Phúc lành của đất — Chương 17: Quyển I · Chương XVII
Chương 17 / 31 · Bài review Phúc lành của đất
Eleseus về nhà.
Nó đã đi mấy năm nay, và giờ cao hơn bố, với đôi bàn tay dài và trắng và một lớp lông đen lún phún trên môi. Nó chẳng làm bộ làm tịch, mà xem chừng cố tỏ ra tự nhiên và tử tế; mẹ nó vừa ngạc nhiên vừa hài lòng. Nó ở chung gian buồng nhỏ với Sivert; hai anh em hợp nhau, và luôn bày trò chọc nhau cho vui. Nhưng dĩ nhiên Eleseus phải nhận phần mình trong việc dựng nhà; mà việc ấy làm nó mệt và khốn khổ, bởi nó hoàn toàn chẳng quen với bất cứ thứ mệt nhọc thể xác nào. Còn tệ hơn nữa khi Sivert phải đi mà bỏ hết lại cho hai người kia; lúc ấy Eleseus gần như vướng chân hơn là giúp được.
Mà Sivert đi đâu? Ơ, ấy là một hôm Oline băng qua đồi tới với lời nhắn của ông chú Sivert rằng ông sắp chết; và dĩ nhiên, Sivert trẻ phải đi. Đùng một cái thành ra rắc rối — chẳng còn lúc nào tệ hơn để Sivert phải bỏ đi. Nhưng đành chịu.
Oline nói: “Tôi chẳng có thì giờ mà chạy việc cho ai, thật đấy; nhưng dù sao… tôi cũng thương lũ trẻ nhà này, đứa nào cũng thương, mà thằng Sivert bé, nếu tôi giúp được nó lấy được cái gia tài…”
“Nhưng ông chú Sivert nặng lắm à?”
“Nặng à? Lạy Chúa, ông ấy lụi dần từng ngày.”
“Thế ông ấy nằm liệt à?”
“Liệt à? Sao cô lại nói nhẹ tênh phây phây về cái chết trước Toà phán xét của Chúa thế? Không, ông chú Sivert của cô sẽ chẳng nhảy chẳng chạy được nữa ở đời này đâu.”
Tất cả những cái ấy xem chừng có nghĩa là ông chú Sivert chẳng còn sống được bao lâu, và Inger nhất quyết bắt Sivert bé lên đường ngay.
Nhưng ông chú Sivert, cái lão ranh khó chừa ấy, chẳng nằm trên giường chết; thậm chí còn chẳng nằm liệt giường. Khi Sivert trẻ tới nơi, nó thấy cái trại nhỏ ấy lộn xộn và bừa bãi khủng khiếp; công việc vụ xuân còn chưa làm cho xong tử tế — đến phân chuồng mùa đông cũng chưa chở hết ra; nhưng còn về cái chết sắp tới thì nó chẳng thấy dấu hiệu nào. Ông chú Sivert giờ đã là một ông già, ngoài bảy mươi; ông có bệnh, và lụi cụi trong nhà quần áo xộc xệch, lại hay nằm bẹp một dạo. Ông cần người giúp nhiều việc trong nhà, chẳng hạn như mấy tấm lưới cá trích đang mục dần trong lán. Chao, nhưng dù thế thì ông cũng còn xa mới thoi thóp; ông vẫn ăn được cá muối chua và hút được tẩu.
Sivert tới đó được nửa tiếng và thấy tình hình thế nào rồi thì đã muốn quay về nhà.
“Về à?” ông già nói.
“Nhà cháu đang dựng nhà, mà bố cháu chẳng có ai đỡ đần cho tử tế.”
“Ơ!” ông chú nói. “Thế thằng Eleseus chẳng về à?”
“Có, nhưng anh ấy chẳng quen việc.”
“Thế mày còn tới đây làm gì?”
Sivert kể ông nghe chuyện Oline và lời nhắn của bà ta, rằng bà ta bảo ông chú Sivert sắp chết.
“Sắp chết?” ông già kêu lên. “Nó bảo tao sắp chết à? Cái con mụ già ngu ngốc trời đánh!”
“Ha ha ha!” Sivert nói.
Ông già nghiêm mặt nhìn nó. “Hả? Mày cười một người sắp chết à, mà lại là người mày được đặt tên theo!”
Nhưng Sivert còn quá trẻ để làm cái mặt nghĩa địa vì chuyện đó; nó xưa nay chẳng ưa ông chú mấy. Mà giờ nó muốn về nhà.
“Ơ, thế ra mày cũng tưởng thế?” ông già lại nói. “Tưởng tao thoi thóp, thế là mày mò tới, phải không?”
“Tại bà Oline bảo thế,” Sivert đáp.
Ông chú im một lúc, rồi lại nói: “Này. Mày mà vá lại tấm lưới của tao cho tử tế thì tao cho mày xem cái này.”
“Hừm,” Sivert nói. “Cái gì thế ạ?”
“Ừ thì mặc kệ,” ông già nói giọng cáu, rồi lại đi nằm.
Xem chừng đây sẽ là một việc dài. Sivert vặn vẹo khó chịu. Nó ra ngoài nhìn quanh chỗ ấy; mọi thứ bị bỏ bê không ai đoái hoài đến mức đáng xấu hổ; bắt tay vào làm ở đây thì vô vọng. Một lát sau nó vào, thấy ông chú đang ngồi dậy sưởi bên bếp lò.
“Thấy cái này không?” Ông trỏ một cái rương gỗ sồi đặt dưới sàn ngay chân mình. Đó là cái rương tiền của ông. Thật ra nó là một cái hộp có lót, làm để đựng chai, thứ mà các quan toà đi tuần và các ông lớn khác xưa vẫn mang theo khi đi khắp xứ, nhưng giờ trong đó chẳng có chai nào; ông già đã dùng nó đựng giấy tờ văn kiện hồi làm thủ quỹ tổng; giờ ông cất sổ sách và tiền trong đó. Người ta đồn rằng nó đầy của cải chẳng đếm xuể; dân làng vẫn lắc đầu mà nói: “Chà! Giá tôi có được bằng chỗ nằm trong cái rương lão Sivert!”
Ông chú Sivert lấy trong hộp ra một tờ giấy rồi trịnh trọng nói: “Mày đọc được chữ viết chứ hả?”
Đúng là Sivert bé chẳng phải tay cừ khôi gì trong khoản ấy, nhưng nó cũng đọc ra được đủ để biết rằng nó sẽ thừa hưởng tất cả những gì ông chú để lại khi ông chết.
“Đấy,” ông già nói. “Giờ thì mày muốn làm gì thì làm.” Rồi ông đặt tờ giấy trở lại rương.
Sivert chẳng lấy làm ấn tượng mấy; nói cho cùng, tờ giấy chẳng cho nó biết gì hơn những gì nó đã biết; từ hồi còn bé nó vẫn nghe nói rằng có ngày nó sẽ được những gì ông chú Sivert để lại. Được nhìn thấy kho báu thì lại là chuyện khác.
“Trong cái rương ấy chắc có khối thứ đẹp,” nó nói.
“Nhiều hơn mày tưởng,” ông già nói cộc.
Ông giận và thất vọng vì đứa cháu; ông khoá cái hộp lại rồi đi nằm. Ông nằm đó mà phun ra từng vòi thông tin. “Tao làm thủ quỹ tổng, giữ công quỹ cái làng này hơn ba chục năm; _tao_ chẳng cần phải xin phải lạy ai đưa tay ra giúp! Ai bảo con Oline, tao muốn biết, rằng tao nằm chờ chết? Tao muốn thì tao sai được ba người, xe với ngựa đi rước bác sĩ. Đừng có giở trò với tao, thằng nhãi! Xem chừng chẳng chờ nổi tới lúc tao đi. Tao đã cho mày xem cái văn tự và mày đã thấy, mà nó nằm trong rương — tao chỉ có thế để nói. Nhưng mày mà bỏ chạy mà để tao lại lúc này thì mày cứ nhắn với thằng Eleseus bảo _nó_ tới. Nó chẳng được đặt theo tên tao, chẳng mang cái tên trần thế của tao — thì cứ để _nó_ tới.”
Nhưng bất chấp cái giọng doạ nạt ấy, Sivert chỉ nghĩ một lát rồi nói: “Vâng, cháu sẽ bảo anh Eleseus tới.”
Oline vẫn còn ở Sellanraa khi Sivert về. Bà ta đã kịp ghé thăm phía dưới, tới chỗ Axel Ström và Barbro, rồi quay lại đầy những chuyện bí mật và thì thào. “Cái con Barbro ấy dạo này đẫy ra ghê lắm — Chúa biết là thế nào. Nhưng đừng nói là tôi bảo thế nhé! Kìa, Sivert về rồi à? Chắc chẳng phải hỏi tin làm gì? Ông chú Sivert đi rồi? Ừ thì, một ông già, một người đã lắm tuổi, đứng bên miệng huyệt rồi. Sao — chưa chết à? Ừ thì, ừ thì, chúng ta có nhiều điều phải tạ ơn lắm, thật là một lời trang nghiêm! Cô bảo tôi nói nhảm à? Chao, giá tôi chẳng bao giờ phải chịu tội gì hơn thế! Tôi biết đâu ông chú cô nằm đó mà giả vờ giả vịt, mà lừa dối trước mặt Chúa? Chẳng sống được lâu, tôi nói thế. Mà tới lúc ấy, trước Ngai vàng, tôi vẫn giữ lời ấy. Cô bảo sao? Ừ thì, chẳng phải chính ông ấy nằm đó trên giường, chắp tay lên ngực mà bảo rằng chẳng mấy nữa là xong đấy sao?”
Chẳng ai cãi lại Oline được, bà ta làm đối thủ hoa mắt bằng lời lẽ rồi quật họ ngã. Khi biết ông chú Sivert cho gọi Eleseus, bà ta cũng chộp lấy chuyện ấy mà xoay thành cái lợi của mình: “Đấy, xem tôi có nói nhảm không nào. Đây, lão Sivert gọi họ hàng tới, khao khát được nhìn thấy máu mủ ruột rà của mình; ừ, ông ấy gần đất rồi! Cháu chẳng thể chối được đâu, Eleseus; đi ngay bây giờ mà gặp ông chú lúc ông ấy còn hơi thở. Bác cũng đi lối ấy, bà cháu ta đi cùng.”
Oline chẳng rời Sellanraa mà không kéo Inger ra một chỗ để thì thào thêm về Barbro. “Đừng nói là tôi bảo nhé — nhưng tôi trông thấy dấu hiệu rồi! Mà giờ chắc nó sẽ thành vợ thành chủ cái trại ấy. Ừ, có những kẻ sinh ra để làm chuyện lớn, dù buổi đầu có nhỏ như cát biển. Mà ai ngờ được ở cái con Barbro ấy! Còn Axel thì khỏi ngờ, nó là đứa chịu khó và đang khá lên, chứ đất đai của cải rộng lớn đẹp đẽ như cô có ở đây thì — bên đồi chúng tôi chẳng biết tới, cô cũng biết đó là lời thật, Inger ạ, chính cô sinh ra ở đó mà. Con Barbro ấy nó có tí len trong rương; toàn len mùa đông thôi, mà tôi chẳng hỏi xin, nó cũng chẳng mời. Chúng tôi chỉ nói _Goddag_ với _Farvel_, mặc dù tôi biết nó từ hồi nó còn chập chững, suốt cái thời tôi ở đây Sellanraa vì cô đi vắng mà học chữ nghĩa ở cái Học viện…”
“Con Rebecca khóc kìa,” Inger nói, cắt ngang Oline. Nhưng cô ta vẫn cho bà ta một nắm len.
Rồi tới cả một bài diễn văn tạ ơn của Oline: ừ, chẳng phải đúng như bà ta đã nói với chính con Barbro về Inger đó sao, rằng chẳng tìm đâu ra người thứ hai cho người ta hào phóng như thế; ừ, cô ấy cho tới trụi cả người, cho tới mòn cả ngón tay, mà chẳng bao giờ than. Ừ, vào mà lo cho thiên thần bé bỏng ấy đi, mà trên đời chưa từng có đứa bé nào giống mẹ như con Rebecca — chưa từng. Inger có nhớ có hôm cô ta bảo mình sẽ chẳng có con nữa không? Chao, giờ thì cô ta thấy rồi! Không, nên nghe những người đã già và đã tự mình sinh con đẻ cái, bởi ai dò được đường lối của Chúa, Oline nói.
Rồi bà ta lạch bạch đi theo Eleseus lên xuyên qua rừng, người co rúm vì tuổi, xám xịt và tồi tàn, và mãi mãi hếch mũi đánh hơi mọi thứ, chẳng bao giờ mòn. Giờ tới chỗ lão Sivert, để cho lão biết bà ta, Oline, đã thuyết được Eleseus tới thế nào.
Nhưng Eleseus chẳng cần ai thuyết, chuyện ấy chẳng khó gì. Bởi, phải thấy rằng, rốt cuộc Eleseus cũng nên người hơn cái buổi nó bắt đầu; một chàng trai tử tế theo lối của mình, từ bé đã hiền lành và dễ tính, chỉ có điều sức vóc thì chẳng có gì ghê gớm. Chẳng phải vô cớ mà lần này nó không muốn về nhà; nó thừa biết mẹ nó đã ngồi tù vì tội giết con; trên tỉnh nó chẳng bao giờ nghe một lời nào về chuyện ấy, nhưng ở nhà dưới làng thì ai cũng nhớ. Mà cũng chẳng phải vô cớ mà nó đã sống với bạn bè thuộc hạng khác. Nó đã trở nên nhạy cảm và tinh tế hơn bao giờ hết. Nó biết rằng cái nĩa thật ra cũng cần y như con dao. Là người làm ăn, nó dùng những đơn vị của thứ tiền mới, trong khi ngoài chốn hoang này người ta vẫn đếm tiền bằng _Daler_ ngày xưa. Ừ, nó chẳng ngại đi bộ qua đồi sang vùng khác; ở đây, ở nhà, nó cứ phải nén cái hơn người của mình xuống. Nó cố hết sức để hoà theo mọi người, và nó làm được; nhưng lúc nào cũng phải canh chừng. Chẳng hạn, khi mới về Sellanraa hai tuần trước, nó mang theo cái áo khoác mùa xuân mỏng, dù đang giữa mùa hè; và khi treo nó lên đinh, nó có thể xoay ra sao cho lộ cái bảng bạc bên trong có in tên tắt của nó, nhưng nó không làm. Cây gậy cũng vậy — cây ba toong của nó. Đúng là thật ra đó chỉ là cán một cây ô, nó đã tháo bỏ khung sườn đi; nhưng ở đây nó chẳng dùng cây gậy như trên tỉnh, vung vẩy khắp nơi — chỉ cầm giấu sát bên đùi.
Không, chẳng lạ gì việc Eleseus băng qua đồi. Nó chẳng giỏi dựng nhà; nó giỏi viết chữ, một việc chẳng phải ai cũng làm được, nhưng ở nhà đây thì chẳng ai trong cả vùng coi trọng cái tài ấy, có lẽ trừ mẹ nó. Nó hớn hở lên đường qua rừng, đi trước Oline một quãng xa; nó có thể đợi bà ta ở trên cao. Nó chạy như một con bê; nó vội. Eleseus có phần đã lẻn khỏi trại; nó sợ bị trông thấy. Bởi nói cho thật, nó đã mang theo cả cái áo khoác mùa xuân lẫn cây ba toong cho chuyến đi. Bên kia đồi biết đâu có dịp gặp người, và được người ta trông thấy; có khi nó còn đi nhà thờ được. Thế là nó sung sướng đổ mồ hôi dưới sức nặng của một cái áo khoác mùa xuân chẳng cần thiết giữa cái nóng mặt trời.
Bên chỗ dựng nhà thì chẳng ai thấy thiếu nó, còn xa mới thế. Isak đã có Sivert về, mà Sivert thì trong cái việc ấy đáng cả một đám anh nó; nó làm được từ sáng tới tối. Họ chẳng mất bao lâu để dựng xong bộ khung; chỉ có ba bức vách, vì họ dựng nối ra từ cái nhà kia. Mà gỗ thì cũng đỡ vất vả hơn; họ xẻ ván ngay tại xưởng cưa, mà xẻ ván thì cũng có luôn phần bìa ngoài để lợp mái. Rồi một hôm đẹp trời cả ngôi nhà đã xong, hiện ra trước mắt họ, có mái, có sàn, và đã lắp cửa kính. Giữa hai mùa thì họ chẳng có thì giờ hơn thế; việc đóng ván bao và sơn thì phải đợi.
Và giờ Geissler tới với cả một đoàn tuỳ tùng lớn băng qua đồi từ Thuỵ Điển sang. Mấy người đi cùng ông ta cưỡi ngựa lông bóng mượt với yên vàng; hẳn phải là những khách du hành giàu có; những người đàn ông to béo nặng nề; những con ngựa oằn xuống dưới sức nặng của họ. Mà giữa những nhân vật lớn ấy thì Geissler đi bộ. Bốn vị quý ông và Geissler làm thành đoàn, rồi còn hai người hầu, mỗi người dắt một con ngựa thồ.
Mấy người cưỡi ngựa xuống ngựa trước trại, và Geissler nói: “Đây là Isak — đây là chính ngài Hầu tước của chốn này. _Goddag_, Isak! Tôi lại về rồi đấy, anh thấy chưa, đúng như tôi đã nói.”
Geissler vẫn như xưa. Dù ông ta đi bộ tới, cung cách ông ta chẳng lộ chút mặc cảm nào là mình kém những người kia; ừ, cái áo khoác sờn của ông ta rủ dài và thảm hại xuống tấm lưng đã co lại, nhưng ông ta vẫn làm ra vẻ đường bệ đủ. Ông ta còn nói: “Tôi với mấy vị đây lên đồi một chút — cho các vị ấy rút bớt cân cũng tốt.”
Bản thân mấy vị quý ông thì cũng dễ chịu và tử tế đủ; họ mỉm cười trước lời Geissler, và mong Isak thứ lỗi cho họ đã kéo nhau náo động lên đất của hắn thế này. Họ mang theo lương thực riêng, chẳng định ăn hết cửa hết nhà hắn, nhưng họ sẽ mừng nếu có một mái che đầu qua đêm. Có lẽ hắn cho họ ở trong cái nhà mới kia được chăng?
Nghỉ ngơi một lúc rồi, và sau khi Geissler vào trong với Inger và lũ trẻ, cả đoàn lên đồi và ở ngoài tới tận chiều. Thỉnh thoảng suốt buổi chiều ấy, người nhà Sellanraa lại nghe từ xa vọng về một tiếng nổ nặng khác thường, rồi đoàn người xuống với những bao mẫu quặng mới. “Đồng xanh,” họ nói, gật gù nhìn quặng. Họ nói với nhau dài dòng và đầy chữ nghĩa, vừa nói vừa tra một thứ bản đồ họ đã vẽ; trong bọn có một kỹ sư và một chuyên gia mỏ; một người xem chừng là chủ đất lớn hay giám đốc nhà máy. Họ nói về đường cáp treo và tời cáp. Geissler chêm vào chỗ này chỗ kia một câu, và lần nào cũng như đang cố vấn cho họ; họ hết sức chú ý tới những gì ông ta nói.
“Đất phía nam cái hồ là của ai?” một người hỏi Isak.
“Của Nhà nước,” Geissler đáp nhanh. Ông ta hoàn toàn tỉnh táo và sắc sảo, tay cầm cái văn tự Isak đã có lần ký bằng dấu của mình. “Tôi đã nói với các vị rồi — Nhà nước,” ông ta nói. “Chẳng cần hỏi lại. Các vị không tin tôi thì cứ việc tự đi mà tìm hiểu.”
Chiều muộn hơn, Geissler kéo Isak ra một chỗ mà nói: “Này, ta bán cái mỏ đồng ấy nhé?”
Isak nói: “Ơ, cái đó thì trước ông _Lensmand_ đã mua của tôi rồi, và đã trả tiền rồi.”
“Đúng,” Geissler nói. “Tôi mua mảnh đất. Nhưng khi ấy có một điều khoản rằng anh sẽ được một tỷ lệ trên khoản thu từ khai thác hay từ bán lại; anh có bằng lòng nhượng phần của anh không?”
Cái này thì quá sức hiểu của Isak, và Geissler phải giải thích. Isak chẳng khai mỏ được, hắn là nông dân và là kẻ phát rừng; mà chính Geissler cũng chẳng điều hành nổi một cái mỏ. Tiền, vốn? Chao, muốn bao nhiêu cũng có, khỏi lo! Nhưng ông ta chẳng có thì giờ, quá nhiều việc phải làm, lúc nào cũng chạy khắp xứ, trông nom tài sản trong nam, tài sản ngoài bắc. Và giờ Geissler đang tính bán lại cho mấy vị Thuỵ Điển đây; họ đều là họ hàng bên vợ ông ta, và đều giàu. “Anh hiểu ý tôi chứ?”
“Ông muốn làm thế nào thì tôi theo thế ấy,” Isak nói.
Lạ thật — cái sự tin cậy trọn vẹn ấy xem chừng an ủi Geissler một cách kỳ diệu giữa cái vẻ sờn rách của ông ta. “Ừ, tôi cũng chẳng chắc đó là điều tốt nhất anh có thể làm,” ông ta nói, tư lự. Rồi thình lình ông ta chắc chắn, và nói tiếp: “Nhưng nếu anh để tôi tự quyết theo ý tôi, thì dù sao tôi cũng lo cho anh được hơn là anh tự lo.”
“Hừm,” Isak mở lời. “Ông xưa nay vẫn là người tốt với tất cả chúng tôi ở đây…”
Nhưng nghe thế Geissler cau mày, và cắt ngang: “Được rồi, thế nhé.”
Sáng hôm sau mấy vị quý ông ngồi xuống viết. Đó là một việc nghiêm túc; trước hết là một hợp đồng bốn mươi ngàn _Kroner_ bán cái mỏ, rồi một văn tự theo đó Geissler chuyển toàn bộ số tiền cho vợ con mình. Isak và Sivert được gọi vào làm chứng cho các chữ ký. Xong xuôi, mấy vị quý ông muốn mua lại phần trăm của Isak với một cái giá nực cười — năm trăm _Kroner_. Nhưng Geissler chặn lại. “Đùa vừa thôi,” ông ta nói.
Chính Isak chẳng hiểu được mấy về toàn bộ chuyện ấy; hắn đã bán chỗ đó một lần và đã lấy tiền. Nhưng đằng nào hắn cũng chẳng thiết mấy cái _Kroner_ — nó chẳng phải tiền thật như _Daler_. Sivert thì trái lại, theo dõi việc ấy hiểu hơn. Nó nghĩ có cái gì đó khang khác trong cái giọng của cuộc thương lượng này; trông rất giống một chuyện nội bộ gia đình giữa các bên. Một trong mấy người lạ nói: “Geissler thân mến, anh chẳng nên để mắt đỏ thế, anh biết đấy.” Geissler đáp lại sắc lẻm, tuy vòng vo: “Không, tôi chẳng nên, tôi biết. Nhưng ở đời này chẳng phải ai cũng được cái mình nên có!”
Trông rất giống như mấy người anh em và họ hàng của bà Geissler đang tìm cách mua đứt ông chồng bà, tự bảo đảm cho mình khỏi những lần ông ta ghé thăm về sau, và tống khứ một người bà con phiền phức. Còn cái mỏ thì tự nó cũng đáng giá, hẳn thế, chẳng ai chối; nhưng nó nằm xa lắc, mà chính những người mua cũng nói rằng họ chỉ tiếp quản để bán lại cho ai đó có điều kiện khai thác hơn. Chuyện ấy chẳng có gì vô lý. Họ còn tuyên bố hết sức thẳng thắn rằng họ chẳng biết cứ để nguyên như thế thì bán được bao nhiêu; nếu được đưa vào khai thác thì bốn mươi ngàn có khi chỉ là một phần nhỏ giá trị của nó; còn nếu cứ để nó nằm đó thì tiền coi như vứt đi. Nhưng đằng nào họ cũng muốn có một quyền sở hữu sạch, không vướng mắc, và vì thế họ trả Isak năm trăm _Kroner_ cho phần của hắn.
“Tôi hành động thay mặt anh ấy,” Geissler nói, “và tôi sẽ chẳng bán phần của anh ấy với giá dưới mười phần trăm số tiền mua.”
“Bốn ngàn!” mấy người kia nói.
“Bốn ngàn,” Geissler nói. “Đất là của anh ấy, và phần của anh ấy là bốn ngàn. Nó chẳng phải của tôi, mà tôi được bốn mươi ngàn. Xin các vị ngẫm lại điều đó.”
“Vâng, nhưng — bốn ngàn _Kroner_!”
Geissler đứng dậy khỏi chỗ, và nói: “Thế, hoặc không bán.”
Họ nghĩ ngợi, thì thào với nhau, ra ngoài sân, kéo dài câu chuyện hết mức có thể. “Thắng ngựa đi,” họ gọi mấy người hầu. Một trong mấy vị quý ông vào chỗ Inger và trả hậu hĩnh cho cà phê, mấy quả trứng, và chỗ ngủ. Geissler đi đi lại lại với vẻ hờ hững, nhưng dù sao ông ta vẫn hoàn toàn tỉnh táo.
“Cái công trình dẫn nước năm ngoái ra sao?” ông ta hỏi Sivert.
“Nó cứu được cả vụ mùa.”
“Các anh đã bạt cái gò kia đi từ lần trước tôi lên đây, phải không?”
“Vâng.”
“Trại này phải có thêm một con ngựa nữa,” Geissler nói. Ông ta để ý mọi thứ.
Một trong mấy người lạ đi tới. “Nào, ta giải quyết cho xong việc này đi,” ông ta nói.
Tất cả lại vào ngôi nhà mới, và bốn ngàn _Kroner_ của Isak được đếm ra. Geissler được đưa cho một tờ giấy, ông ta nhét vào túi như thể nó chẳng có giá trị gì. “Giữ cho cẩn thận,” họ dặn ông ta, “rồi vài hôm nữa sổ ngân hàng sẽ được gửi tới cho vợ ông.”
Geissler nhăn trán rồi nói cộc: “Rất tốt.”
Nhưng họ vẫn chưa xong với Geissler. Chẳng phải ông ta mở miệng xin gì; ông ta chỉ đứng đó, và họ thấy ông ta đứng đó ra sao: có lẽ ông ta đã thoả thuận trước một chút gì cho riêng mình. Người cầm đầu đưa ông ta một xấp giấy bạc, và Geissler lại chỉ gật đầu mà nói: “Rất tốt.”
“Mà giờ tôi nghĩ ta nên uống với Geissler một ly,” người kia nói.
Họ uống, và thế là xong. Rồi họ từ biệt Geissler.
Đúng lúc ấy thì Brede Olsen đi lên. Gã lại muốn gì? Hẳn Brede đã nghe tiếng nổ mìn hôm trước và hiểu rằng có chuyện gì đó liên quan tới mỏ. Và giờ gã lên, cũng sẵn sàng bán một cái gì đó. Gã đi thẳng qua mặt Geissler, và hướng vào mấy vị quý ông; gã đã tìm được vài mẫu đá đáng chú ý quanh vùng, hết sức khác thường, có mẫu đỏ như máu, mẫu khác thì như bạc; gã biết từng kẽ từng góc trên đồi quanh đây và có thể đi thẳng tới từng chỗ; gã biết những mạch dài của một thứ kim loại nặng nào đó — dù nó là gì.
“Anh có mẫu không?” chuyên gia mỏ hỏi.
Có, Brede có mẫu. Nhưng sao các vị không lên xem ngay tại chỗ luôn? Chẳng xa đâu. Mẫu à — chao, cả bao, cả thùng đầy. Không, gã chẳng mang theo, chúng ở nhà — gã có thể chạy xuống lấy. Nhưng chạy lên đồi lấy thêm ít nữa thì nhanh hơn, chỉ cần các vị chờ.
Mấy người lắc đầu rồi đi tiếp.
Brede nhìn theo họ với vẻ bị oan. Nếu lúc nãy gã có thấy loé lên một tia hy vọng thì giờ nó tắt rồi; số phận chống lại gã, chẳng bao giờ có gì suôn sẻ. May cho Brede là gã chẳng dễ nản; gã nhìn theo mấy người cưỡi ngựa đi khuất, rồi rốt cuộc nói: “Chúc các vị lên đường vui vẻ!” Và chỉ có thế.
Nhưng giờ thái độ gã với Geissler, cấp trên cũ của gã, lại khiêm nhường trở lại, chẳng còn coi ông ta là người ngang hàng nữa, mà dùng những lối nói kính trọng. Geissler đã lấy ví ra vì lý do gì đó, và ai cũng thấy nó nhét đầy giấy bạc.
“Giá ông _Lensmand_ giúp tôi một chút,” Brede nói.
“Về nhà mà làm đất của anh cho tử tế,” Geissler nói, và chẳng giúp gã chút nào.
“Tôi thừa sức mang lên cả một xe cút kít mẫu đá, nhưng chẳng phải lên tận nơi mà xem trong lúc các vị ấy còn ở đây thì dễ hơn sao?”
Geissler chẳng đoái hoài tới gã, mà quay sang Isak: “Anh có thấy tôi để cái văn tự ấy đâu không? Nó quan trọng lắm — chuyện mấy ngàn _Kroner_ đấy. Chao, đây rồi, kẹp giữa xấp giấy bạc.”
“Mấy người ấy là ai thế?” Brede hỏi. “Đi dạo ngựa chơi hay sao?”
Hẳn Geissler đã trải một quãng căng thẳng, và giờ ông ta nguội xuống. Nhưng trong ông ta vẫn còn ít sinh khí và hăm hở, đủ để làm thêm một chút; ông ta lên đồi với Sivert, mang theo một tờ giấy lớn, và vẽ một tấm bản đồ vùng đất phía nam cái hồ — Trời biết trong bụng ông ta nghĩ gì. Mấy tiếng sau ông ta xuống trại, Brede vẫn còn đó, nhưng Geissler chẳng đoái hoài tới những câu gã hỏi; Geissler mệt, và khoát tay gạt gã sang bên.
Ông ta ngủ như đá tới sáng sớm hôm sau, rồi dậy cùng mặt trời, và lại là chính mình. “Sellanraa,” ông ta nói, đứng ngoài mà nhìn khắp bốn phía.
“Ngần ấy tiền,” Isak nói; “nghĩa là tôi được tất cả à?”
“Tất cả?” Geissler nói. “Trời ơi, anh không thấy đáng lẽ nó phải nhiều hơn thế nhiều lắm sao? Mà thật ra việc của tôi là phải trả anh, theo hợp đồng của chúng ta; nhưng anh thấy tình hình rồi đấy — chỉ có cách ấy mới xoay được. Anh được bao nhiêu nào? Chỉ một ngàn _Daler_, tính theo lối cũ. Tôi đã nghĩ rồi, giờ trại anh cần thêm một con ngựa nữa.”
“Ừ.”
“Ừ thì tôi biết có một con. Cái gã phụ tá của lão Heyerdahl ấy, gã để trại mình tan hoang; hắn thích chạy quanh siết nợ thiên hạ hơn. Hắn đã bán khối gia súc rồi, mà hắn cũng sẽ chịu bán con ngựa.”
“Tôi sẽ tới gặp gã về chuyện đó,” Isak nói.
Geissler khoát rộng tay một vòng, rồi nói: “Hầu tước, điền chủ — chính là anh đấy! Nhà cửa, gia súc, đất canh tác — họ có muốn cũng chẳng bỏ đói anh được!”
“Không,” Isak nói. “Chúng tôi có tất cả những gì mình có thể mong trong những thứ Chúa từng tạo ra.”
Geissler đi lăng xăng khắp nơi, rồi thình lình lẻn vào chỗ Inger. “Chị lo cho tôi ít thức ăn mang đi lần nữa được không?” ông ta hỏi. “Ít bánh quế thôi — đừng bơ với phô mai; trong đó đã đủ thứ ngon rồi. Không, cứ làm như tôi nói; tôi chẳng mang thêm được.”
Lại ra ngoài. Geissler không ngồi yên được, ông ta vào ngôi nhà mới rồi ngồi xuống viết. Ông ta đã nghĩ sẵn hết trong đầu, nên viết ra chẳng mất bao lâu. Gửi một lá đơn lên Nhà nước, ông ta giải thích với Isak bằng giọng cao đạo — “lên Bộ Nội vụ, anh hiểu chứ. Ừ, tôi có vô số thứ phải lo cùng lúc.”
Nhận gói thức ăn và cáo từ xong, ông ta bỗng như sực nhớ ra điều gì: “À, nhân thể, tôi e là tôi còn nợ anh chút gì từ lần trước — tôi đã cố ý rút một tờ bạc ra khỏi ví, rồi lại nhét vào túi áo gi-lê — sau đó mới thấy nó ở đấy. Nhiều việc phải nghĩ cùng lúc quá…” Ông ta đặt cái gì đó vào tay Inger rồi đi.
Ừ, Geissler đi, xem chừng cũng đủ hiên ngang. Chẳng chán nản gì, cũng chẳng gần đất chút nào; sau đó ông ta còn tới Sellanraa nữa, và phải nhiều năm sau ông ta mới chết. Lần nào ông ta đi, người nhà Sellanraa cũng thấy thiếu ông ta như thiếu một người bạn. Isak đã tính hỏi ông ta về Breidablik, xin ông ta cho lời khuyên, nhưng rốt cuộc chẳng hỏi. Mà biết đâu Geissler đã can hắn; đã cho rằng mua đất về khai khẩn rồi đem cho Eleseus là một việc liều; cho một anh thư ký.