Phúc lành của đất — Chương 2: Quyển I · Chương II

Chương 2 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Một hôm Inger gói ít thức ăn vào cái túi da bê. “Tôi tính sang bên nhà xem người ta sống ra sao.”

“Ừ,” Isak nói.

“Tôi phải bàn với họ đôi chuyện.”

Isak không ra tiễn ngay, mà đợi khá lâu. Và khi rốt cuộc hắn lệt bệt bước ra, mặt chẳng lộ chút lo lắng nào, chẳng chút khổ sở hay đầy sợ hãi nào, thì Inger đã gần khuất hẳn sau vệt rừng.

“Hừm!” Hắn hắng giọng rồi gọi với: “Mình có về không đấy?” Hắn không định hỏi câu ấy, nhưng…

“Về à? Ơ, mình nghĩ gì thế? Chứ tôi không về thì đi đâu.”

“Hừm.”

Thế là hắn lại một mình — ơ hầy, thôi thì…! Với sức vóc ấy và cái máu ham việc trong người, hắn không ngồi không ra vào quanh lều được; hắn xắn tay dọn gỗ, hạ những khúc thẳng, tốt, rồi đẽo phẳng hai mặt. Hắn làm việc ấy suốt ngày, rồi vắt sữa dê và đi ngủ.

Túp lều giờ trống trơ đến tội; một sự im lặng nặng nề bám vào vách cỏ và nền đất; một nỗi cô độc sâu và trang nghiêm. Guồng xe sợi và bàn chải len vẫn ở chỗ cũ; xâu hạt cườm cũng còn nguyên, cất trong cái túi treo dưới mái. Inger chẳng mang theo món đồ nào của mình. Nhưng Isak, chất phác đến mức khó tin, đâm sợ bóng tối trong những đêm hè sáng, thấy có Hình có Bóng lướt qua cửa sổ. Hắn dậy trước rạng đông, chừng hai giờ theo ánh sáng, ăn bữa sáng, một tô cháo đặc lớn đủ cho cả ngày, khỏi phí thì giờ nấu thêm. Buổi tối hắn vỡ thêm đất mới, để mở rộng thửa khoai.

Ba ngày hắn làm, lúc mai lúc rìu; mai là Inger về. Có một đĩa cá cho cô ta khi về thì cũng phải lẽ — nhưng đường thẳng ra hồ lại trùng đúng lối cô ta sẽ đi, mà như thế trông có vẻ… Nên hắn đi đường vòng; một đường mới, qua những quả đồi hắn chưa từng đặt chân. Đá xám và đá nâu, rải rác những mẩu đá nặng, nặng như đồng hay như chì. Trong những hòn đá nặng ấy có thể có lắm thứ; vàng hay bạc, biết đâu — hắn chẳng biết gì về những cái đó, mà cũng chẳng bận tâm. Hắn tới hồ; muỗi đang lên, và đêm ấy cá cắn câu rất khá. Hắn mang về một giỏ cá đủ để Inger tròn mắt! Sáng về theo lối cũ, hắn nhặt trên đồi đôi hòn đá nhỏ mà nặng; chúng màu nâu, đây đó lấm chấm xanh sẫm, và cầm trong tay thì nặng lạ lùng.

Inger chưa về, và không về. Đây là ngày thứ tư. Hắn vắt sữa dê như hồi còn sống một mình với chúng, chẳng ai đỡ đần; rồi hắn lên chỗ mỏm đá gần đó khuân đá xuống; từng đống lớn những khối và phiến chọn kỹ, để xếp tường. Hắn bận bù đầu với vô số việc.

Chiều thứ năm, hắn vào nghỉ mà lòng hơi sợ — nhưng bàn chải len và guồng xe sợi vẫn đó, xâu hạt cườm vẫn đó. Túp lều trống trơ đến tội, và chẳng một tiếng động; giờ khắc dài lê thê, và khi rốt cuộc hắn nghe có cái gì như tiếng chân ngoài kia, hắn tự nhủ đó chỉ là tưởng tượng, chẳng gì hơn. “Ơ hầy, _Herregud_!” hắn lẩm bẩm, lòng hoang vắng. Mà Isak thì không phải kẻ nói năng bừa bãi. Lại có tiếng chân giẫm bên ngoài, và một lát sau có cái gì lướt qua cửa sổ; cái gì đó có sừng, cái gì đó sống. Hắn bật dậy, ra cửa, và kìa, một cảnh tượng! “Trời hay quỷ,” Isak lẩm bẩm, mà hắn thì không nói năng bừa bãi. Hắn thấy một con bò; Inger và một con bò, đang khuất vào chuồng.

Nếu không phải chính hắn đứng đó mà nghe — Inger nói khe khẽ với con bò trong chuồng — thì hắn đã chẳng tin. Nhưng hắn đang đứng đó. Và bỗng một mối ngờ đen tối len vào đầu hắn: một người vợ khôn, ừ, một tay xoay xở tài tình — nhưng nói cho cùng… Không, thế thì quá lắm, chỉ có thể nói vậy. Guồng xe sợi với bàn chải len thì còn tạm; đến cả xâu hạt cườm nữa, dù chúng đẹp quá mức để có được một cách đường hoàng tự nhiên. Nhưng một con bò, nhặt được ngoài đường, biết đâu, hay ngoài đồng — chẳng mấy chốc người ta phát hiện mất và phải đi tìm.

Inger bước ra khỏi chuồng, cười khẽ đầy hãnh diện:

“Tôi đây mà. Tôi dắt con bò của tôi về.”

“Hừm,” Isak nói.

“Chính vì thế mà tôi lâu thế — dắt nó qua đồi thì chỉ đi thong thả được thôi.”

“Thế là mình dắt về một con bò?” hắn nói.

“Ừ,” cô ta đáp, người muốn nứt ra vì sự lớn lao và giàu có ở đời. “Hay mình không tin tôi?”

Isak lo điều tệ nhất, nhưng chẳng lộ ra, chỉ nói:

“Vào trong ăn cái gì đi.”

“Mình xem nó chưa? Bò đẹp không?”

“Ừ, bò tốt đấy,” Isak nói. Rồi cố nói cho thật hờ hững, hắn hỏi: “Mình lấy nó ở đâu ra?”

“Tên nó là Sừng Vàng. Cái tường mình xây trên kia để làm gì thế? Mình làm đến chết mất thôi. Ơ kìa, ra xem bò đi chứ, nào?”

Hai người ra xem, Isak thì đang mặc đồ lót, nhưng chuyện đó chẳng hề gì. Họ ngắm đi ngắm lại con bò thật kỹ, từng chỗ một, ghi nhớ mọi vệt lang, đầu và vai, mông và đùi, chỗ nào đỏ chỗ nào trắng, và nó đứng ra sao.

“Mình đoán nó chừng mấy tuổi?” Isak dè dặt hỏi.

“Đoán à? Ơ, nó vừa đúng chớm sang năm thứ tư. Tôi nuôi nó từ bé, ai cũng bảo là con bê xinh nhất họ từng thấy. Nhưng mình nghĩ ở đây có đủ cỏ không?”

Isak bắt đầu tin, mà hắn thì chỉ mong được tin, rằng mọi sự đều ổn. “Cỏ ấy à, ơ, cỏ thì đủ, khỏi lo.”

Rồi họ vào nhà ăn uống và có với nhau một buổi tối. Họ nằm thức nói chuyện Con Bò; chuyện đại sự. “Mà nó ngoan lắm chứ nhỉ? Nó sắp có lứa thứ hai rồi. Tên nó là Sừng Vàng. Mình ngủ rồi à, Isak?”

“Chưa.”

“Mình biết không, nó nhận ra tôi đấy; nhận ra ngay, rồi theo tôi ngoan như cừu. Đêm qua hai đứa nằm lại trên đồi một quãng.”

“Ờ?”

“Nhưng suốt mùa hè vẫn phải buộc nó lại, không thì nó chạy mất. Bò là bò mà.”

“Trước nó ở đâu?” cuối cùng Isak hỏi.

“Thì ở bên nhà tôi, chỗ nó vẫn ở. Mà họ tiếc lắm khi mất nó, tôi nói thật; bọn trẻ con khóc khi tôi dắt nó đi.”

Chẳng lẽ cô ta bịa hết ra, mà nói trơn tru đến thế? Không, không thể nghĩ vậy được. Hẳn là thật, con bò là của cô ta. Chà, họ đang khá lên, với túp lều này, với cái trại này của họ; ơ, thế thì đủ cho bất cứ ai. Ừ, họ đã có gần như mọi thứ mình mong. Chao, cái cô Inger ấy; hắn yêu cô ta và cô ta cũng yêu lại hắn; họ là người tằn tiện; họ sống theo lối nguyên sơ, và chẳng thiếu gì. “Ngủ thôi!” Và họ ngủ. Rồi sáng ra thức dậy vào một ngày khác, lại có cái để nhìn, có việc để trông, lại nữa; ừ, cực nhọc và vui thú, lên và xuống, cái nếp của đời sống.

Chẳng hạn như với đám gỗ vuông kia — hắn có nên thử ghép chúng lại không? Isak đã để mắt khắp nơi dưới làng, đúng vì chuyện ấy, và đã thấy người ta làm thế nào; chính hắn cũng dựng được nhà gỗ, sao lại không? Hơn nữa, đó là một đòi hỏi đối với hắn; phải làm. Chẳng phải họ đã có một cái trại với cừu, một cái trại với bò rồi sao, dê thì đã nhiều và sẽ nhiều hơn? — riêng đàn gia súc đã chật cả túp lều cỏ; phải làm gì đó. Mà tốt nhất là bắt tay ngay, trong khi khoai còn đang ra hoa và trước khi vào vụ cỏ. Inger sẽ phải đỡ tay chỗ này chỗ kia.

Isak thức giấc trong đêm rồi dậy, Inger ngủ ngon và say sau chặng đường dài, còn hắn thì ra chuồng bò. Chớ nghĩ rằng hắn nói với Con Bò bằng thứ giọng nịnh nọt đê tiện đáng ghê; không, hắn vỗ về nó cho phải phép, rồi lại xem nó một lượt từng chỗ, xem có tình cờ dấu vết gì, ký hiệu gì cho thấy nó thuộc về chủ lạ không. Không dấu, không ký hiệu, và Isak lẻn đi, lòng nhẹ nhõm.

Đám gỗ nằm kia. Hắn xắn tay, lăn từng khúc, rồi nhấc lên, dựng vào tường thành một khung; một khung lớn cho gian ngoài, một khung nhỏ hơn — phải có buồng để ngủ. Việc nặng, việc thở dốc, mà tâm trí đã dồn vào đó nên hắn quên cả giờ. Từ lỗ khói trên mái lều bốc lên một làn khói, rồi Inger bước ra gọi ăn sáng.

“Mình đang bận gì thế?” Inger hỏi.

“Mình dậy sớm nhỉ,” Isak nói, chỉ có thế.

Chao, cái gã Isak với những điều bí mật và cái lối làm cao của hắn! Nhưng có lẽ hắn khoái được cô ta hỏi han, lấy làm lạ và tò mò về việc hắn làm. Hắn ăn qua loa rồi ngồi trong lều một lúc trước khi ra. Hắn chờ gì mới được chứ?

“Hừm,” cuối cùng hắn nói, đứng dậy. “Thế này không xong. Hôm nay không ngồi không được. Có việc phải làm.”

“Xem chừng mình đang dựng nhà,” Inger nói. “Nhà gì thế?”

Và hắn đáp bằng giọng kẻ cả, cái con người vĩ đại một mình đi dựng nhà gỗ ấy, hắn đáp: “Ơ, thì mình nhìn cũng thấy chứ gì.”

“Vâng… Vâng, hẳn rồi.”

“Dựng nhà — ơ, tôi thấy chẳng còn cách nào khác. Mình về đem theo cả một con bò vào trại — thế nghĩa là phải có chuồng bò chứ gì?”

Tội nghiệp Inger, không khôn ngoan muôn đời như hắn, như Isak, chúa tể của tạo vật. Mà chuyện này là hồi cô ta chưa hiểu tính hắn, chưa liệu được cái lối ăn nói của hắn. Inger nói:

“Ơ, chẳng lẽ mình dựng chuồng bò thật đấy chứ?”

“Ờ,” hắn nói.

“Nhưng mình không định thế chứ? Tôi… tôi tưởng mình dựng nhà ở trước.”

“Mình nghĩ thế à?” Isak nói, mặt làm ra vẻ cả đời hắn chưa hề nghĩ tới điều đó.

“Thì chứ sao. Rồi cho gia súc vào lều.”

Isak nghĩ một lúc. “Ừ, có lẽ thế là hơn.”

“Đấy,” Inger nói, mừng rỡ và đắc thắng. “Mình thấy chưa, tôi cũng được việc chứ bộ.”

“Ừ, đúng thế. Thế mình thấy một cái nhà hai buồng thì sao?”

“_Hai_ buồng? Ối chao…! Ơ, thế thì y như thiên hạ. Mình nghĩ làm nổi à?”

Họ làm nổi. Isak lo dựng nhà, khoét mộng gỗ, ghép khung; hắn còn xoay xở làm được cả một cái bếp lò bằng đá chọn, tuy cái này lắm rắc rối, mà chính Isak cũng không phải lúc nào cũng vừa ý với tay nghề mình. Vào vụ cỏ, hắn đành trèo xuống khỏi cái nhà đang dựng mà đi khắp các sườn đồi gần xa, cắt cỏ rồi cõng những gánh cỏ khô nặng về. Rồi một hôm mưa, hắn phải xuống làng.

“Mình xuống làng làm gì?”

“Ờ, giờ thì tôi chưa nói chắc được…”

Hắn đi, vắng hai ngày, rồi về với một cái bếp lò — một chiếc sà lan hình người lừng lững nhô lên khỏi rừng, cõng nguyên một cái lò gang trên lưng. “Sức người sao làm nổi,” Inger nói. “Cái đà này thì mình chết mất.” Nhưng Isak dỡ cái bếp đá đi, trông nó chẳng hợp với nhà mới, rồi dựng cái bếp lò vào chỗ ấy. “Đâu phải ai cũng có bếp lò,” Inger nói. “Kỳ diệu chưa, hai đứa mình khá lên thế này!…”

Vẫn vụ cỏ; Isak cõng về hết gánh này đến gánh khác, bởi cỏ rừng không như cỏ đồng, tiếc thay, mà kém xa. Chỉ những hôm mưa hắn mới rảnh mà dựng nhà; việc kéo dài, và ngay đến tháng Tám, khi cỏ đã vào hết, cất kỹ dưới hõm đá, thì cái nhà mới cũng mới xong nửa chừng. Rồi đến tháng Chín: “Thế này không xong,” Isak nói. “Mình chạy xuống làng gọi một người lên đỡ đi.” Dạo này Inger trong người không được khoẻ, chẳng chạy nhiều nữa, nhưng cô ta cũng sửa soạn để đi.

Nhưng Isak lại đổi ý; lại lên cái giọng kẻ cả, bảo rằng hắn tự xoay xở được. “Chẳng phải phiền người ngoài,” hắn nói; “một mình tôi làm được.”

“Việc ấy quá sức một người,” Inger nói. “Mình kiệt sức mất.”

“Đỡ tôi nâng mấy khúc này lên là được,” Isak nói, chỉ có thế.

Tháng Mười đến, và Inger đành chịu. Đây là một đòn nặng, bởi bằng mọi giá phải đưa được đám xà mái lên, phải lợp xong trước mưa thu; không còn một ngày để phí. Inger làm sao thế? Chẳng lẽ ốm? Thỉnh thoảng cô ta làm phô mai từ sữa dê, ngoài ra thì làm được ít, trừ việc mỗi ngày cả chục lần dời chỗ buộc cho Sừng Vàng gặm cỏ.

“Mang về một cái rổ to, hay cái thùng,” cô ta dặn, “lần sau mình xuống làng.”

“Mình lấy cái đó làm gì?” Isak hỏi.

“Thì tôi cần nó,” Inger nói.

Isak lấy dây kéo đám xà mái lên, Inger một tay đỡ cho ngay; chỉ có cô ta đứng đó thôi cũng đã đỡ. Từng chút một, việc chạy dần; mái chẳng cao gì, nhưng gỗ thì to và nặng so với một cái nhà nhỏ.

Trời giữ được nắng, ít nhiều. Inger một mình dỡ khoai, còn Isak lợp xong mái trước khi mưa xuống thật. Đêm đến người ta lùa dê vào lều, tất cả ngủ chung ở đó; họ xoay xở được, cách nào cũng xoay xở được, và chẳng ai càu nhàu.

Isak sửa soạn cho một chuyến xuống làng nữa. Inger nói, rất nhũn nhặn:

“Hay mình mang về giúp tôi một cái rổ to, hay cái thùng?”

“Tôi đã đặt mấy ô cửa kính,” Isak nói, “với hai cánh cửa sơn. Phải khuân về đã,” hắn nói bằng cái giọng kẻ cả.

“Ừ thì thôi. Cái rổ chẳng hệ trọng gì.”

“Mình cần cái rổ làm gì? Để làm gì?”

“Để làm gì?… Ơ, mình không có mắt à!”

Isak đi, đầu nghĩ ngợi. Hai ngày sau hắn về, mang theo một ô cửa kính và một cánh cửa cho gian ngoài, một cánh cửa cho buồng ngủ; lại còn treo trước ngực một cái thùng gỗ khá lớn, mà bên trong đầy lương thực.

“Rồi có ngày mình vác đến chết mất,” Inger nói.

“Chà, chết thế nào được!” Isak còn xa mới chết; hắn móc trong túi ra một lọ thuốc — dầu naphtha — đưa cho Inger, dặn uống đều cho khoẻ lại. Rồi còn mấy ô cửa kính với hai cánh cửa sơn mà hắn có thể khoe ra trò; hắn bắt tay lắp ngay. Chao, cửa thì bé tí, lại còn là đồ cũ, nhưng đã sơn lại đỏ trắng tinh tươm; gần như treo tranh lên tường vậy.

Và giờ họ dọn sang nhà mới, đám gia súc được cả túp lều cỏ cho riêng mình, chỉ để lại một con cừu sắp đẻ ở với Con Bò, kẻo nó thấy cô quạnh.

Họ đã làm nên chuyện, hai kẻ dựng nhà giữa chốn hoang này: ừ, chính họ cũng thấy đó là điều kỳ diệu lạ lùng.