩa trong sách thì tốt hơn. Chúng là niềm vui và phúc lành của hắn, cả hai đứa; đã bao lần hắn nhớ lại những ngày chúng còn bé xíu, và mẹ chúng không cho hắn đụng vào vì tay hắn dính nhựa thông. Chao, nhựa thông, thứ sạch nhất trên đời! Nhựa hắc ín, sữa dê và tuỷ xương chẳng hạn, đều là những thứ tuyệt vời, nhưng nhựa thông, thứ nhựa trong sạch của cây linh sam — thì khỏi phải nói!

Thế là hai thằng bé lớn lên trong một thiên đường của đất cát và dốt nát, nhưng dù sao chúng cũng là hai đứa dễ thương khi được rửa ráy, mà chuyện ấy thì thỉnh thoảng cũng có; thằng Sivert bé là một thằng bé cừ, còn Eleseus thì có gì đó tinh tế hơn và sâu hơn.

“Sao mòng biển lại biết trước thời tiết ạ?” nó hỏi.

“Chúng nó nhức mình vì thời tiết,” bố nó nói. “Nhưng cái đó thì chúng nó cũng chẳng hơn gì lũ ruồi. Ruồi thì thế nào bố chẳng nói được, chúng có bị thống phong hay chóng mặt hay gì không. Nhưng đừng bao giờ đập một con ruồi, vì đập chỉ làm nó tệ hơn — nhớ lấy nhé các con! Ruồi trâu thì lại là giống khác, nó tự chết. Giữa mùa hè tự dưng một ngày nó xuất hiện, thế là có nó; rồi một ngày tự dưng nó biến mất, thế là hết đời nó.”

“Nhưng nó chết thế nào ạ?” Eleseus hỏi.

“Mỡ trong bụng nó đông cứng lại, thế là nó nằm đó mà chết.”

Ngày nào chúng cũng học được điều gì mới. Chẳng hạn khi nhảy từ trên mỏm đá cao xuống thì phải giữ lưỡi trong mồm, đừng để nó lọt vào giữa hai hàm răng. Khi lớn hơn, muốn thơm tho để đi nhà thờ thì phải xoa lên người một ít cây cúc ngải mọc trên sườn đồi. Bố thì đầy khôn ngoan. Hắn dạy hai đứa về đá, về đá lửa, rằng đá trắng cứng hơn đá xám; nhưng tìm được viên đá lửa rồi thì còn phải làm cả bùi nhùi nữa. Rồi mới đánh ra lửa được. Hắn dạy chúng về mặt trăng, rằng khi tay trái mình ôm được vào bề lõm thì trăng đang lên, còn tay phải ôm vào được thì trăng đang khuyết; nhớ lấy nhé các con! Thỉnh thoảng Isak đi quá đà, và đâm ra huyền bí; một hôm thứ Sáu hắn tuyên bố rằng con lạc đà chui vào nước thiên đàng còn khó hơn người ta xỏ chỉ qua lỗ kim. Lần khác, kể cho chúng về vinh quang của các thiên thần, hắn giảng rằng thiên thần có những ngôi sao gắn ở gót chân thay cho đinh giày. Một lối dạy dỗ tốt lành và giản dị, rất hợp với những kẻ khai hoang nơi hoang dã; ông thầy giáo dưới làng hẳn sẽ cười cho tất cả những thứ ấy, nhưng hai đứa con Isak thì tìm được công dụng tốt cho chúng trong đời sống bên trong của mình. Chúng được rèn và được dạy cho cái thế giới nhỏ của riêng chúng, mà còn gì hơn thế? Mùa thu, khi tới lúc mổ thịt gia súc, hai đứa hết sức tò mò, và sợ, và nặng lòng cho những con sắp chết. Isak một tay giữ, tay kia sẵn sàng đâm xuống; Oline khuấy tiết. Con dê già được dắt ra, râu dài và khôn ngoan; hai đứa đứng nấp sau góc nhà mà nhìn trộm. “Gió lạnh bẩn thỉu quá,” Eleseus nói, rồi quay đi lau mắt. Thằng Sivert bé thì khóc lộ liễu hơn, không nhịn được mà kêu lên: “Ôi, con dê già tội nghiệp!” Con dê bị giết xong, Isak đi tới chỗ chúng và dạy chúng bài học này: “Đừng bao giờ đứng đấy mà nói ‘tội nghiệp’ với thương xót khi người ta đang giết con vật. Làm thế nó dai ra, khó giết hơn. Nhớ lấy!”

Thế là năm tháng trôi qua, và giờ lại sắp sang xuân.

Inger đã viết thư về nhà báo rằng cô ta khoẻ, và đang học được nhiều thứ ở chỗ cô ta đang ở. Con bé của cô ta đã lớn, và được đặt tên là Leopoldine, theo ngày nó ra đời, ngày 15 tháng Mười một. Nó biết đủ thứ, và là một thiên tài về đường thêu rút sợi và móc len, những thứ nó làm được trên vải lanh hay vải bố thì đẹp lạ lùng.

Điều lạ ở bức thư này là chính Inger đã tự viết và tự đánh vần lấy tất cả. Isak chẳng đủ chữ nghĩa nên phải nhờ người đọc hộ dưới làng, nhờ người coi cửa hàng; nhưng một khi đã vào đầu thì nó nằm lại luôn ở đó; về tới nhà là hắn đã thuộc lòng.

Và giờ hắn ngồi xuống đầu bàn hết sức trịnh trọng, trải lá thư ra, và đọc to cho hai đứa con nghe. Hắn cũng chẳng ngại gì để Oline thấy hắn đọc chữ viết dễ dàng đến thế nào, nhưng hắn không nói với bà ta lấy một tiếng nào trực tiếp. Đọc xong, hắn nói: “Đấy, Eleseus, với cả con nữa, Sivert, chính mẹ các con viết lá thư này và học được ngần ấy thứ. Đến cả con em bé tí của các con cũng biết nhiều hơn tất cả bố con mình ở đây. Nhớ lấy!” Hai đứa ngồi im, lặng lẽ mà kinh ngạc.

“Ừ, ghê gớm thật,” Oline nói.

Mà bà ta định nói gì thế? Bà ta nghi Inger nói dối chăng? Hay bà ta ngờ vực chuyện Isak biết đọc? Chẳng dễ gì dò ra Oline thật sự nghĩ gì, khi bà ta ngồi đó với cái mặt chất phác mà nói những câu tối tăm. Isak quyết định chẳng thèm để ý.

“Rồi mẹ các con về, các con cũng sẽ học viết,” hắn bảo hai thằng bé.

Oline dịch mấy cái áo quần đang hong bên bếp lò; dịch một cái nồi, rồi lại dịch mấy cái áo, và loay hoay đủ thứ việc. Suốt lúc ấy bà ta đang nghĩ.

“Nhà này giờ đẹp đẽ sang trọng đến thế,” rốt cuộc bà ta nói. “Tôi vẫn nghĩ cậu cũng nên mua lấy một gói cà phê về nhà chứ.”

“_Cà phê_?” Isak nói. Câu ấy buột ra.

Oline đáp khẽ khàng: “Từ trước tới giờ thỉnh thoảng tôi vẫn tự bỏ tiền túi ra mua một ít, nhưng mà…”

Với Isak thì cà phê là thứ trong mơ và trong chuyện cổ tích, là một cái cầu vồng. Dĩ nhiên Oline đang nói nhảm. Hắn không giận bà ta, không; nhưng chậm nghĩ như hắn, rốt cuộc hắn cũng nhớ ra chuyện bà ta đổi chác với đám người Lapp, và hắn nói cay đắng:

“Ừ, tôi sẽ mua cà phê cho bác, mua chứ. Một gói cà phê, phải không? Sao không hẳn một cân? Một cân cà phê, đã mua thì mua cho trót.”

“Chẳng phải nói kiểu ấy, Isak. Thằng em tôi, thằng Nils, nó có cà phê; dưới Breidablik người ta cũng có cà phê.”

“Ừ, vì họ chẳng có sữa. Nhà ấy chẳng có lấy một giọt sữa.”

“Cái đó thì tuỳ. Nhưng cậu biết lắm thứ thế, đọc chữ viết trôi như con gián chạy, thì cậu phải biết cà phê là thứ nhà nào cũng nên có chứ.”

“Đồ này!” Isak nói.

Nghe thế Oline ngồi xuống, và chẳng ai bịt được mồm bà ta nữa. “Còn cái con Inger ấy,” bà ta nói, “nếu tôi dám nói một lời như thế…”

“Bác muốn nói gì thì nói, với tôi thì cũng thế cả.”

“Rồi nó sẽ về, học được đủ thứ trên đời. Với cả cườm với lông cắm trên mũ nữa, chắc thế?”

“Ừ, có thể lắm.”

“Ừ,” Oline nói; “mà nó cũng nên cảm ơn tôi một chút vì cái sự nó trở nên đẹp đẽ sang trọng thế.”

“Bác à?” Isak hỏi. Câu ấy buột ra.

Oline đáp khiêm nhường: “Ừ, vì nhờ cái công mọn của tôi mà nó mới đi được đấy chứ.”

Isak cứng họng; mọi lời của hắn nghẹn lại, hắn ngồi đó trân trân. Hắn nghe có nhầm không? Oline ngồi đó ra vẻ như chẳng nói gì. Không, trong một trận đấu khẩu thì Isak thua trắng.

Hắn lao ra khỏi nhà, đầy những ý nghĩ tối tăm. Oline, cái con vật sống nhờ cái ác mà béo tốt lên vì nó — sao ngay năm đầu hắn không vặn cổ bà ta? Hắn nghĩ thế, cố lấy lại tinh thần. Hắn đã có thể làm thế — hắn ấy à? Sao lại không chứ! Chẳng ai làm giỏi hơn.

Rồi một chuyện nực cười xảy ra. Isak vào lán đếm đàn dê. Chúng đây cả, cùng lũ dê con, đủ số. Hắn đếm bò, đếm lợn, mười bốn con gà, hai con bê. “Suýt nữa thì quên đàn cừu,” hắn tự nhủ; hắn đếm đàn cừu, và làm ra vẻ hết sức lo lắng sợ thiếu mất con nào. Isak biết thừa rằng đàn cừu thiếu mất một con; hắn đã biết từ lâu; sao hắn lại làm ra vẻ khác? Chuyện là thế này. Oline đã có lần lừa hắn một vố ngon lành, bảo mất một con dê, trong khi đàn dê vẫn đủ cả; hồi ấy hắn đã làm ầm lên về chuyện đó, nhưng vô ích. Cứ đụng độ với Oline là lần nào cũng thế. Rồi đến mùa thu, lúc mổ thịt, hắn nhận ra ngay rằng thiếu mất một con cừu cái, nhưng hồi ấy hắn không đủ can đảm bắt bà ta trả lời về chuyện đó. Và từ bấy tới nay hắn cũng chẳng tìm ra cái can đảm ấy.

Nhưng hôm nay hắn nghiêm khắc; Isak nghiêm khắc. Lần này Oline đã làm hắn giận thật sự. Hắn đếm lại đàn cừu lần nữa, lấy ngón trỏ chỉ vào từng con mà đếm to — Oline muốn nghe thì nghe, nếu bà ta có tình cờ đứng ngoài đó. Và hắn nói khối điều nặng lời về Oline — nói to lên; rằng bà ta dùng một phép nuôi cừu mới của riêng bà ta, một phép làm cho chúng biến sạch — đây, một con cừu cái biến mất tăm. Bà ta là một mụ ăn cắp, không hơn không kém, và bà ta cứ biết thế! Chao, giá Oline đứng ngoài kia mà nghe được, mà một phen sợ hết vía.

Hắn sải bước ra khỏi lán, sang chuồng ngựa đếm con ngựa; từ đó hắn sẽ vào — sẽ vào nhà mà nói thẳng ruột mình. Hắn đi nhanh tới mức cái áo bay phồng lên phía sau như một cái áo đang rất giận dữ. Nhưng rất có thể Oline đã để ý thấy gì đó qua ô cửa kính; bà ta hiện ra ở khung cửa, thong thả và điềm tĩnh, tay xách mấy cái thùng, đang trên đường ra chuồng bò.

“Bác làm gì con cừu cái tai bẹt rồi?” hắn hỏi.

“Cừu cái à?” bà ta hỏi.

“Ừ. Nếu nó còn đây thì giờ nó đã có hai con rồi. Bác làm gì chúng nó rồi? Nó lúc nào cũng đẻ hai con. Bác lấy của tôi ba con một lúc, bác hiểu chưa?”

Oline hoàn toàn choáng ngợp, hoàn toàn bị nghiền nát bởi lời buộc tội; bà ta lắc lắc đầu, và hai chân như tan chảy ra dưới người — bà ta có thể ngã mà đau tới nơi. Cái đầu bà ta vẫn hoạt động suốt lúc ấy; cái mồm nhanh nhảu vẫn luôn cứu bà ta, luôn phục vụ bà ta rất tốt; nay nó không được phép phụ bà ta.

“Tôi ăn cắp dê rồi tôi ăn cắp cừu,” bà ta nói khẽ khàng. “Rồi tôi làm gì chúng nó, tôi cũng muốn biết? Chắc tôi chẳng ăn hết một mình được, phải không?”

“Bác làm gì chúng nó thì bác biết rõ nhất.”

“Ơ! Cứ như thể tôi chẳng có thừa mứa thịt thà cơm nước đủ thứ, với những gì cậu cho tôi, Isak ạ, mà lại phải đi ăn cắp thêm? Nhưng dù sao tôi cũng nói thế này, bao nhiêu năm nay tôi chưa bao giờ cần đến nhiều thế.”

“Thế bác làm gì con cừu rồi? Os-Anders lấy à?”

“Os-Anders?” Oline phải đặt hai cái thùng xuống mà chắp tay lại. “Cầu cho tôi chẳng bao giờ phải chịu thêm tội nào nữa! Cậu nói cừu cái với cừu con gì thế? Hay là cậu nói con dê, con tai bẹt ấy?”

“Đồ này!” Isak nói, rồi quay đi.

“Ơ, cậu mà chẳng phải một phép lạ thì thôi, Isak ạ, tôi phải nói thế… Đây cậu có đủ mọi thứ trên đời cậu có thể mong, cả một đạo binh nhà trời nào cừu nào dê trong lán nhà cậu, thế mà vẫn chưa đủ. Tôi biết đâu con cừu nào, hai con cừu con nào, mà cậu đang cố moi ở tôi bây giờ? Cậu phải tạ ơn Chúa vì lòng thương xót của Người đời đời kiếp kiếp, phải thế chứ. Chỉ qua mùa hè này với một quãng nữa tới đông là lại tới mùa cừu đẻ, lại gấp ba lần ngần ấy.”

Chao, cái mụ Oline ấy!

Isak bỏ đi, làu bàu như một con gấu. “Ngu quá, ngay ngày đầu không giết quách nó đi!” hắn nghĩ, tự gọi mình bằng đủ thứ tên. “Đồ ngốc, đồ rác rưởi! Nhưng chưa muộn đâu; cứ đợi đấy, muốn ra chuồng bò thì cứ ra. Tối nay mà làm gì thì chẳng khôn, nhưng ngày mai… ừ, sáng mai là lúc. Mất toi ba con cừu! Lại còn cà phê nữa chứ!”