Phúc lành của đất — Chương 14: Quyển I · Chương XIV

Chương 14 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Và thời gian trôi đi.

Ừ, rốt cuộc Eleseus cũng được gửi lên tỉnh; Inger thu xếp được chuyện ấy. Nó ở đó một năm, rồi chịu lễ kiên tín, và sau đó có một chân chính thức trong văn phòng viên kỹ sư, và mỗi lúc một khéo hơn trong việc viết lách các thứ. Xem những lá thư nó gửi về nhà — có khi viết bằng mực đỏ với mực đen, gần như tranh vẽ. Rồi cái lối nó nói, những chữ nó dùng. Thỉnh thoảng nó lại xin tiền, chút ít bù vào các khoản chi. Chẳng hạn nó phải có một cái đồng hồ và dây đeo, kẻo sáng ra ngủ quên mà tới sở muộn; lại tiền mua tẩu và thuốc lá, như những thư ký trẻ khác trên tỉnh vẫn có. Rồi tiền cho một thứ nó gọi là tiền tiêu vặt, và một thứ nó gọi là lớp học buổi tối, ở đó nó học vẽ, học thể dục và những môn khác hợp với thân phận và địa vị của nó. Nói chung, nuôi Eleseus giữ một chỗ làm trên tỉnh chẳng phải chuyện nhẹ nhàng.

“Tiền tiêu vặt?” Isak nói. “Là tiền để giữ trong túi chắc?”

“Hẳn là thế,” Inger nói. “Để khỏi trắng tay. Mà cũng chẳng bao nhiêu; thỉnh thoảng có một _Daler_.”

“Ừ, chính thế đấy,” Isak nói gay gắt. “Một _Daler_ lúc này, một _Daler_ lúc kia…” Nhưng cái gay gắt của hắn chẳng qua vì hắn nhớ chính Eleseus, và muốn nó về nhà. “Lâu dài thì thành ra quá nhiều _Daler_,” hắn nói. “Tôi không kham mãi thế được; mình viết thư bảo nó là hết rồi.”

“Ơ, thì thôi vậy!” Inger nói bằng giọng phật ý.

“Còn thằng Sivert — nó được bao nhiêu tiền tiêu vặt?”

Inger đáp: “Mình chưa bao giờ lên tỉnh, nên mình chẳng biết những chuyện ấy. Sivert thì cần gì tiền tiêu vặt. Mà nói tới tiền, thằng Sivert rồi cũng chẳng đến nỗi nào khi ông chú Sivert của nó chết.”

“Mình chẳng biết được.”

“Ừ, nhưng tôi biết.”

Mà câu ấy cũng có phần đúng; ông chú Sivert đã nói gì đó về chuyện để thằng Sivert bé làm người thừa kế. Ông chú Sivert đã nghe chuyện Eleseus và những việc lớn lao của nó trên tỉnh, mà chuyện ấy chẳng làm ông vui; ông gật gù cắn môi, lẩm bẩm rằng một đứa cháu được đặt theo tên mình — đặt theo tên ông chú Sivert — thì chẳng nên phải thiếu thốn. Nhưng cái gia tài mà người ta tưởng ông chú Sivert có là cái gì? Ngoài cái trại bỏ bê và cái vựa cá, ông có thật cái đống tiền của mà thiên hạ vẫn nghĩ không? Chẳng ai nói chắc được. Mà ngoài chuyện đó, chính ông chú Sivert lại là một người cố chấp; ông nhất định đòi thằng Sivert bé phải tới ở với ông. Với ông thì đó là chuyện thể diện; ông sẽ nhận thằng Sivert bé và lo cho nó, như viên kỹ sư đã làm với Eleseus.

Nhưng làm thế nào được? Gửi thằng Sivert bé rời khỏi nhà ư? — chuyện ấy chẳng bàn. Giờ nó là chỗ đỡ đần duy nhất còn lại cho Isak. Vả lại, chính thằng bé cũng chẳng thiết đi ở với ông chú nổi tiếng của mình; nó đã thử một lần, nhưng lại về. Nó đã chịu lễ kiên tín, vọt lên cao lớn, và lớn thêm; má nó đã lún phún râu, tay nó to bè, một đôi nô lệ sẵn lòng. Và nó làm việc như một người đàn ông.

Isak khó lòng dựng nổi cái kho mới nếu chẳng có Sivert giúp — nhưng nay nó đứng đó, có cầu dẫn có lỗ thông hơi đủ cả, to như cái kho ở nhà xứ. Đúng là nó chỉ là một cái nhà nửa khung gỗ đóng ván bao ngoài, nhưng dựng cực chắc, có nẹp sắt ở các góc, và ốp ván dày một tấc từ chính xưởng cưa của Isak. Mà Sivert đã đóng vào đó chẳng ít đinh, và nâng những cây dầm nặng cho bộ khung tới suýt ngất. Sivert hợp với bố nó, và làm bền bỉ bên cạnh bố; nó cùng một thứ chất liệu. Vậy mà nó vẫn chưa cao đạo tới mức khinh những lối giản dị như leo lên sườn đồi hái cúc ngải mà xoa cho thơm để đi nhà thờ. Leopoldine mới là đứa hay có những ý ngông trong đầu, mà điều đó cũng tự nhiên thôi, nó là con gái, lại là con gái duy nhất. Mùa hè ấy, xin lỗi chứ, nó phát hiện ra rằng tối đến nó chẳng ăn nổi bát cháo nếu không có mật mía — đơn giản là không nổi. Mà việc gì nó cũng chẳng làm được mấy.

Inger vẫn chưa bỏ cái ý thuê người làm; xuân nào cô ta cũng nêu lại chuyện ấy, và lần nào Isak cũng lì lợm phản đối. Bao nhiêu việc cắt may và dệt đẹp cô ta làm được, chưa kể thêu giày vải, giá mà cô ta có thì giờ cho riêng mình! Mà dạo gần đây Isak đã bớt cứng rắn trong việc từ chối, dù vẫn còn càu nhàu. Chao, lần đầu tiên! Hắn đã đọc cả một bài diễn văn dài về chuyện đó; chẳng phải như một vấn đề đúng sai hay lẽ phải, cũng chẳng phải vì kiêu hãnh, mà than ôi, vì yếu đuối, vì tức tối trước cái ý ấy. Nhưng nay xem chừng hắn đang nhượng bộ, như thể xấu hổ.

“Nếu bao giờ tôi được có người phụ trong nhà thì phải là bây giờ,” Inger nói. “Vài năm nữa là Leopoldine đủ lớn để làm cái này cái nọ rồi.”

“Phụ à?” Isak nói. “Mà mình cần phụ cái gì mới được chứ?”

“Cần cái gì à? Chính mình chẳng có người phụ đấy sao? Chẳng có thằng Sivert bên cạnh suốt đấy sao?”

Isak biết nói gì trước một lập luận vô nghĩa như thế? Hắn đáp: “Ừ thì; khi nào mình có một con bé lên đây, chắc hai người sẽ tự cày tự gieo tự gặt tự lo được hết. Rồi tôi với thằng Sivert cứ việc đi đường chúng tôi.”

“Cái đó thì tuỳ,” Inger nói. “Nhưng tôi chỉ nói thế này: giờ tôi có thể gọi con Barbro lên; nó đã viết thư về hỏi rồi.”

“Barbro nào?” Isak nói. “Con bé nhà lão Brede ấy à?”

“Ừ. Giờ nó đang ở Bergen.”

“Tôi chẳng cho con Barbro nhà lão Brede lên đây,” hắn nói. “Mình muốn lấy ai thì lấy, chứ nó thì không.”

Thế cũng còn hơn không; Isak từ chối Barbro; hắn không còn nói rằng nhà sẽ chẳng có người làm nào hết.

Barbro ở Breidablik chẳng phải hạng con gái Isak ưa; nó nông nổi và bất định như bố nó — mà có khi như cả mẹ nó nữa — một sinh vật cẩu thả, chẳng có tính nết vững vàng gì. Nó chẳng ở lâu nhà ông _Lensmand_; chỉ một năm. Sau khi chịu lễ kiên tín, nó sang giúp việc nhà ông nhà buôn, và ở đó thêm một năm nữa. Ở đây nó đâm ra mộ đạo và có đức tin, và khi Đội quân Cứu tế tới làng thì nó gia nhập, đi lại với một dải băng đỏ trên tay áo và ôm một cây đàn ghi-ta. Nó tới Bergen trong bộ đồ ấy, trên thuyền của ông nhà buôn — ấy là năm ngoái. Và nó vừa gửi về cho người nhà ở Breidablik một tấm ảnh chụp mình. Isak đã trông thấy; một cô tiểu thư lạ với mái tóc uốn cuộn lên và một sợi dây đồng hồ dài rủ xuống ngực. Bố mẹ nó hãnh diện về con bé Barbro, và đem tấm ảnh khoe với mọi người tới nhà; thật là oai khi thấy nó đã học được lối tỉnh thành và nên người trên đời. Còn về dải băng đỏ với cây đàn ghi-ta thì xem chừng nó đã bỏ.

“Tôi mang tấm ảnh đi khoe với bà _Lensmand_,” Brede nói. “Bà ấy chẳng nhận ra nó nữa.”

“Nó định ở lại Bergen à?” Isak hỏi, giọng ngờ vực.

“Ơ, trừ phi nó lên Christiania, biết đâu,” Brede nói. “Ở đây thì có gì cho nó làm? Giờ nó có chỗ mới rồi, làm quản gia cho hai ông thư ký trẻ. Hai ông ấy chẳng có vợ chẳng có đàn bà trong nhà, và họ trả nó hậu lắm.”

“Bao nhiêu?” Isak hỏi.

“Nó chẳng nói rõ trong thư. Nhưng chắc chắn phải khác hẳn cái mức người ta trả dưới này, cái đó thì rõ. Chao, nó còn được quà Nô-en, rồi quà những dịp khác nữa, mà chẳng bị trừ vào lương.”

“Ơ!” Isak nói.

“Ông chẳng muốn nhận nó lên nhà ông à?” Brede hỏi.

“Tôi à?” Isak nói, hoàn toàn bất ngờ.

“Không, dĩ nhiên rồi, hi hi! Chỉ là một cách nói thôi. Con Barbro ở chỗ nó là ổn rồi. Mà tôi định nói gì nhỉ? Ông có thấy đường dây có gì trục trặc lúc ông đi xuống không — cái điện tín ấy?”

“Điện tín à? Không.”

“Không, không… Từ hồi tôi tiếp quản thì nó chẳng mấy khi hỏng. Mà lại có cái máy riêng của tôi treo trên vách đây, hễ có chuyện gì là nó báo. Mấy hôm nữa tôi phải đi dọc tuyến một chuyến xem sao. Tôi có quá nhiều thứ phải cáng đáng và trông nom, một người làm chẳng xuể. Nhưng chừng nào tôi còn là Thanh tra ở đây, và giữ một chức vụ chính thức, thì dĩ nhiên tôi chẳng thể bỏ bê phận sự. Nếu không có cái điện tín thì dĩ nhiên… mà cũng có thể chẳng còn lâu nữa…”

“Sao thế?” Isak nói. “Ông định bỏ chắc?”

“Ừ thì tôi cũng chưa nói chắc được,” Brede nói. “Tôi chưa quyết hẳn. Người ta muốn tôi dọn về dưới làng.”

“Ai muốn ông về?” Isak hỏi.

“Ơ, tất cả. Ông _Lensmand_ muốn tôi về làm phụ tá lần nữa, ông bác sĩ muốn tôi đánh xe cho ông ấy, còn bà vợ cha xứ thì đã bảo mấy lần rằng bà ấy thấy thiếu tôi đỡ một tay, giá đường không xa đến thế. Cái vạt đồi ấy thế nào rồi, Isak — cái chỗ ông bán ấy? Ông có được nhiều như người ta đồn không?”

“Ừ, chẳng phải nói dối đâu,” Isak đáp.

“Nhưng mà đằng nào thì Geissler định làm gì với nó? Nó vẫn nằm đó — lạ thật! Năm này qua năm khác mà chẳng làm gì.”

Đó là chuyện lạ thật; chính Isak cũng thường thắc mắc về nó; hắn đã hỏi ông _Lensmand_ về chuyện ấy, và hỏi xin địa chỉ của Geissler, định viết thư cho ông ta… Ừ, đó là một bí ẩn.

“Cái đó thì tôi chịu,” Isak nói.

Brede chẳng giấu gì sự quan tâm của gã tới vụ bán đất ấy. “Người ta bảo trên ấy còn nhiều chỗ như thế nữa,” gã nói, “ngoài chỗ của ông. Biết đâu trong đó còn nhiều hơn ta biết. Tiếc là chúng ta cứ ngồi đây như súc vật câm mà chẳng biết gì cả. Tôi đã nghĩ tới chuyện một hôm nào đó tự lên xem.”

“Nhưng ông có biết gì về kim loại với những thứ ấy không?” Isak hỏi.

“Ơ, tôi cũng biết chút ít. Mà tôi cũng đã hỏi một hai người khác. Đằng nào thì tôi cũng phải tìm ra cái gì đó; tôi chẳng thể sống và nuôi cả nhà trên cái mảnh trại này. Đơn giản là không nổi. Ông thì lại khác, ông có ngần ấy gỗ với đất tốt phía dưới. Còn ở đây thì chỉ toàn bãi lầy.”

“Bãi lầy cũng là đất tốt đấy chứ,” Isak nói cộc. “Chính tôi cũng có.”

“Nhưng ở đây thì chẳng tháo nước được,” Brede nói… “Không làm được.”

Nhưng làm được. Trên đường xuống hôm ấy Isak để ý thấy có những khoảnh phát mới; hai chỗ ở thấp hơn, gần làng hơn, nhưng có một chỗ ở tít trên, giữa Breidablik và Sellanraa — ừ, giờ người ta đã bắt đầu làm trên đất này rồi; ngày xưa hồi Isak mới lên, tất cả đều nằm hoang. Mà ba người khai hoang mới ấy là dân từ vùng khác; những người có chút đầu óc trong sọ, xem chừng thế. Họ chẳng bắt đầu bằng việc đi vay tiền để dựng nhà; không, họ lên một năm làm việc cuốc xẻng rồi lại đi; biến mất như thể đã chết. Đó mới là lối làm đúng; đào mương trước, rồi mới cày và gieo. Axel Ström giờ ở gần đất Isak nhất, là láng giềng sát vách. Một gã khôn ngoan, chưa vợ, gã từ Helgeland tới. Gã đã mượn cái bừa mới của Isak để vỡ đất, và mãi tới năm thứ hai mới dựng một cái lán cỏ và một túp lều đất cho mình với đôi con vật. Gã đặt tên chỗ ấy là Maaneland, vì trông nó đẹp dưới ánh trăng. Chính gã thì chẳng có đàn bà trong nhà, và mùa hè thì khó kiếm người giúp vì nằm xa quá, nhưng gã lo liệu đúng cách, cái đó thì chẳng nghi ngờ gì. Chẳng như Brede Olsen, dựng nhà trước, rồi kéo cả một gia đình đông đúc con lớn con bé lên, mà chẳng có đất cũng chẳng có gia súc để nuôi họ. Brede Olsen thì biết gì về chuyện tháo nước bãi lầy và vỡ đất mới?

Gã chỉ biết cách phí thì giờ mà lêu lổng, cái gã Brede ấy. Một hôm gã đi ngang Sellanraa, lên đồi — đơn giản là để tìm kim loại quý. Chiều ấy gã quay xuống; gã bảo chưa tìm ra gì rõ rệt, nhưng có mấy dấu hiệu — rồi gã gật gù. Gã sẽ sớm lên lại, và đi khắp vùng đồi cho kỹ, sang tận phía Thuỵ Điển.

Và quả nhiên Brede lại lên. Hẳn gã đã đâm mê cái việc ấy; nhưng lần này gã gọi đó là việc điện tín — phải lên xem lại toàn tuyến. Trong lúc ấy vợ con gã ở nhà lo cái trại, hoặc mặc cho nó tự lo lấy. Isak phát chán ngấy những lần Brede ghé, và cứ gã tới là hắn ra khỏi buồng; rồi Inger và Brede ngồi đó nói chuyện rất tương đắc. Họ có gì mà nói với nhau? Brede thường xuống làng, và bao giờ cũng có tin gì đó về các ông lớn dưới đó để kể; còn Inger thì lúc nào cũng có thể rút ra chuyến đi Trondhjem nổi tiếng của mình và những ngày ở đó. Cô ta đã trở nên lắm lời trong những năm xa nhà, và lúc nào cũng sẵn sàng tán gẫu với bất cứ ai. Không, cô ta không còn là cái Inger thẳng thắn, giản dị của ngày trước nữa.

Con gái và đàn bà lên Sellanraa liên tục để nhờ cắt cho một tấm vải, hay nhờ chạy nhanh một đường viền trên máy, và Inger tiếp đãi họ chu đáo. Oline cũng lại tới, hẳn chẳng nhịn được; tới cả xuân lẫn thu; ăn nói ngọt ngào, mềm như bơ, và giả dối từ trong ra ngoài. “Chỉ ghé xem trên này thế nào thôi,” lần nào bà ta cũng nói thế. “Với lại tôi cứ nhớ hai thằng bé quá, tôi thương chúng nó lắm, những thiên thần bé bỏng hồi ấy. Ừ, giờ chúng nó là những chàng trai lớn rồi, nhưng lạ thật… tôi chẳng quên được cái thuở chúng nó còn bé mà tôi trông nom. Rồi cậu thì cứ dựng dựng mãi, làm cả chỗ này thành một cái thị trấn. Sắp có cả một cái chuông để giật nữa chắc, trên mái kho, như ở nhà xứ ấy?”

Có lần Oline lên và dẫn theo một người đàn bà nữa, và hai người cùng Inger có một ngày thật vui. Càng đông người ngồi quanh thì Inger càng hăng may vá và cắt xén, làm ra vẻ ta đây, vung cây kéo và đưa cái bàn là. Nó làm cô ta nhớ tới nơi cô ta đã học được tất cả — ở đó trong các xưởng lúc nào cũng đông người. Inger chẳng giấu giếm gì việc mình lấy đâu ra chữ nghĩa và tài nghệ; ấy là từ Trondhjem. Nghe thì gần như thể cô ta chẳng hề ngồi tù theo lối thường tình, mà là đi học, ở một học viện, nơi người ta học may, học dệt, học viết, học làm đầu và nhuộm — tất cả những gì cô ta đã học ở Trondhjem. Cô ta nói về nơi ấy như nói về một mái nhà; ở đó cô ta quen bao nhiêu người, các ông giám thị, các bà quản, các người coi sóc, quay về đây thì buồn tẻ và trống rỗng, mà bị cắt lìa hẳn khỏi cái đời sống và cái xã hội cô ta đã quen thì thật khó. Cô ta thậm chí còn làm ra vẻ bị cảm — chịu chẳng nổi cái khí lạnh buốt ở đây; suốt bao năm sau khi về cô ta vẫn quá yếu chẳng làm nổi việc ngoài trời quanh năm suốt tháng. Chính vì việc ngoài trời mà cô ta đáng lẽ phải có một người làm.

“Ừ, lạy Chúa,” Oline nói, “mà sao cô lại chẳng có một người làm chứ, khi cô có của, có chữ nghĩa, có cả một cái nhà to đẹp đủ thứ!”

Gặp được sự đồng cảm thì cũng dễ chịu, và Inger chẳng chối. Cô ta đạp máy khâu tới rung cả nhà, còn cái nhẫn trên ngón tay thì lấp lánh.

“Đấy, chị tự nhìn mà xem,” Oline nói với người đàn bà đi cùng. “Tôi nói đúng chứ, Inger nó đeo nhẫn vàng trên tay.”

“Bác muốn xem không?” Inger hỏi, rồi tháo nhẫn ra.

Xem chừng Oline vẫn còn ngờ; bà ta xoay cái nhẫn trong tay như con khỉ cầm quả hạch, xem cái dấu đóng. “Ừ, tôi vẫn bảo mà; Inger với ngần ấy của cải giàu sang.”

Người đàn bà kia cầm cái nhẫn một cách sùng kính, và mỉm cười khiêm nhường. “Chị cứ đeo thử một lúc nếu chị thích,” Inger nói. “Đừng sợ, nó chẳng gãy đâu.”

Và Inger thì niềm nở và tử tế. Cô ta kể cho họ nghe về nhà thờ lớn ở Trondhjem, và mở đầu như thế này: “Chắc hai bác chưa thấy nhà thờ lớn ở Trondhjem? Không, hai bác chưa tới đó!” Nghe cái cách cô ta ca ngợi, khoe khoang, kể ra chiều cao chiều rộng, thì cứ như đó là nhà thờ của riêng cô ta; thật là một kỳ quan! Bảy ông cha có thể cùng lúc đứng đó giảng đạo mà chẳng ai nghe thấy ai. “Rồi chắc hai bác cũng chưa thấy giếng Thánh Olaf? Nó ở ngay chính giữa nhà thờ, về một bên, mà là một cái giếng không đáy. Hồi chúng tôi tới đó, mỗi người cầm theo một hòn đá nhỏ mà thả xuống, mà nó chẳng bao giờ chạm đáy.”

“Chẳng bao giờ chạm đáy?” hai người đàn bà thì thào, lắc đầu.

“Mà trong cái nhà thờ ấy còn cả ngàn thứ khác nữa,” Inger reo lên thích thú. “Trước hết là cái rương bạc. Chính là cái rương bạc của Thánh Olaf. Còn Nhà thờ Cẩm thạch — đó là một nhà thờ nhỏ toàn bằng cẩm thạch nguyên khối — bọn Đan Mạch lấy mất của mình trong chiến tranh…”

Đã đến lúc hai người đàn bà phải về. Oline kéo Inger ra một chỗ, dắt cô ta ra kho thức ăn, nơi bà ta biết rõ chỗ cất tất cả phô mai, rồi khép cửa lại. “Có chuyện gì thế?” Inger hỏi.

Oline thì thào: “Cái lão Os-Anders ấy, giờ nó chẳng dám lên đây nữa. Tôi bảo nó rồi.”

“Ơ!” Inger nói.

“Tôi bảo nó cứ thử mà lên, sau cái việc nó làm với cô.”

“Ừ,” Inger nói. “Nhưng từ hồi ấy lão vẫn lên đây bao nhiêu lần rồi. Mà lão muốn lên thì lên, tôi chẳng sợ.”

“Ừ, đúng thế,” Oline nói. “Nhưng tôi biết những gì tôi biết, và nếu cô muốn thì tôi đứng ra tố cáo nó.”

“Ơ!” Inger nói. “Không, bác chẳng phải làm thế. Chẳng đáng.”

Nhưng cô ta cũng chẳng phật lòng gì khi có Oline về phe mình; dĩ nhiên việc ấy tốn của cô ta một cái phô mai, nhưng Oline cảm ơn hết lời: “Tôi vẫn bảo mà, tôi vẫn nói mãi: Inger nó cho bằng cả hai tay; chẳng bủn xỉn, chẳng tiếc rẻ gì! Không, có thể cô chẳng sợ lão Os-Anders, nhưng dù sao tôi cũng đã cấm nó lên đây. Đó là điều ít nhất tôi làm được cho cô.”

Inger bèn nói: “Mà lão có lên thì hại gì? Lão chẳng làm gì được tôi nữa.”

Oline dỏng tai lên: “Ơ, chắc chính cô cũng học được một cách rồi?”

“Tôi sẽ chẳng có con nữa,” Inger nói.

Và thế là hai bên hoà, mỗi người giữ một quân bài tốt như nhau: bởi Oline đứng đó, suốt từ đầu vẫn biết rằng Os-Anders người Lapp đã chết từ hôm qua…

* * * * *

Sao Inger lại nói câu ấy về chuyện không có con nữa? Cô ta có xích mích gì với chồng đâu, giữa hai người chẳng phải cảnh chó với mèo — còn xa mới thế. Mỗi người có cái nết nhỏ của mình, nhưng họ hiếm khi cãi nhau, và chẳng bao giờ cãi lâu; chóng làm lành. Và đã bao lần Inger bỗng lại y như ngày trước, làm hùng hục trong chuồng bò hay ngoài đồng; như thể cô ta lại tái phát cơn khoẻ mạnh. Và những lúc như thế Isak lại nhìn vợ bằng đôi mắt biết ơn; giá hắn là hạng người nói ngay được điều mình nghĩ, hắn đã có thể bảo: “Hừm. Thế này là thế nào đây, hả?” hay đại loại thế, chỉ cốt cho thấy hắn quý điều ấy. Nhưng hắn đợi lâu quá, và lời khen của hắn tới muộn. Thế nên hẳn Inger thấy chẳng bõ công, và chẳng buồn giữ tiếp.

Cô ta có thể sinh con tới ngoài năm mươi; mà bây giờ có lẽ cô ta còn chưa tới bốn mươi. Cô ta đã học được đủ thứ ở cái viện ấy — hay cô ta cũng đã học được cách giở trò với chính thân mình? Cô ta trở về được rèn giũa và giáo dục kỹ lưỡng đến thế sau bao lâu sống chung với những kẻ giết người khác; mà biết đâu cánh đàn ông cũng đã dạy cô ta cái gì đó — mấy người coi ngục, mấy ông thầy thuốc. Một hôm cô ta kể cho Isak nghe một ông thầy thuốc trẻ đã nói gì về cái tội nhỏ của cô ta: “Sao giết trẻ con lại phải là một tội hình sự — ừ, kể cả trẻ con lành lặn? Rốt cuộc chúng chẳng qua chỉ là những cục thịt.”

Isak hỏi: “Thế chính ông ta chẳng tàn nhẫn khủng khiếp lắm sao?”

“Ông ấy à!” Inger thốt lên, rồi kể ông ta đã tử tế với chính cô ta thế nào; chính ông ta đã nhờ một thầy thuốc khác mổ cái miệng cho cô ta và biến cô ta thành một con người. Giờ chỉ còn thấy một cái sẹo.

Chỉ một cái sẹo, phải. Mà cô ta cũng là một người đàn bà đẹp theo lối của mình, cao lớn và chẳng quá đẫy, tóc đen dày. Mùa hè phần lớn cô ta đi chân đất, váy vén cao; Inger chẳng ngại để lộ bắp chân. Isak trông thấy — mà ai chẳng trông thấy!

Không, họ chẳng cãi nhau. Isak chẳng có tài cãi nhau, còn vợ hắn thì đã nhanh mồm hơn trong việc đối đáp. Với Isak thì một trận cãi ra trò phải mất lâu mới lớn lên nổi, cái gốc cây nặng nề ấy; hắn thấy mình rối tung trong đám lời lẽ của cô ta, và hầu như chẳng nói được gì; vả lại, hắn yêu cô ta — Isak si mê ghê gớm. Mà cũng chẳng mấy khi hắn cần phải đáp. Inger chẳng phàn nàn; về nhiều mặt hắn là một người chồng tuyệt vời, và cô ta để hắn yên. Mà cô ta có gì phải phàn nàn nào? Isak chẳng phải hạng đàn ông đáng khinh; cô ta có thể đã lấy phải người tệ hơn. Mòn mỏi ư? Đúng là dạo này thỉnh thoảng hắn có dấu hiệu mệt, nhưng chẳng có gì nghiêm trọng. Hắn đầy sức khoẻ cũ và sức lực chưa hao, cũng như chính cô ta, và trong cái mùa thu của đời vợ chồng này hắn làm tròn phần mình ít nhất cũng âu yếm chẳng kém gì cô ta.

Nhưng chẳng có gì đặc biệt đẹp hay lớn lao ở hắn cả ư? Không. Và chính chỗ này là chỗ cô ta hơn. Thỉnh thoảng Inger cũng có thể thầm nghĩ rằng mình đã trông thấy những người đàn ông bảnh bao hơn; những quý ông đẹp trai mang gậy ba toong, mang khăn mùi soa và cổ áo hồ cứng — chao, những quý ông trên tỉnh! Và thế là cô ta giữ Isak đúng chỗ của hắn, đối với hắn, có thể nói, chẳng hơn gì hắn đáng được. Hắn chẳng qua chỉ là một anh nhà quê, một gã cục mịch nơi hoang dã; giá cái miệng cô ta ngay từ đầu đã như bây giờ thì cô ta đã chẳng bao giờ lấy hắn; chắc chắn thế. Không, cô ta đã có thể lấy được người khá hơn! Cái mái nhà hắn cho cô ta, cái đời sống hắn đem lại cho cô ta, thì cũng nghèo nàn đủ; ít ra cô ta đã có thể lấy một người cùng làng, và sống giữa hàng xóm, với một đám bạn bè, thay vì ở đây như một kẻ bị đày ải nơi hoang dã. Nơi này giờ chẳng hợp với cô ta nữa; cô ta đã học được cách nhìn đời khác đi.

Lạ thật, sao người ta lại có thể đi tới chỗ nhìn mọi sự khác đi được! Giờ Inger chẳng còn thấy vui thú gì khi ngắm một con bê mới; cô ta chẳng vỗ tay kinh ngạc khi Isak từ trên đồi xuống với một giỏ cá lớn; không, cô ta đã sống sáu năm giữa những thứ lớn lao hơn. Mà gần đây cô ta còn thôi cả cái giọng ngọt ngào như thiên đường khi gọi hắn vào ăn. “Cơm chín rồi, mình không vào à?” giờ cô ta chỉ nói thế. Mà nghe chẳng lọt tai. Thoạt đầu Isak hơi lấy làm lạ; đó là một lối nói kỳ cục; một lối nói khó chịu, bất cần, muốn-thì-ăn-không-thì-thôi. Và hắn đáp: “Ơ, tôi có biết cơm chín đâu.” Nhưng khi Inger vạch ra rằng đáng lẽ hắn phải biết, hoặc ít nhất cũng có thể đoán được theo mặt trời, thì hắn thôi chẳng nói nữa, và bỏ qua chuyện ấy.

Chao, nhưng có một lần hắn tóm được cô ta và dùng tới cái nắm ấy — ấy là khi cô ta định lấy trộm tiền của hắn. Chẳng phải Isak là kẻ bủn xỉn về khoản đó, nhưng số tiền ấy rõ ràng là của hắn. Chao, lần ấy suýt nữa thì tan tành khốn khổ cho cô ta! Nhưng ngay cả lần ấy thì về phía Inger cũng chưa hẳn là cái ác thật sự, triệt để; cô ta cần tiền cho Eleseus — cho thằng con vàng ngọc Eleseus của cô ta trên tỉnh, kẻ lại đang xin _Daler_. Chẳng lẽ để nó lên đó sống giữa toàn người sang trọng mà túi rỗng không? Nói cho cùng, cô ta có một trái tim người mẹ. Cô ta đã hỏi xin bố nó trước, và thấy chẳng ăn thua thì tự lấy. Isak đã ngờ trước hay tình cờ phát hiện ra thì chẳng rõ — dù thế nào thì cũng bị phát hiện. Và thình lình Inger thấy mình bị tóm cả hai cánh tay, thấy mình bị nhấc bổng khỏi sàn, rồi bị ném đánh phịch xuống sàn trở lại. Đó là một cái gì đó lạ lùng và khủng khiếp — như một trận lở tuyết. Tay Isak giờ chẳng yếu, chẳng mòn. Inger rên lên, đầu ngật ra sau, cô ta run bắn, và nộp lại tiền.

Ngay cả lúc ấy Isak cũng nói ít, dù Inger chẳng hề cản hắn nói. Cái hắn nói được thốt ra như trong một hơi thở rắn đanh: “Hự! Cô — cô chẳng đáng có mặt trong nhà này!”

Cô ta hầu như chẳng nhận ra hắn nữa. Chao, hẳn đó phải là nỗi cay đắng dồn nén đã lâu, chẳng còn nén nổi.

Một ngày khốn khổ, một đêm dài, và một ngày nữa sau đó. Isak ra khỏi nhà và nằm ngoài trời, mặc dù còn cỏ phải thu; Sivert đi với bố. Inger còn con bé Leopoldine và đàn gia súc làm bạn; nhưng dù vậy cô ta vẫn cô độc, khóc gần như suốt và lắc đầu với chính mình. Cả đời cô ta mới chỉ một lần thấy xúc động đến thế, và cái ngày này gợi lại điều đó; ấy là khi cô ta nằm trên giường mà bóp cổ một đứa bé sơ sinh.

Isak và con trai hắn ở đâu? Họ chẳng ngồi không; không, họ đã ăn trộm của mùa cỏ chừng một ngày một đêm, và đã đóng xong một chiếc thuyền trên cái hồ. Chao, một con thuyền thô sơ và trông nghèo nàn đủ, nhưng chắc và lành như mọi thứ họ làm; giờ họ đã có thuyền, và có thể đi thả lưới bắt cá.

Khi họ về nhà thì cỏ vẫn khô như cũ. Họ đã lừa được ơn trên bằng cách tin vào ơn trên, và chẳng mất gì; họ còn được lợi. Rồi Sivert vung một tay lên mà nói: “Kìa! Mẹ đã phơi cỏ!” Isak nhìn xuống các thửa ruộng và nói “Hừm.” Isak đã để ý thấy có chỗ cỏ đã được trở; giờ này Inger đáng lẽ phải ở nhà ăn bữa trưa. Thu cỏ vào được như thế thì thật là giỏi, sau khi hôm trước hắn đã mắng cô ta và nói “Hự!” Mà đó chẳng phải thứ cỏ nhẹ nhàng gì để trở; hẳn cô ta đã làm cật lực, lại còn bao nhiêu bò với dê phải vắt sữa… “Vào ăn gì đi,” hắn bảo Sivert.

“Thế bố không vào à?”

“Không.”

Một lát sau, Inger ra đứng khiêm nhường trên bậc cửa mà nói:

“Mình cũng nghĩ tới mình một chút đi — vào ăn miếng gì đi.”

Isak càu nhàu và nói “Hừm.” Nhưng dạo này việc Inger khiêm nhường về bất cứ chuyện gì là điều lạ đến nỗi cái lì lợm của hắn bị lung lay.

“Mình mà lắp giúp tôi đôi cái răng cào thì tôi lại trở cỏ tiếp được,” cô ta nói. Ừ, cô ta tới với chồng, với ông chủ của cái trại, để xin một điều, và biết ơn vì hắn chẳng khinh khỉnh quay đi.

“Mình làm đủ rồi,” hắn nói, “nào cào nào chở nào đủ thứ.”

“Không, chưa đủ đâu.”

“Đằng nào tôi cũng chẳng có thì giờ sửa cào lúc này. Mình thấy đấy, mưa sắp tới rồi.”

Rồi Isak đi làm việc của hắn.

Hẳn tất cả chỉ cốt để giữ sức cho cô ta; bởi vài phút bỏ ra sửa cái cào thì gấp mười lần cũng đáng nếu để Inger làm tiếp. Dù sao thì Inger cũng ra với cái cào nguyên như thế, và hăm hở lao vào trở cỏ; Sivert dắt ngựa với xe cỏ tới, và tất cả cùng xúm vào, đổ mồ hôi mà làm, và cỏ đã vào kho. Đó là một mẻ làm ra trò, và Isak lại một lần nữa nghĩ tới những quyền phép trên cao dẫn dắt mọi nẻo đường của chúng ta — từ chuyện ăn cắp một _Daler_ tới chuyện được một vụ cỏ. Vả lại, con thuyền vẫn nằm đó; sau ngót nửa đời người nghĩ ngợi, con thuyền đã xong; nó ở đó, trên cái hồ.

“Ơ hầy, _Herregud_!” Isak nói.