Phúc lành của đất — Chương 7: Quyển I · Chương VII
Chương 7 / 31 · Bài review Phúc lành của đất
Và ngày tháng trôi qua.
Một mùa đầy phúc cho đất, có nắng có mưa rào; mùa màng trông khá. Vụ cắt cỏ gần xong, và họ đã thu về một mẻ cỏ khô lớn; nhiều gần hơn chỗ họ có thể chứa. Có chỗ nhét dưới những mỏm đá nhô ra, chỗ nhét trong chuồng ngựa, chỗ nhét dưới sàn nhà; cái lán bên hông được dọn sạch mọi thứ để lấy chỗ chứa thêm cỏ. Chính Inger cũng làm từ sớm tới khuya, một người phụ tá và chỗ dựa trung thành. Isak tranh thủ mọi trận mưa để lợp thêm một hồi cho cái kho mới, và ít ra làm cho xong hẳn bức vách phía nam; hễ chỗ ấy xong là họ nhét vào bao nhiêu cỏ cũng được. Việc đang chạy; họ sẽ xoay xở được, khỏi lo!
Còn nỗi đau lớn và tai hoạ của họ — ừ, nó vẫn đó, việc đã làm rồi, và cái gì nó đem lại thì phải tới. Điều tốt phần lớn chẳng để lại dấu vết, nhưng điều ác thì bao giờ cũng sinh ra một cái gì. Isak nhìn nhận chuyện ấy tỉnh táo ngay từ đầu. Hắn chẳng nói năng to tát gì, chỉ hỏi vợ một câu đơn giản: “Sao mình lại đi làm thế?” Inger không đáp. Rồi ít lâu sau, hắn lại nói: “Bóp cổ nó — mình làm thế à?”
“Ừ,” Inger nói.
“Đáng lẽ mình đừng làm thế.”
“Ừ,” cô ta gật.
“Mà tôi chẳng hiểu nổi làm sao mình lại nhẫn tâm được đến thế.”
“Nó y hệt tôi,” Inger nói.
“Mình bảo sao?”
“Cái miệng nó.”
Isak nghĩ về điều đó một hồi lâu. “Ừ, thôi,” hắn nói.
Và lúc ấy chẳng ai nói thêm gì nữa; ngày tháng trôi đi, yên ả như cũ; còn cả đống cỏ phải thu về, mà vụ nào cũng nặng trĩu hiếm thấy, nên dần dần chuyện kia lùi vào phía sau trong đầu họ. Nhưng nó vẫn treo lơ lửng trên đầu họ, và trên cả cái trại này, không kém. Họ chẳng dám mong Oline giữ kín điều bí mật; mong thế thì quá đáng. Mà cho dù Oline không nói thì người khác cũng sẽ nói; những nhân chứng câm rồi sẽ tìm ra tiếng nói; những bức vách của ngôi nhà, những gốc cây quanh nấm mộ nhỏ trong rừng. Os-Anders người Lapp sẽ buông lời bóng gió; chính Inger sẽ để lộ ra, lúc ngủ hoặc lúc thức. Họ đã sẵn sàng cho điều tồi tệ nhất.
Isak nhìn nhận chuyện ấy tỉnh táo — còn biết làm gì khác? Giờ hắn đã hiểu vì sao lần sinh nào Inger cũng lo cho được ở lại một mình; ở một mình với nỗi sợ về hình hài đứa con, và một mình đối mặt với hiểm nguy chẳng có ai bên cạnh. Ba lần cô ta đã làm cùng một việc. Isak chậm rãi lắc đầu, chạnh thương cho cái số bạc của vợ — Inger tội nghiệp. Hắn biết chuyện người Lapp mang con thỏ tới, và hắn tha cho cô ta. Chuyện ấy dẫn tới một tình yêu lớn giữa hai người, một tình yêu dữ dội; họ xích lại gần nhau hơn trong cơn nguy. Inger đầy một thứ dịu dàng tuyệt vọng với hắn, còn cái gã to lớn nặng nề, kẻ khuân vác những gánh nặng ấy, thì thấy trong mình một cơn thèm và một nỗi khao khát không dứt với vợ. Mà Inger, tuy đi giày da như người Lapp, đâu phải một sinh vật nhỏ thó héo hắt như đàn bà xứ Lapp, mà là một người to lớn rực rỡ. Bấy giờ đang mùa hè, cô ta đi chân đất, đôi chân trần lộ ra gần tới đầu gối — Isak không sao rời mắt khỏi đôi chân trần ấy.
Suốt mùa hè cô ta đi đi lại lại mà hát mấy khúc thánh ca, và dạy Eleseus đọc kinh; nhưng trong lòng cô ta lớn dần một mối hận không mấy Cơ Đốc với hết thảy người Lapp, và ai đi ngang cô ta cũng nói thẳng đủ để họ hiểu. Biết đâu lại có kẻ sai họ tới nữa; rất có thể trong bao họ lại có một con thỏ như lần trước; cứ để họ đi đường họ, thôi chẳng nói nữa.
“Thỏ à? Thỏ nào?”
“Ơ, chắc bác chưa nghe cái lão Os-Anders làm gì dạo ấy?”
“Chưa.”
“Ừ thì tôi chẳng ngại ai biết — lão ấy lên đây mang một con thỏ, lúc tôi đang có mang.”
“Chao, thế thì kinh khủng quá! Rồi sao?”
“Rồi sao thì mặc kệ, bác cứ đi đi, thế thôi. Đây có miếng ăn, cầm lấy mà đi.”
“Cô có mẩu da thừa nào không, cho tôi vá lại cái giày?”
“Không! Nhưng tôi có cái gậy đây, không cút thì biết tay!”
Người Lapp thì xin xỏ khiêm nhường hết mức, nhưng cứ từ chối họ mà xem, họ trở mặt và doạ nạt. Một cặp vợ chồng Lapp với hai đứa con đi ngang qua trại; hai đứa nhỏ được sai lên nhà xin, rồi quay xuống bảo chẳng thấy ai quanh đó. Bốn người đứng đấy một lúc nói với nhau bằng tiếng của họ, rồi người đàn ông lên xem. Gã bước vào, rồi ở lại. Sau đó vợ gã lên, rồi tới lũ trẻ; cả nhà đứng bên trong ngưỡng cửa, nói tiếng Lapp. Người đàn ông thò đầu qua cửa ngó vào trong buồng; cũng chẳng có ai. Cái đồng hồ điểm giờ, và cả nhà đứng lắng nghe, ngạc nhiên.
Hẳn Inger đã linh cảm có người lạ quanh đây; cô ta hối hả từ sườn đồi chạy xuống, thấy người Lapp, mà lại là người Lapp lạ nữa, bèn hỏi thẳng họ làm gì ở đó. “Các người vào đây làm gì? Không thấy nhà chẳng có ai à?”
“Hừm…” người đàn ông nói.
“Ra ngay,” Inger lại nói, “rồi đi đường các người đi.”
Mấy người Lapp chậm chạp lê ra, không muốn đi. “Chúng tôi chỉ nghe cái đồng hồ của chị thôi,” người đàn ông nói; “nghe mà lạ, thật đấy.”
“Chị có mẩu bánh nào cho chúng tôi không?” vợ gã nói.
“Các người từ đâu tới?” Inger hỏi.
“Từ cái hồ bên kia. Chúng tôi đi suốt đêm.”
“Rồi giờ đi đâu?”
“Băng qua đồi.”
Inger sửa soạn cho họ ít thức ăn; lúc cô ta bưng ra, người đàn bà lại xin nữa: một mảnh vải làm mũ, một nhúm len, một mẩu phô mai — cái gì cũng được. Inger chẳng có thì giờ mà phí, Isak và lũ trẻ đang ngoài ruộng cỏ. “Đi ngay đi,” cô ta nói.
Người đàn bà chuyển sang nịnh. “Chúng tôi trông thấy cơ ngơi trên này của chị, với đàn gia súc — cả một bầy, như sao trên trời.”
“Ừ, kỳ diệu thật,” người đàn ông nói. “Chị có đôi giày cũ nào cho người túng thiếu không?”
Inger đóng cửa nhà rồi quay lên sườn đồi làm tiếp. Người đàn ông gọi với theo — cô ta vờ như không nghe, và cứ đi, chẳng đoái hoài. Nhưng cô ta nghe rất rõ: “Chị không muốn mua thỏ đấy chứ?”
Không thể nhầm được gã đã nói gì. Chính gã Lapp ấy có khi cũng nói một cách vô tội; có lẽ ai đó đã kể cho gã nghe. Hoặc có khi gã cố ý ác. Dù thế nào đi nữa, Inger nhận lấy câu đó như một lời báo trước — một tin nhắn về cái sắp tới…
Ngày tháng trôi đi. Hai kẻ khai hoang là những người khoẻ mạnh; cái gì phải tới thì sẽ tới; họ cứ làm việc của mình và chờ. Họ sống sát bên nhau như thú trong rừng; họ ngủ và ăn; năm đã đi xa tới mức họ đã thử khoai mới, thấy củ to và bở. Cái đòn sắp giáng xuống — sao mãi chưa tới? Đã cuối tháng Tám rồi, chẳng mấy nữa sang tháng Chín; liệu họ có được tha cho qua hết mùa đông? Họ sống trong một sự canh chừng thường trực; đêm nào cũng rúc sát vào nhau trong cái hang của mình, biết ơn vì một ngày nữa đã qua mà chưa có chuyện gì. Và cứ thế cho tới một hôm tháng Mười, khi ông _Lensmand_ lên với một người và một cái bao. Pháp luật bước qua ngưỡng cửa nhà họ.
Cuộc điều tra kéo dài một thời gian. Inger được gọi lên và hỏi cung riêng; cô ta chẳng chối gì. Nấm mộ trong rừng được mở ra, những gì bên trong được đưa đi, cái thi thể được gửi đi khám nghiệm. Cái thi thể bé nhỏ ấy — nó mặc chiếc áo rửa tội của Eleseus, và đội cái mũ có đính cườm.
Isak xem chừng đã tìm lại được tiếng nói. “Ừ,” hắn nói, “giờ thì nhà mình tệ hết mức có thể tệ rồi. Tôi đã nói rồi — đáng lẽ mình đừng bao giờ làm thế.”
“Ừ,” Inger nói.
“Mình làm thế nào?”
Inger không đáp.
“Mà mình nỡ lòng nào…”
“Trông nó y hệt tôi. Thế là tôi vặn ngoẹo mặt nó đi.”
Isak chậm rãi lắc đầu.
“Rồi thì nó chết,” Inger nói tiếp, bắt đầu khóc.
Isak lặng thinh một lúc. “Thôi, thôi, giờ khóc thì cũng muộn rồi,” hắn nói.
“Nó có tóc nâu,” Inger nức nở, “ở đây, chỗ sau gáy…”
Và lại chẳng ai nói thêm gì nữa.
Thời gian trôi như cũ. Inger không bị giam; pháp luật khoan dung. _Lensmand_ Heyerdahl hỏi cô ta như thể đang nói chuyện với bất cứ ai, và chỉ bảo: “Đáng tiếc là những chuyện như thế lại xảy ra.” Inger hỏi ai đã tố giác mình, nhưng ông _Lensmand_ đáp rằng chẳng có ai cụ thể cả; nhiều người đã nói về chuyện ấy, và ông ta nghe được từ mấy phía. Chẳng phải chính cô ta đã kể gì đó cho mấy người Lapp đấy sao?
Inger — ừ, cô ta có kể cho mấy người Lapp về Os-Anders, rằng lão ta đã lên đây mang một con thỏ rừng mùa hè ấy, khiến đứa con trong bụng cô ta bị sứt môi như môi thỏ. Mà chẳng phải chính Oline là người sai lão mang con thỏ đó sao? — Ông _Lensmand_ chẳng biết gì về chuyện ấy. Nhưng dù sao thì ông ta cũng chẳng thể nghĩ tới việc ghi cái mê tín tối tăm ấy vào báo cáo của mình.
“Nhưng mẹ tôi cũng trông thấy một con thỏ ngay trước khi tôi ra đời,” Inger nói…
Cái kho đã xong; một chỗ rộng lớn, có ngăn chứa cỏ hai bên và sân đập lúa ở giữa. Cái lán và những chỗ chắp vá khác giờ đã dọn trống, tất cả cỏ khô đã đưa vào kho; lúa đã gặt, phơi thành đống, rồi chở về. Inger nhổ cà rốt và củ cải. Mùa màng của họ giờ đã vào hết. Và lẽ ra mọi sự có thể yên ổn với họ — họ có tất cả những gì cần dùng. Isak lại bắt đầu vỡ đất mới trước khi sương giá xuống, để làm một thửa lúa lớn hơn; Isak là một kẻ cày ruộng. Nhưng đến tháng Mười một, một hôm Inger nói: “Giờ nó được sáu tháng rồi, và đã biết cả nhà.”
“Nói chuyện ấy bây giờ thì ích gì,” Isak nói.
Mùa đông đến, Isak đập lúa trên cái sân đập mới, Inger thường phụ hắn, cánh tay cũng nhanh việc như tay hắn, còn lũ trẻ chơi trong những ngăn cỏ hai bên. Hạt mẩy và đẹp. Đầu năm mới đường sá tốt, Isak bắt đầu chở từng xe củi xuống làng; giờ hắn đã có mối quen, và củi hong nắng mùa hè bán được giá. Một hôm hắn và Inger bàn nhau rằng nên bắt con bê đực đẹp của Sừng Vàng, dắt xuống cho bà Geissler, kèm thêm một cái phô mai. Bà ấy mừng lắm, và hỏi giá bao nhiêu.
“Chẳng bao nhiêu cả,” Isak nói. “Ông _Lensmand_ đã trả trước rồi.”
“Trời ban phúc cho ông ấy, ông ấy trả rồi à?” bà Geissler nói, cảm động khi nghĩ tới điều đó. Bà gửi lại đồ cho Eleseus và Sivert — bánh, sách tranh và đồ chơi. Isak về, Inger nhìn thấy mấy thứ ấy thì quay mặt đi mà khóc.
“Sao thế?” Isak hỏi.
“Chẳng sao,” Inger đáp. “Chỉ là — giờ nó vừa tròn một tuổi, và đã trông thấy được hết những thứ này.”
“Ừ, nhưng mình biết nó thế nào rồi mà,” Isak nói, cốt để an ủi. “Với lại rốt cuộc có khi mình thoát nhẹ hơn mình tưởng. Tôi đã dò ra được giờ Geissler ở đâu.”
Inger ngước lên. “Nhưng cái đó thì giúp được gì cho nhà mình?”
“Tôi chẳng biết…”
Rồi Isak chở lúa tới cối xay xay ra, và mang bột về. Rồi hắn lại thành tiều phu, đốn củi sẵn cho mùa đông sang năm. Đời hắn tiêu vào hết việc này tới việc kia, theo mùa; từ ruộng vào rừng, rồi từ rừng lại ra ruộng. Hắn đã làm ở chỗ này sáu năm rồi, Inger thì năm năm; lẽ ra mọi sự có thể yên ổn, giá được để cho yên. Nhưng không được. Inger dệt vải và trông nom gia súc; và cô ta cũng thường được nghe hát thánh ca, nhưng đó là một lối hát thảm hại; cô ta như một cái chuông không có lưỡi.
Đường vừa đi được là cô ta bị gọi xuống làng để thẩm vấn. Isak phải ở lại nhà. Và ở lại một mình như thế, hắn nảy ra ý định sang Thuỵ Điển tìm Geissler; ông _Lensmand_ cũ đã tử tế với họ, có khi vẫn còn giơ tay giúp được người nhà Sellanraa cách nào đó. Nhưng khi Inger về, chính cô ta đã hỏi han và biết ít nhiều về bản án có thể sẽ ra sao. Nói cho đúng luật thì đó là tù chung thân, Điều I. Nhưng… Rốt cuộc thì cô ta đã đứng ngay giữa toà mà thú nhận trơn tru. Hai nhân chứng từ dưới làng nhìn cô ta thương hại, còn quan toà thì hỏi han tử tế; nhưng dù sao đi nữa, cô ta chẳng phải đối thủ của những cái đầu sáng láng của pháp luật. Với người quê mùa thì luật sư là bậc lớn; họ dẫn được điều này khoản nọ; họ đã học thuộc lòng những thứ ấy, sẵn sàng tuôn ra bất cứ lúc nào. Chao, họ đúng là bậc lớn. Mà ngoài cái mớ hiểu biết ấy, họ cũng không phải lúc nào cũng thiếu lương tri; đôi khi lại chẳng đến nỗi hoàn toàn vô tâm. Inger chẳng có gì phải phàn nàn về toà; cô ta không hề nhắc tới con thỏ, nhưng khi cô ta vừa khóc vừa trình bày rằng cô ta không thể tàn nhẫn với đứa con dị tật tội nghiệp của mình đến mức để nó sống, thì viên thẩm phán gật đầu, lặng lẽ và nghiêm trang.
“Nhưng,” ông ta nói, “chị thử nghĩ về chính mình xem; chị cũng sứt môi đấy thôi, mà nó có làm hỏng đời chị đâu.”
“Vâng, tạ ơn Chúa,” cô ta chỉ nói thế. Cô ta không kể ra được tất cả những gì mình đã âm thầm chịu đựng thuở còn bé, thuở còn là một cô gái.
Nhưng hẳn viên thẩm phán cũng hiểu được đôi phần điều ấy nghĩa là gì; chính ông ta có một bàn chân quặp, và không nhảy được. “Còn về bản án,” ông ta nói, “tôi cũng chưa biết. Thật ra thì phải là tù chung thân, nhưng… tôi chẳng dám nói, có lẽ ta xin giảm được, xuống mức hai hay mức ba, mười lăm tới mười hai năm, hoặc mười hai xuống chín. Đang có một uỷ ban họp để sửa bộ hình luật, làm cho nó nhân đạo hơn, nhưng quyết định cuối cùng thì chưa xong. Dù sao thì ta cứ hy vọng điều tốt nhất,” ông ta nói.
Inger trở về trong một trạng thái cam chịu đờ đẫn; người ta thấy chưa cần giam giữ cô ta trong lúc chờ. Hai tháng trôi qua; rồi một buổi chiều, khi Isak đi câu về, ông _Lensmand_ và người phụ tá mới của ông ta đã tới Sellanraa.
Inger vui vẻ, đón chồng tử tế, khen mẻ cá của hắn, dù hắn mang về chẳng được bao nhiêu.
“Cái tôi định hỏi là — có ai đến đây không?” hắn hỏi.
“Có ai đến à? Ơ, thì ai vào đây được?”
“Ngoài kia có vết chân mới. Người đi ủng.”
“Ơ — chỉ có ông _Lensmand_ với một người nữa thôi.”
“Họ muốn gì?”
“Chẳng cần hỏi mình cũng biết.”
“Họ đến bắt mình à?”
“Bắt tôi? Không, chỉ là chuyện bản án thôi. Chúa nhân từ, chẳng đến nỗi tệ như tôi lo.”
“À,” Isak nói, hăm hở. “Chắc không lâu lắm?”
“Không. Chỉ vài năm thôi.”
“Mấy năm?”
“Ơ, mình có thể thấy là nhiều. Nhưng dù sao tôi cũng tạ ơn Chúa.”
Inger không nói là bao lâu. Tối hôm ấy Isak hỏi khi nào họ đến giải cô ta đi, nhưng chuyện này thì cô ta không biết hoặc không chịu nói. Cô ta lại đâm ra tư lự, và nói về những gì sắp tới; xoay xở thế nào thì cô ta chẳng nghĩ ra — nhưng cô ta đoán rồi sẽ phải nhờ Oline lên. Mà Isak thì cũng chẳng có kế nào hay hơn.
Mà nói cho đúng, Oline dạo này ra sao? Năm nay bà ta chẳng lên như mọi khi. Chẳng lẽ bà ta định lánh mặt mãi, sau khi đã làm đảo lộn tất cả của họ? Mùa làm ăn trôi qua, mà Oline chẳng lên — hay bà ta chờ họ đi mà rước? Rồi bà ta sẽ tự lê lết lên thôi, chắc thế, cái cục mỡ ấy, cái con quái vật ấy.
Và rốt cuộc thì một hôm bà ta lên thật. Con người kỳ lạ — cứ như thể chẳng hề có chuyện gì xảy ra khiến hai bên phật lòng nhau; bà ta còn đang đan một đôi bít tất mới cho Eleseus, bà ta bảo thế.
“Tôi chỉ lên xem trên này thế nào thôi,” bà ta nói. Rồi hoá ra bà ta đã mang cả quần áo đồ đạc trong một cái bao, để sẵn trong rừng gần đó, sẵn sàng ở lại.
Tối ấy Inger kéo chồng ra một chỗ mà nói: “Mình chẳng nói gì đó về chuyện đi tìm Geissler à? Giờ đang nông nhàn.”
“Ừ,” Isak nói. “Đã có Oline lên rồi thì sáng mai tôi đi sớm được.”
Inger biết ơn, và cảm ơn hắn. “Với lại mang theo tiền,” cô ta nói — “tất cả chỗ tiền trong nhà.”
“Ơ, mình giữ tiền ở nhà không được à?”
“Không,” cô ta nói.
Inger gói ngay một gói thức ăn lớn, còn Isak thì trời chưa sáng đã dậy, sửa soạn lên đường. Inger ra bậc cửa tiễn hắn; cô ta không khóc, không than, chỉ nói:
“Họ có thể đến bắt tôi bất cứ ngày nào.”
“Mình không biết khi nào à?”
“Không, tôi chẳng nói được. Mà chắc chưa phải ngay bây giờ đâu, nhưng dù sao… Chỉ mong mình tìm được Geissler, có khi ông ấy nói được điều gì đó.”
Giờ Geissler làm được gì để giúp họ? Chẳng gì cả. Nhưng Isak vẫn đi.
Inger — chao, hẳn cô ta biết nhiều hơn những gì cô ta chịu nói. Cũng có thể chính cô ta đã cho gọi Oline. Khi Isak từ Thuỵ Điển về, Inger đã đi rồi, và Oline ở đó với hai đứa trẻ.
Đó là một tin tối đen cho một người trở về nhà. Giọng Isak to hơn thường lệ khi hắn hỏi: “Cô ấy đi rồi à?”
“Ừ,” Oline nói.
“Hôm nào?”
“Hôm sau ngày cậu đi.” Và giờ Isak đã hiểu rằng Inger cố ý đẩy hắn ra khỏi nhà — vì thế cô ta mới thuyết hắn mang tiền theo. Chao, nhưng lẽ ra cô ta có thể giữ lại một ít cho mình, cho chuyến đi dài dằng dặc ấy!
Nhưng lũ trẻ thì chẳng nghĩ được gì khác ngoài con lợn con Isak mang về. Đó là tất cả những gì hắn được cho ngần ấy nhọc nhằn; cái địa chỉ hắn có đã cũ, Geissler không còn ở Thuỵ Điển nữa mà đã về Na Uy và giờ đang ở Trondhjem. Còn con lợn thì Isak đã ôm nó suốt chặng đường, cho nó bú sữa bằng chai, và đêm ngủ giữa núi đồi thì cho nó nằm trên ngực. Hắn đã mong ngóng cái vẻ mừng rỡ của Inger khi thấy nó; giờ thì Eleseus và Sivert chơi với nó, và với chúng đó là một niềm vui. Còn Isak, nhìn chúng, thì tạm quên nỗi khổ của mình trong chốc lát. Hơn nữa, Oline có mang lời nhắn của ông _Lensmand_; Nhà nước rốt cuộc đã có quyết định về chuyện đất ở Sellanraa. Isak chỉ việc xuống văn phòng nộp tiền. Đó là tin lành, và cũng đủ giữ hắn khỏi rơi xuống đáy tuyệt vọng. Mệt rã rời, hắn vẫn gói ít thức ăn vào bao và lên đường xuống làng ngay. Có lẽ hắn còn chút hy vọng nhỏ nhoi được gặp Inger một lần nữa trước khi cô ta rời khỏi đó.
Nhưng hắn thất vọng. Inger đã đi rồi — tám năm. Isak thấy mình chìm trong một màn sương tối tăm và trống rỗng; trong tất cả những gì ông _Lensmand_ nói, hắn chỉ nghe được đôi ba chữ — đáng tiếc là những chuyện như thế lại xảy ra… mong rằng đó sẽ là một bài học cho chị ta… cải tà quy chính và sau này thành một người đàn bà tốt hơn, và đừng giết con mình nữa!
_Lensmand_ Heyerdahl đã lấy vợ năm trước. Vợ ông ta chẳng có ý định làm mẹ bao giờ — con cái thì thôi, xin kiếu! Và bà ta chẳng có đứa nào.
“Còn bây giờ,” ông _Lensmand_ nói, “là chuyện Sellanraa. Rốt cuộc tôi cũng đã có thể giải quyết dứt điểm. Bộ đã vui lòng chuẩn y việc bán khu đất ấy, ít nhiều theo những điều khoản tôi đề nghị.”
“Hừm,” Isak nói.
“Đó là một vụ kéo dài, nhưng tôi lấy làm hài lòng khi biết rằng những cố gắng của mình không hoàn toàn vô ích. Những điều khoản tôi đề xuất đã được chấp thuận gần như không sót điều nào.”
“Không sót điều nào,” Isak nói, rồi gật đầu.
“Tờ khoán đây. Anh có thể đem đăng ký sang tên ở phiên đầu tiên.”
“Ừ,” Isak nói. “Thế phải nộp bao nhiêu?”
“Mười _Daler_ một năm. Bộ có sửa đổi chút ít ở chỗ này — mười _Daler_ mỗi năm thay vì năm. Tôi cho là anh không phản đối chứ?”
“Miễn là tôi xoay xở nộp được…” Isak nói.
“Và trong mười năm.” Isak ngước lên, nửa như hoảng.
“Điều khoản là thế — Bộ nhất định vậy. Mà ngay cả thế thì cũng chẳng phải giá gì cho ngần ấy đất, đã phát đã cày như bây giờ.”
Isak có sẵn mười _Daler_ cho năm ấy — đó là tiền hắn bán được mấy xe củi, và mấy cái phô mai Inger đã để dành. Hắn nộp đủ số, và vẫn còn dư lại một ít.
“Cũng may cho anh là Bộ không nghe được chuyện vợ anh,” ông _Lensmand_ nói. “Không thì họ đã bán cho người khác rồi.”
“Ừ,” Isak nói. Hắn hỏi về Inger. “Có thật là cô ấy đi tám năm không ạ?”
“Đúng thế. Và không thay đổi được — pháp luật phải được thi hành. Nói cho đúng thì bản án ấy đã nhẹ khác thường rồi. Còn một việc anh phải làm ngay — là cắm ranh giới cho rõ giữa đất anh và đất Nhà nước. Một đường thẳng, đi đúng theo những mốc tôi đã cắm tại chỗ và ghi vào sổ của tôi hồi ấy. Gỗ dọn ra từ đường ranh giới ấy thì thuộc về anh. Rồi lúc nào đó tôi sẽ lên xem anh làm tới đâu.”
Isak lê bước về nhà.