Phúc lành của đất — Chương 8: Quyển I · Chương VIII

Chương 8 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Thời gian bay đi ư? Ừ, khi người ta đang già đi. Isak chưa già, hắn chưa mất sức; với hắn thì năm tháng thấy dài. Hắn làm trên đất mình, và để mặc bộ râu sắt của mình mọc ra sao thì mọc.

Thỉnh thoảng cái đơn điệu của chốn hoang được phá vỡ bởi bóng một người Lapp đi ngang, hoặc bởi chuyện gì đó xảy đến với một con vật trong nhà, rồi mọi sự lại như cũ. Có lần cả một tốp người kéo tới cùng lúc; họ nghỉ chân ở Sellanraa, ăn ít thức ăn và uống một bát sữa; họ hỏi Isak và Oline về lối đi băng qua đồi; họ bảo họ đang cắm tuyến đường dây điện tín. Và có lần Geissler tới — chính Geissler, chẳng phải ai khác. Ông ta cứ thế mà tới, thảnh thơi như xưa, đi bộ lên từ dưới làng, có hai người đi cùng, khiêng đồ nghề đào mỏ, cuốc chim và mai.

Chao, cái ông Geissler ấy! Chẳng đổi khác, vẫn hệt như xưa; gặp gỡ chào hỏi như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nói chuyện với lũ trẻ, vào nhà rồi lại ra, ngó qua khu đất, mở cửa chuồng bò và gác cỏ mà nhìn vào. “Tuyệt lắm!” ông ta nói. “Isak, anh còn giữ mấy hòn đá ấy không?”

“Hòn đá?” Isak nói, ngơ ngác.

“Mấy cục đá nhỏ mà nặng tôi thấy thằng bé chơi hồi tôi lên đây lần trước ấy.”

Mấy hòn đá đang để ngoài kho thức ăn, dùng làm đối trọng cho mấy cái bẫy chuột; Isak mang vào. Geissler và hai người kia xem xét chúng, bàn bạc với nhau, gõ chỗ này chỗ nọ, nhấc lên ước sức nặng. “Đồng,” họ nói.

“Anh lên với chúng tôi chỉ chỗ anh tìm được chúng được không?” Geissler hỏi.

Tất cả cùng lên; chỗ Isak nhặt được mấy hòn đá cũng chẳng xa, nhưng họ ở lại trên đồi hai ngày, tìm mạch kim loại, và nổ mìn chỗ này chỗ nọ. Họ xuống Sellanraa với hai cái bao đầy những cục đá nặng.

Trong lúc ấy Isak đã có dịp nói chuyện với Geissler, kể hết cho ông ta về hoàn cảnh của mình: về vụ mua đất, rốt cuộc thành một trăm _Daler_ chứ chẳng phải năm mươi.

“Chuyện vặt,” Geissler nói nhẹ tênh. “Rất có thể anh đang có hàng ngàn nằm trên phần đồi của anh.”

“Ơ!” Isak nói.

“Nhưng anh nên đem tờ khoán ấy đi đăng ký vào sổ càng sớm càng tốt.”

“Ừ.”

“Thế thì sau này Nhà nước chẳng giở trò gì được nữa, anh hiểu chưa.”

Isak hiểu. “Khổ nhất là chuyện Inger,” hắn nói.

“Ừ,” Geissler nói, rồi trầm ngâm lâu hơn thường lệ ở ông ta. “Có thể xin đưa vụ ấy ra lại. Trình bày đầu đuôi cho đúng phép; rất có thể xin giảm được đôi chút. Hoặc ta có thể làm đơn xin ân xá, mà rốt cuộc thì có lẽ cũng đi tới cùng một chỗ.”

“Ơ, giá mà làm được thế…”

“Nhưng xin ân xá ngay thì không được. Phải đợi một dạo. Mà tôi định nói… anh có mang đồ xuống cho vợ tôi — thịt với phô mai các thứ — phải không?”

“Ơ, cái đó thì ông _Lensmand_ đã trả trước cả rồi.”

“Tôi trả rồi à?”

“Với lại còn giúp nhà tôi tử tế bao nhiêu việc.”

“Chẳng có gì đâu,” Geissler nói cộc. “Đây — cầm lấy.” Rồi ông ta móc ra mấy tờ giấy bạc _Daler_.

Geissler chẳng phải hạng người lấy không của ai, cái đó thì rõ. Mà xem cái túi ông ta phồng lên thì có vẻ ông ta lắm tiền. Chỉ có Trời biết ông ta có tiền thật hay không.

“Nhưng cô ấy viết thư về bảo mọi sự đều ổn và đang khá lên,” Isak nói, quay về với cái ý nghĩ duy nhất của mình.

“Gì cơ? — À, vợ anh!”

“Ừ. Mà từ khi con bé ra đời — cô ấy sinh một đứa con gái, sinh trong lúc ở trong ấy. Một đứa bé xinh.”

“Tuyệt lắm!”

“Ừ, mà giờ họ đều tử tế hết mức, giúp cô ấy đủ đường, cô ấy bảo thế.”

“Này,” Geissler nói, “tôi sẽ gửi mấy hòn đá này cho mấy nhà chuyên môn về mỏ, xem trong đó có gì. Nếu hàm lượng đồng khá thì anh sẽ thành người giàu.”

“Hừm,” Isak nói. “Thế ông nghĩ bao lâu nữa thì mình xin ân xá được?”

“Ừ thì, có lẽ cũng chẳng lâu lắm, tôi sẽ viết đơn cho anh. Tôi sẽ sớm lên đây lần nữa. Anh vừa bảo gì nhỉ — vợ anh sinh con sau khi rời khỏi đây à?”

“Vâng.”

“Thế là họ giải chị ấy đi trong lúc chị ấy đang mang thai. Cái đó thì họ không có quyền.”

“Ơ!”

“Dù sao thì đó cũng là thêm một lý do để thả chị ấy sớm hơn.”

“Ừ, giá được thế…” Isak nói, đầy biết ơn.

Isak chẳng hay biết gì về vô số văn thư dài dòng đi đi lại lại giữa các cấp có thẩm quyền về người đàn bà đang mang thai ấy. Chính quyền địa phương đã để cô ta tự do trong lúc vụ việc còn treo, vì hai lẽ: thứ nhất, dưới làng chẳng có nhà giam nào để giữ cô ta, và thứ hai, họ muốn khoan dung hết mức. Hậu quả là một chuyện họ không thể lường trước. Về sau, khi họ cho người tới giải cô ta đi, chẳng ai hỏi han gì về tình trạng của cô ta, mà chính cô ta cũng chẳng nói gì. Rất có thể cô ta cố tình giấu chuyện ấy, để có một đứa con bên mình suốt những năm ngồi tù; nếu cô ta cư xử tốt thì hẳn thỉnh thoảng người ta sẽ cho cô ta gặp nó. Hoặc có lẽ cô ta chỉ dửng dưng, và cứ thế mà đi, chẳng đoái hoài, bất kể mình đang mang thai…

Isak làm việc và nhọc nhằn, đào mương và vỡ đất mới, cắm những mốc ranh giới giữa đất mình và đất Nhà nước, và kiếm thêm được một vụ gỗ nữa. Nhưng nay Inger đã không còn đó để trầm trồ trước những việc hắn làm, thì hắn làm vì thói quen nhiều hơn là vì niềm vui trong việc mình làm. Và hắn đã để trôi qua hai phiên mà chưa đăng ký tờ khoán, chẳng mấy bận tâm; rốt cuộc, mùa thu ấy, hắn mới gắng gượng làm cho xong. Isak bây giờ chẳng còn được như trước. Vẫn lặng lẽ và nhẫn nại như xưa — ừ, nhưng nay là vì hắn chẳng thiết. Hắn lấy da ra làm vì việc ấy phải làm — da dê và da bê — ngâm dưới sông, ủ trong vỏ cây, rồi thuộc qua loa cho được để đóng giày. Mùa đông — ngay mẻ đập lúa đầu tiên — hắn đã để riêng thóc giống cho xuân sau, để cho xong việc; tốt nhất là làm cho xong việc rồi thôi; hắn là một người có nề nếp. Nhưng đó là một cuộc đời xám xịt và cô quạnh; ơ hầy, _Herregud_! lại một người đàn ông không vợ, và tất cả những gì đi kèm…

Ngồi ở nhà ngày Chủ nhật, rửa ráy sạch sẽ, mặc cái áo đỏ tinh tươm, thì còn thú gì khi chẳng có ai để mà sạch sẽ tinh tươm cho! Chủ nhật là những ngày dài nhất, những ngày hắn bị buộc phải ngồi không và nghĩ những ý nghĩ mệt mỏi; chẳng có việc gì làm ngoài lang thang khắp nơi trong trại, đếm hết những gì đáng lẽ phải làm. Hắn luôn dắt lũ trẻ theo, luôn bế một đứa trên tay. Nghe chúng bi bô và trả lời những câu chúng hỏi về mọi thứ cũng là một cách khuây khoả.

Hắn giữ bà Oline lại vì chẳng kiếm được ai khác. Mà rốt cuộc Oline cũng có ích theo một lối nào đó. Chải len và xe sợi, đan bít tất và bao tay, làm phô mai — những việc ấy bà ta làm được cả, nhưng bà ta thiếu cái tay khéo léo vui vẻ của Inger, và làm chẳng có lòng; chẳng thứ gì qua tay bà ta là của bà ta. Có một thứ Isak đã mua ở cửa hàng dưới làng, một cái hũ sứ có cái đầu chó trên nắp. Thật ra đó là một thứ hộp đựng thuốc lá, và nó để trên giá. Oline nhấc cái nắp lên rồi đánh rơi xuống sàn. Inger có để lại mấy nhánh giâm hoa vân anh, úp dưới ly thuỷ tinh. Oline nhấc ly ra, rồi lúc úp lại thì ấn xuống thật mạnh và đầy ác ý; hôm sau, tất cả các nhánh giâm đều chết. Với Isak thì chịu đựng những chuyện như thế chẳng dễ; hắn tỏ ra khó chịu, và để lộ ra, mà vì ở Isak chẳng có gì thanh nhã dịu dàng, nên rất có thể hắn để lộ ra khá lộ liễu. Oline chẳng bận tâm mấy đến vẻ mặt; vẫn nói năng ngọt nhạt như xưa, bà ta chỉ bảo: “Ơ, thì tôi biết làm sao được?”

“Cái đó tôi chẳng nói được,” Isak đáp. “Nhưng đáng lẽ bác cứ để yên mấy thứ ấy.”

“Tôi chẳng đụng tới hoa của cô ấy nữa đâu,” Oline nói. Nhưng hoa thì đã chết rồi.

Lại nữa, sao dạo này người Lapp lên Sellanraa lắm thế? Chẳng hạn Os-Anders, lão ta có việc gì trên này đâu, đáng lẽ lão cứ đi đường lão. Một mùa hè mà hai lần lão băng qua đồi, mà nên nhớ, Os-Anders chẳng có con tuần lộc nào để trông, chỉ sống bằng xin xỏ và ăn nhờ ở đậu nhà người Lapp khác. Hễ lão vừa lên tới nơi là Oline bỏ việc mà sà vào tán chuyện với lão về người dưới làng, và lúc lão đi thì cái bao của lão nặng trĩu vô số thứ. Isak chịu đựng như thế hai năm, chẳng nói gì.

Rồi Oline lại đòi giày mới, và hắn không im được nữa. Bấy giờ đang mùa thu, mà Oline thì ngày nào cũng đi giày, chứ chẳng chịu đi guốc gỗ hay giày da thô.

“Hôm nay xem chừng đẹp trời,” Isak nói. “Hừm.” Hắn mở đầu như thế.

“Ừ,” Oline nói.

“Mấy cái phô mai ấy, Eleseus,” Isak lại nói tiếp, “sáng nay con đếm trên giá là mười, phải không?”

“Vâng,” Eleseus nói.

“Thế mà giờ chỉ còn chín.”

Eleseus đếm lại, rồi nghĩ một lát trong cái đầu bé nhỏ của nó; rồi nó nói: “Vâng, nhưng mà bác Os-Anders có một cái mang đi; thế là mười.”

Sau câu ấy thì im lặng khá lâu. Rồi thằng Sivert bé cũng phải thử đếm cho bằng anh, và nói theo anh nó: “Thế là mười.”

Lại im lặng. Rốt cuộc Oline thấy mình phải nói gì đó.

“Ừ, tôi có cho lão ấy một cái bé tí, đúng thế. Tôi chẳng nghĩ thế thì hại gì. Nhưng trẻ con ấy mà, vừa biết nói là đã lòi ra cái gì trong bụng. Còn chúng nó giống ai thì tôi nghĩ mãi đoán mãi cũng chẳng ra. Vì cái lối ấy chẳng phải lối của cậu, Isak ạ, cái đó tôi biết.”

Câu bóng gió ấy lộ quá, không thể bỏ qua. “Lũ trẻ chẳng làm sao cả,” Isak nói cộc. “Nhưng tôi muốn biết Os-Anders đã làm được điều tốt gì cho tôi và người nhà tôi.”

“Điều tốt gì?”

“Ừ, tôi nói thế đấy.”

“Os-Anders làm được điều tốt gì…?”

“Ừ, vì tôi phải đem phô mai ra trả cho lão.”

Oline đã có thì giờ nghĩ, và giờ đã có câu đáp sẵn.

“Ơ, tôi chẳng ngờ cậu lại thế, Isak ạ, thật chẳng ngờ. Chứ có phải tôi là người mở đầu chuyện Os-Anders đâu? Cầu cho tôi chẳng bao giờ nhúc nhích sống khỏi chỗ này nếu tôi có nhắc tới cái tên lão ấy.”

Thắng lợi rực rỡ cho Oline. Isak đành chịu thua, như đã bao lần trước.

Nhưng Oline còn nói nữa. “Mà nếu cậu định để tôi đi chân đất trần trụi ở đây, sắp vào đông đến nơi rồi, chẳng có nổi một đôi giày, thì cậu cứ nói thẳng ra. Ba bốn tuần trước tôi có nói một tiếng rằng tôi cần giày, mà tới hôm nay chẳng thấy tăm hơi cái giày nào, tôi vẫn thế này đây.”

Isak nói: “Thế đôi guốc của bác làm sao mà không dùng được?”

“Guốc tôi làm sao à?” Oline nhắc lại, chẳng chuẩn bị trước.

“Ừ, tôi muốn biết đấy.”

“Guốc tôi ấy à?”

“Ừ.”

“Ơ… thế mà tôi thì chải len xe sợi, trông bò trông cừu đủ cả, lại còn trông lũ trẻ ở đây — cậu chẳng có gì để nói về chuyện ấy à? Tôi muốn biết đấy; cái con vợ cậu đang ngồi tù vì việc nó làm ấy, cậu có để nó đi chân đất trên tuyết không?”

“Cô ấy đi guốc,” Isak nói. “Còn đi nhà thờ với đi thăm nom các thứ thì giày da thô cũng đủ tốt cho cô ấy.”

“Ừ, thế thì càng đẹp hơn, hẳn rồi.”

“Ừ, cô ấy đẹp thật. Mà mùa hè khi cô ấy có đi giày da thì cũng chỉ nhét một nắm cỏ vào trong, chẳng bao giờ hơn. Còn bác — bác thì quanh năm phải đi tất bên trong giày.”

Oline nói: “Cái đó thì rồi tôi cũng đi mòn đôi guốc thôi, hẳn thế. Tôi chẳng nghĩ có gì mà vội đi mòn ngay một lúc một đôi guốc còn tốt.” Bà ta nói khẽ khàng và dịu dàng, nhưng mắt lim dim, vẫn cái Oline ranh mãnh như xưa. “Còn về Inger,” bà ta nói, “cái con bị tráo, chúng tôi vẫn gọi nó thế, nó đã đi lại với con cái nhà tôi và học được cái này cái nọ, hàng bao năm trời. Và đây là cái chúng tôi được trả công. Vì tôi có một đứa con gái sống ở Bergen và đội mũ, nên chắc là vì thế mà Inger phải đi tuốt xuống miền nam; đi Trondhjem mua mũ, hi hi!”

Isak đứng dậy định ra khỏi buồng. Nhưng Oline đã mở lòng ra rồi, đã mở khoá cái kho tối đen bên trong; ừ, bà ta toả ra những tia tối, cái bà Oline ấy. Ơn Trời, chẳng đứa con nào của bà ta có cái mặt rạch toác như một con rồng phun lửa, nói vậy đấy; mà có khi chúng nó chẳng vì thế mà kém đi. Không, chẳng phải ai cũng nhanh tay khéo léo đến thế trong việc tống khứ đứa con mình đẻ ra — bóp cổ nó trong nháy mắt…

“Liệu cái mồm,” Isak quát. Và để cho ý mình thật rõ ràng, hắn nói thêm: “Đồ mụ già trời đánh!”

Nhưng Oline chẳng định liệu cái mồm mình chút nào; chẳng chút nào, hi hi! Bà ta ngước mắt lên trời và bóng gió rằng cái môi sứt như môi thỏ thì có thể thế này thế nọ, nhưng xem chừng có kẻ đẩy nó đi xa quá, hi hi!

Rốt cuộc Isak hẳn cũng mừng vì ra khỏi nhà được yên lành. Mà hắn còn làm gì được ngoài việc mua giày cho Oline? Một kẻ cày ruộng nơi hoang dã; chẳng còn là một thứ thần thánh nào nữa, để có thể bảo kẻ ăn người ở của mình: “Đi đi!” Không có Oline thì hắn bó tay; bà ta làm gì nói gì cũng chẳng có gì phải sợ, và bà ta biết thế.

Đêm giờ lạnh hơn, trăng tròn; đất lầy cứng lại tới mức gần chịu được sức nặng, nhưng nắng lên thì lại tan ra, lại thành một vũng lầy không đi nổi. Một đêm rét Isak xuống làng đặt giày cho Oline. Hắn mang theo hai cái phô mai cho bà Geissler.

Nửa đường xuống làng đã có một kẻ khai hoang mới xuất hiện. Hẳn là một người khá giả, bởi gã đã gọi người dưới làng lên dựng nhà cho mình, và thuê người cày một khoảnh đất cát để trồng khoai; chính gã thì làm chẳng bao nhiêu. Người mới ấy là Brede Olsen, phụ tá của ông _Lensmand_, một người ta tìm tới khi cần đi mời thầy thuốc, hay khi cần chọc tiết một con lợn. Gã chưa đầy ba mươi, mà đã có bốn đứa con phải nuôi, chưa kể vợ gã, người mà chính cũng chẳng khác gì một đứa trẻ. Chao, rốt cuộc Brede có lẽ cũng chẳng khá giả gì; chạy ngược chạy xuôi làm đủ thứ việc vặt và đi thu thuế của những kẻ không chịu nộp thì kiếm được bao nhiêu. Vậy nên nay gã thử một canh bạc mới trên đất. Gã đã vay ngân hàng để lập nhà nơi hoang dã. Breidablik, gã đặt tên chỗ ấy như thế; và chính bà vợ ông _Lensmand_ Heyerdahl đã nghĩ ra cái tên lộng lẫy ấy.

Isak vội vã đi qua ngôi nhà, chẳng phí thì giờ ghé nhìn, nhưng qua ô cửa kính hắn thấy lũ trẻ đều đã dậy cả, dù trời còn sớm. Isak chẳng có thì giờ để mất, nếu muốn đêm sau trên đường về còn tới được tận đây, trong lúc đường còn cứng. Người sống nơi hoang dã có lắm điều phải nghĩ, phải tính toán và sắp xếp sao cho khéo nhất. Bây giờ chưa phải mùa bận nhất của hắn, nhưng hắn lo cho lũ trẻ ở nhà một mình với Oline.

Hắn vừa đi vừa nghĩ tới lần đầu tiên hắn đi qua lối này. Thời gian đã trôi, hai năm vừa rồi thật dài; ở Sellanraa đã có nhiều điều tốt lành, và cũng khối điều chẳng ra gì — ơ hầy, _Herregud_! Mà giờ đây lại có thêm một người nữa phát đất nơi hoang dã. Isak biết rõ chỗ ấy; đó là một trong những chỗ dễ chịu hơn mà chính hắn đã để ý trên đường lên, nhưng hắn đã đi xa hơn. Chỗ ấy gần làng hơn, đúng vậy, nhưng gỗ không tốt bằng; đất bằng phẳng hơn nhưng cằn hơn; mặt trên thì dễ làm, nhưng xuống sâu thì khó trị. Cái gã Brede ấy rồi sẽ thấy rằng muốn có một thửa ruộng cho hạt thì cần nhiều hơn là chỉ lật lớp đất lên. Mà sao gã không dựng thêm một cái chái nối từ đầu gác cỏ để chứa xe và nông cụ? Isak để ý thấy một cỗ xe bị bỏ ngoài sân, không che đậy, phơi giữa trời.

Hắn xong việc với người thợ giày, và vì bà Geissler đã dọn khỏi vùng, hắn bán mấy cái phô mai cho người coi cửa hàng. Chiều đến, hắn lên đường về. Sương giá giờ đã đanh hơn, đường đi tốt và chắc, nhưng dù vậy Isak vẫn lê bước nặng nề. Ai mà nói được bao giờ Geissler mới quay lại, khi vợ ông ta đã đi rồi; có khi ông ta chẳng bao giờ lên nữa? Inger thì ở xa lắc, mà thời gian cứ trôi…

Lúc về hắn không ghé nhà Brede; trái lại, hắn đi vòng thật xa, tránh khỏi chỗ ấy. Hắn chẳng thiết dừng lại nói chuyện với ai, chỉ lê bước đi tiếp. Cỗ xe của Brede vẫn phơi ngoài trời — gã định để đấy mãi à? Ừ thì, việc của gã. Chính Isak nay cũng đã có một cỗ xe riêng, và một cái chái để cất nó, nhưng chẳng vì thế mà vui hơn. Mái nhà của hắn chỉ còn là một nửa; đã có lúc nó là một mái nhà, nhưng nay chỉ còn một nửa.

Trời đã sáng bạch khi hắn trông thấy cơ ngơi của mình trên sườn đồi, và điều đó cũng làm hắn phấn lên đôi chút, mệt lử và kiệt sức như hắn sau bốn mươi tám tiếng trên đường. Nhà và các dãy chuồng, chúng vẫn đứng đó, khói cuộn lên từ ống khói; cả hai đứa nhỏ đều ở ngoài, và chạy xuống đón hắn khi hắn hiện ra. Hắn bước vào nhà, và thấy hai người Lapp đang ngồi. Oline giật mình đứng bật dậy: “Ơ, cậu về rồi à!” Bà ta đang pha cà phê trên bếp. Cà phê? _Cà phê_!

Isak đã để ý chuyện ấy từ trước. Hễ Os-Anders hay người Lapp nào khác ghé qua là sau đó Oline pha cà phê trong cái ấm nhỏ của Inger một thời gian dài. Bà ta làm thế lúc Isak ra rừng hay ra ruộng, và khi hắn bất ngờ vào nhà mà trông thấy thì bà ta chẳng nói gì. Nhưng hắn biết mỗi lần như thế mình lại nghèo đi một cái phô mai hay một bọc len. Và điều đáng ghi cho hắn là hắn không nhấc bổng Oline lên bằng mấy ngón tay mà bóp nát bà ta ra vì cái thói ti tiện ấy. Nói chung, Isak đang thật sự cố hết sức để làm mình thành một người tốt hơn, tốt hơn nữa, bụng hắn nghĩ gì thì chẳng biết, có thể vì muốn trong nhà được yên, hoặc vì hy vọng nào đó rằng Chúa sẽ sớm trả Inger về cho hắn. Hắn có phần mê tín và hay ngẫm ngợi về mọi sự; đến cả cái khôn ngoan nhà quê của hắn cũng có cái ngây thơ của nó. Đầu mùa thu năm ấy hắn thấy lớp cỏ trên mái chuồng ngựa bắt đầu tuột xuống phía trong. Isak nhai bộ râu một lúc, rồi mỉm cười như người hiểu ra một chuyện đùa, hắn gác mấy cây sào ngang qua để đỡ nó lên. Chẳng một lời cay đắng nào. Lại một chuyện nữa: cái lán hắn cất lương thực chỉ đơn giản dựng trên bốn chân đá cao ở góc, giữa chẳng có gì. Ít lâu sau, mấy con chim nhỏ bắt đầu tìm được đường chui vào qua những khe hở lớn trên vách, rồi mắc kẹt bay loạn bên trong, không ra được. Oline than rằng chúng mổ vào thức ăn và làm hỏng thịt, lại còn bậy bạ bẩn cả chỗ. Isak nói: “Ừ, tội cho mấy con chim bé, chui được vào mà không ra lại được.” Rồi giữa lúc mùa bận nhất, hắn trở thành thợ nề mà trám kín các khe hở trên vách.

Chỉ Trời biết trong bụng hắn nghĩ gì mà nhận mọi sự như thế; biết đâu hắn tưởng rằng nhờ hắn hiền lành mà Inger sẽ sớm được trả về cho hắn.