Phúc lành của đất — Chương 22: Quyển II · Chương III

Chương 22 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Mùa đông ấy, Axel lại còn một mình ở Maaneland. Barbro đã đi. Ừ, thế là hết.

Chuyến lên tỉnh của cô ta sẽ chẳng lâu, cô ta bảo thế; chẳng như đi Bergen; nhưng cô ta chẳng định ở lại đây mà rụng hết cái răng này tới cái răng khác, tới lúc cái miệng như miệng bê. “Tốn bao nhiêu?” Axel hỏi.

“Tôi biết đâu được?” cô ta nói. “Nhưng dù sao cũng chẳng tốn của anh đồng nào. Tôi tự kiếm tiền lấy.”

Cô ta cũng đã giải thích vì sao đi đúng lúc này là hơn; giờ chỉ có hai con bò phải vắt sữa, mà tới xuân sẽ có thêm hai con nữa, chưa kể cả đàn dê với dê con, rồi mùa bận, rồi việc ê hề mãi tới tận tháng Sáu.

“Cô muốn làm gì thì làm,” Axel nói.

Cái đó sẽ chẳng tốn của gã đồng nào, chẳng chút nào. Nhưng cô ta phải có ít tiền để khởi đầu, chỉ một chút thôi; nào tiền tàu xe, nào tiền trả ông nha sĩ, vả lại cô ta còn phải có một trong mấy cái áo choàng mới với vài thứ lặt vặt khác. Nhưng dĩ nhiên, nếu anh chẳng thiết…

“Từ trước tới giờ cô đã có đủ tiền rồi,” gã nói.

“Hừm,” cô ta nói. “Đằng nào cũng hết cả rồi.”

“Cô chẳng để dành được gì à?”

“Để dành à? Anh muốn thì cứ mở hòm tôi ra mà xem. Ở Bergen tôi chẳng để dành được gì, mà hồi ấy lương tôi còn cao hơn.”

“Tôi chẳng có tiền mà đưa cho cô,” gã nói.

Gã chẳng mấy tin cô ta sẽ quay lại, mà cô ta thì đã hành hạ gã đủ với những cơn ngông hết kiểu này tới kiểu khác; rốt cuộc gã đâm ra dửng dưng. Mà dù cuối cùng gã cũng đưa cô ta tiền thì cũng chẳng đáng bao nhiêu; nhưng gã chẳng nói gì khi cô ta gói mang theo một đống thức ăn khổng lồ, rồi chính gã đánh xe chở cô ta với cái hòm xuống làng đón tàu.

Và thế là xong.

Gã có thể xoay xở một mình trên cái trại, gã đã từng học được cách ấy; nhưng đàn gia súc thì phiền; hễ gã phải rời nhà là chẳng ai trông chúng. Người nhà buôn dưới làng đã giục gã gọi Oline lên cho qua mùa đông, bà ta đã ở Sellanraa bao năm trước; dĩ nhiên giờ bà ta đã già, nhưng còn khoẻ và làm được việc. Mà Axel có cho gọi Oline thật, nhưng bà ta chẳng tới, cũng chẳng nhắn gì.

Trong lúc ấy gã làm trong rừng, đập chỗ lúa ít ỏi của mình, và trông đàn gia súc. Một đời sống lặng lẽ và cô độc. Thỉnh thoảng Sivert ở Sellanraa lại đánh xe ngang, đi xuống hay lên từ làng, chở xuống từng chuyến củi, hay da, hay nông sản, nhưng ít khi mang gì về nhà; giờ ở Sellanraa chẳng còn mấy thứ phải mua.

Thỉnh thoảng Brede Olsen cũng lê bước ngang qua, dạo này thường hơn — chẳng biết gã định làm gì. Trông như thể gã đang cố làm cho mình thành không thể thiếu với người bên điện tín trong quãng thời gian ít ỏi còn lại, để giữ chỗ làm. Từ khi Barbro đi thì gã chẳng bao giờ ghé vào thăm Axel nữa, mà đi thẳng qua — một sự cao ngạo chẳng hợp chút nào với hoàn cảnh gã, vì gã vẫn còn đang ở Breidablik và chưa dọn đi. Một hôm, khi gã đi qua mà chẳng buồn chào một tiếng, Axel chặn gã lại, hỏi gã định bao giờ dọn khỏi chỗ ấy.

“Thế còn con Barbro, với cái cách nó bỏ anh mà đi?” Brede hỏi lại. Rồi lời qua tiếng lại: “Anh tống nó đi mà chẳng giúp chẳng cho gì, suýt nữa nó chẳng tới nổi Bergen.”

“Ơ! Thế ra nó ở Bergen à?”

“Ừ, rốt cuộc cũng tới, nó viết thư về thế, chứ chẳng nhờ ơn anh.”

“Tôi sẽ tống ông ra khỏi Breidablik, mà tống nhanh,” Axel nói.

“Ừ, thế thì phiền anh quá,” gã kia nói, giọng đá đểu. “Nhưng tới năm mới thì tự chúng tôi cũng đi,” gã nói, rồi đi đường gã.

Thế là Barbro đã đi Bergen — ừ, đúng như Axel đã nghĩ. Gã chẳng để bụng. Để bụng à? Không hề; thoát được cô ta là may. Nhưng dù sao, cho tới lúc ấy gã vẫn hy vọng đôi chút rằng cô ta sẽ quay về. Chuyện ấy thật vô lý, nhưng chẳng hiểu sao gã đã đâm ra quá quý cô gái ấy — ừ, cái con quỷ ấy. Cô ta có những khoảnh khắc ngọt ngào, những khoảnh khắc chẳng quên được, mà chính vì muốn cản cô ta chạy sang Bergen mà gã đã cho cô ta ít tiền đi đường đến thế. Vậy mà rốt cuộc cô ta vẫn tới đó. Mấy bộ đồ của cô ta vẫn treo trong nhà, và trên gác còn một cái mũ rơm cắm cánh chim, bọc trong giấy, nhưng cô ta chẳng về lấy. Ơ hầy, có lẽ gã cũng để bụng một chút, chỉ một chút thôi. Và như để giễu gã, như một trò đùa lớn giữa nỗi khổ của gã, tờ báo gã đặt cho cô ta vẫn tới đều mỗi tuần, mà nó sẽ chẳng ngừng cho tới năm mới.

Ừ thì, ừ thì, còn những chuyện khác phải nghĩ. Gã phải là một người đàn ông.

Xuân sau gã sẽ phải dựng một cái chái áp vào vách bắc ngôi nhà; gỗ thì phải hạ ngay mùa đông này, rồi xẻ ván. Axel chẳng có mấy gỗ, chẳng có rừng gần, nhưng có mấy cây linh sam lớn mọc rải rác đây đó ở rìa đất gã, và gã đánh dấu những cây ở phía ngả về Sellanraa, cho đường chở gỗ lên xưởng cưa được ngắn nhất.

Thế rồi một buổi sáng gã cho đám gia súc ăn thêm một bữa để chúng cầm cự tới chiều, đóng hết cửa lại sau lưng, rồi đi hạ cây. Ngoài cái rìu và một giỏ thức ăn, gã còn mang theo một cái cào để gạt tuyết. Trời êm, hôm trước có một trận bão tuyết lớn, nhưng giờ đã tạnh. Gã đi men theo tuyến điện tín tới tận chỗ, rồi cởi áo khoác ra mà lao vào làm. Cây hạ xuống tới đâu, gã tỉa cành tới đó, để lại những thân cây sạch, và chất củi vụn thành đống.

Brede Olsen đi ngang lên phía trên — hẳn là đường dây có chuyện sau trận bão hôm qua. Hay có khi Brede ra ngoài chẳng vì việc gì cụ thể, mà thuần vì hăng hái — chao, dạo này Brede sốt sắng với phận sự ghê lắm! Hai người đàn ông chẳng nói với nhau, chẳng buồn giơ tay chào một cái.

Thời tiết lại đổi, gió nổi lên. Axel để ý thấy, nhưng vẫn làm tiếp. Đã quá trưa từ lâu, mà gã vẫn chưa ăn. Rồi, lúc hạ một cây linh sam lớn, gã lỡ đứng vào hướng nó đổ, và bị quật xuống đất. Gã hầu như chẳng biết chuyện ấy xảy ra thế nào — nhưng nó đã xảy ra. Một cây linh sam lớn lắc lư trên gốc: một người muốn nó đổ về một hướng, cơn bão bảo hướng khác — mà kẻ thắng là cơn bão. Lẽ ra gã cũng thoát ra được, nhưng thế đất bị tuyết che khuất. Axel bước hụt một bước, mất thăng bằng, và rơi xuống một khe đá, dạng chân trên một tảng đá, bị sức nặng của cái cây ghim chặt xuống.

Ừ thì, rồi sao? Lẽ ra gã vẫn thoát ra được, nhưng chẳng may gã lại ngã theo cái thế vụng về nhất có thể — chẳng gãy xương nào, theo chỗ gã biết, nhưng vặn thế nào đó, mà chẳng lôi mình ra nổi. Một lúc sau gã gỡ được một tay, chống người trên tay kia, nhưng cái rìu thì ngoài tầm với. Gã nhìn quanh, ngẫm nghĩ, như bất cứ con thú nào sập bẫy vẫn làm; nhìn quanh và ngẫm nghĩ và cố lách người ra khỏi thân cây. Chẳng bao lâu nữa Brede sẽ đi ngang trên đường xuống, gã tự nhủ, rồi cho mình nghỉ lấy hơi.

Thoạt đầu gã chẳng lấy làm lo lắm, chỉ bực vì mất thì giờ làm việc; trong đầu gã chẳng có ý nghĩ nào rằng mình đang gặp nguy, chưa nói tới nguy tới tính mạng. Đúng là gã thấy cái tay đang chống người tê dại đi và chết cứng, cái chân trong khe đá cũng lạnh dần và vô dụng; nhưng chẳng sao, Brede sắp tới rồi.

Brede chẳng tới.

Bão mạnh lên, Axel thấy tuyết táp thẳng vào mặt. Chao, giờ thì nó đổ xuống thật rồi, gã tự nhủ, vẫn chẳng mấy bận tâm — ừ, như thể gã nheo mắt nhìn chính mình qua màn tuyết, để coi chừng, bởi giờ mọi sự đang bắt đầu thật rồi! Sau một hồi lâu gã hô lên một tiếng. Tiếng ấy khó lòng vọng xa trong cơn gió, nhưng nó sẽ đi ngược lên dọc tuyến, về phía Brede. Axel nằm đó với đủ thứ ý nghĩ hão huyền vô ích trong đầu: giá mà với được cái rìu, biết đâu chặt được đường mà ra! Giá mà nhấc được bàn tay lên — nó đang tì vào một cái gì đó sắc, một cạnh đá, mà hòn đá thì đang lặng lẽ và lịch sự gặm dần vào mu bàn tay gã. Đằng nào thì, giá cái hòn đá chết tiệt ấy đừng có ở đó — nhưng chưa ai từng nghe kể một hành động tử tế cảm động đến thế về phía một hòn đá.

Muộn rồi, muộn hơn nữa, tuyết dồn dày; chính Axel cũng đang bị tuyết vùi. Tuyết đắp lên quanh mặt gã, hồn nhiên, chẳng hay biết gì, thoạt đầu còn tan ra, tới khi da thịt lạnh đi thì nó thôi không tan nữa. Ừ, giờ thì bắt đầu thật rồi!

Gã hô hai tiếng lớn, rồi lắng nghe.

Cái rìu giờ cũng đang bị tuyết vùi; gã chỉ còn thấy một mẩu cán. Đằng kia là cái giỏ thức ăn của gã, treo trên một cây — giá với tới được mà ăn một bữa — chao, những miếng thật to! Rồi gã đi thêm một bước nữa trong những đòi hỏi của mình, mà xin thêm: giá mà có cái áo khoác trên người — trời đang lạnh dần. Gã lại hô một tiếng vang…

Và Brede kia rồi. Dừng sững lại, đứng yên, nhìn về phía người đang gọi; gã chỉ đứng đó một khoảnh khắc, liếc về hướng ấy, như để xem có chuyện gì.

“Đưa tôi cái rìu, được không?” Axel gọi, giọng hơi yếu.

Brede vội quay mắt đi, giờ đã hiểu rõ chuyện gì; gã liếc lên mấy sợi dây điện tín và xem chừng đang huýt sáo. Gã có ý gì thế?

“Này, đưa tôi cái rìu, không được à?” Axel gọi to hơn. “Tôi bị cái cây ghim ở đây.”

Nhưng Brede giờ lại đầy hăng hái với phận sự một cách kỳ lạ, gã cứ nhìn mấy sợi dây điện tín, và huýt sáo suốt. Xin để ý thêm rằng gã xem chừng huýt sáo một cách vui vẻ, như thể đầy hả hê trả thù.

“Ơ, thế ra ông định giết tôi — cái rìu cũng chẳng thèm đưa?” Axel kêu lên. Và nghe thế thì xem chừng ở đoạn dưới đường dây có chuyện gì đó mà Brede phải xem ngay không chậm trễ. Gã bỏ đi, và khuất trong màn tuyết bay.

Ơ — thôi thì được! Nhưng sau đó, ừ, thì cũng đáng đời cho mọi sự nếu rốt cuộc Axel tự xoay xở được một mình, mà với tới được cái rìu chẳng cần ai giúp. Gã căng hết cơ ngực mà nhấc cái sức nặng khổng lồ đang đè lên mình; cái cây nhúc nhích, gã thấy nó rung, nhưng tất cả những gì gã được chỉ là một trận tuyết dội xuống. Rồi sau vài lần thử nữa, gã bỏ cuộc.

Trời tối rồi. Brede đã đi — nhưng gã đi được bao xa? Axel lại hô, và tiện thể tuôn ra vài lời thẳng thừng. “Định để tôi chết ở đây như một thằng giết người phải không?” gã kêu. “Ông chẳng có linh hồn, chẳng nghĩ tới ngày sau à? Cả một con bò đấy chứ ít gì, chỉ để giơ tay ra giúp. Nhưng ông là một con chó và xưa nay vẫn là một con chó, Brede ạ, bỏ mặc người ta chết. Chao, nhưng sẽ có người khác biết chuyện này, khỏi lo, thật như tôi đang nằm đây. Mà đến cái rìu cũng chẳng thèm đưa cho…”

Im lặng. Axel lại gồng lên với cái cây lần nữa, nhấc nó lên được một chút, và làm dội xuống một trận tuyết mới. Rồi lại bỏ cuộc mà thở dài; giờ gã kiệt sức, và bắt đầu buồn ngủ. Kìa đàn gia súc ở nhà, chúng sẽ đứng trong lều mà rống đòi ăn, chẳng một miếng chẳng một giọt từ sáng; giờ chẳng có Barbro trông chúng nữa — không. Barbro đi rồi, bỏ chạy đi rồi, và mang theo cả hai cái nhẫn, vàng lẫn bạc, mang đi cả. Tối rồi, ừ, chiều, đêm; thôi thì, thôi thì… Nhưng còn cái rét nữa; râu gã đang đóng băng, chẳng mấy nữa mắt gã cũng sẽ đóng băng; ừ, giá mà có cái áo khoác trên cây kia… mà giờ tới cái chân — chắc chắn chẳng thể thế được — nhưng dù sao một chân giờ đã chết cứng tới tận hông. “Mọi sự đều trong tay Chúa,” gã tự nhủ — xem chừng gã cũng nói được những lời đạo hạnh thành kính khi gã muốn. Trời tối rồi, ừ; nhưng người ta chết mà chẳng cần ánh đèn cũng được. Giờ gã thấy mình mềm ra và dễ chịu, và thuần vì khiêm nhường gã mỉm cười, ngờ nghệch và hiền lành, với cơn bão tuyết quanh mình; đó là tuyết của Chúa, một thứ vô tội! Ừ, gã còn có thể tha thứ cho Brede, mà chẳng nói một lời…

Giờ gã rất im, và mỗi lúc một buồn ngủ hơn, ừ, như thể có một thứ thuốc độc nào đó đang làm tê dại khắp người. Mà nhìn hướng nào cũng có quá nhiều màu trắng; rừng và đất, những cánh lớn, những tấm mạng trắng, những cánh buồm trắng; trắng, trắng… là cái gì thế? Vớ vẩn, ông ơi! Mà gã thừa biết đó chỉ là tuyết; gã đang nằm ngoài tuyết; chẳng phải mộng mị gì chuyện gã nằm đó, bị ghim dưới một cái cây.

Gã lại hô liều một tiếng, ném ra một tiếng rống; ngoài kia trong tuyết, cái lồng ngực lớn đầy lông của một người đàn ông phồng lên thành một tiếng rống, rống tới mức có thể nghe thấu tận dưới lều, hết lần này tới lần khác. “Ừ, một con lợn và một con quái vật,” gã lại hô với theo Brede; “chẳng một ý nghĩ nào về chuyện ông bỏ mặc tôi nằm đây mà chết cóng. Đến cái rìu cũng chẳng đưa nổi cho tôi, tôi chỉ xin có thế; mà ông tự gọi mình là một con người, hay một con vật ngoài đồng? Ừ thì thôi, đi đường ông đi, chúc ông may mắn nếu ý ông và bụng ông muốn đi…”

Hẳn gã đã thiếp đi; giờ gã cứng đờ và bất động, nhưng mắt gã mở. Đóng trong băng, nhưng mở, gã chẳng nhắm chẳng chớp được — gã đã ngủ với đôi mắt mở à? Có lẽ đã lịm đi một giây, hay một tiếng, Chúa biết, nhưng kìa Oline đang đứng trước mặt gã. Gã nghe bà ta hỏi: “Nhân danh Chúa Giê-su, nói xem trong người còn sống không!” Rồi hỏi gã có phải chính gã đang nằm đó không, và gã có mất trí hay chưa.

Ở Oline lúc nào cũng có cái gì đó của một con chó rừng; đánh hơi và lần theo mùi, lúc nào cũng có mặt ở chỗ có chuyện; ừ, bà ta đánh hơi ra. Mà nếu chẳng thế thì bà ta xoay xở qua được cả đời bằng cách nào? Lời nhắn của Axel đã tới tai bà ta, và dù đã bảy mươi tuổi bà ta vẫn băng qua cánh đồng mà tới. Bị tuyết vùi ở Sellanraa trong trận bão hôm trước, rồi lại đi tiếp tới Maaneland; chẳng một bóng người trên trại; cho đàn gia súc ăn, đứng ở khung cửa lắng nghe, vắt sữa bò lúc tới giờ vắt, rồi lại lắng nghe; là cái gì nhỉ?…

Rồi một tiếng kêu vọng xuống, và bà ta gật đầu; Axel chăng, hay có khi là ma núi, quỷ dữ — dù sao cũng là cái gì đó để đánh hơi, để lần ra và tìm thấy — để moi cho ra nghĩa của tất cả những cái ấy, cái khôn ngoan của Đấng Toàn Năng nắm bóng tối và cánh rừng trong lòng bàn tay Người — mà Người sẽ chẳng bao giờ hại Oline, kẻ chẳng đáng cởi quai dép cho Người…

Và bà ta đứng đó.

Cái rìu ư? Oline bới xuống, bới mãi trong tuyết, mà chẳng thấy cái rìu nào. Thì đành không có vậy — rồi bà ta gồng lên nhấc cái cây tại chỗ, nhưng sức chẳng hơn một đứa trẻ; bà ta chỉ làm rung được vài cành chỗ này chỗ kia. Lại thử tìm cái rìu — trời tối om, nhưng bà ta bới bằng cả tay lẫn chân. Axel chẳng nhúc nhích nổi một bàn tay mà chỉ, chỉ nói được nó nằm ở đâu lúc trước, nhưng giờ nó chẳng ở đó nữa. “Giá Sellanraa đừng xa đến thế,” Axel nói.

Rồi Oline bắt đầu lùng theo lối riêng của bà ta, và Axel gọi bảo bà ta rằng chỗ ấy chẳng có rìu. “Ừ thì,” Oline nói, “tôi chỉ ngó qua một chút. Mà cái gì đây nhỉ?” bà ta nói.

“Bác tìm ra rồi à?” gã nói.

“Ừ, nhờ ơn Chúa Toàn Năng,” Oline đáp, bằng những lời đao to búa lớn.

Nhưng giờ Axel chẳng còn mấy kiêu hãnh, chẳng hơn mức đủ để công nhận rằng rốt cuộc gã đã sai, mà có khi đầu óc cũng chẳng còn tỉnh táo. Mà giờ có cái rìu rồi thì gã làm gì được? Gã chẳng nhúc nhích nổi, và Oline phải tự tay chặt cho gã ra. Chao, Oline đã từng vung rìu trước ngày ấy rồi; đời bà ta đã chặt bao nhiêu gánh củi.

Axel chẳng đi được, một chân chết cứng tới tận hông, mà lưng cũng có gì đó không ổn; những cơn đau nhói làm gã rên lên một cách kỳ lạ — ừ, gã chỉ còn thấy một phần của chính mình, như thể có cái gì đó còn bị bỏ lại dưới cái cây kia. “Chẳng biết,” gã nói — “chẳng biết là cái gì…” Nhưng Oline thì biết, và giờ bà ta nói cho gã bằng những lời trang nghiêm; ừ, bởi bà ta đã cứu một sinh linh khỏi cái chết, và bà ta biết thế; ấy là Đấng Toàn Năng đã thấy nên giao cho bà ta phận sự này, trong khi Người có thể sai cả đạo binh thiên thần. Axel hãy ngẫm cái ân và cái khôn ngoan vô cùng của Đấng Toàn Năng ngay trong chuyện này! Mà nếu Người đã vui lòng sai một con giun từ dưới đất lên thay vào đó thì với Người mọi sự đều có thể.

“Ừ, tôi biết,” Axel nói. “Nhưng tôi chẳng hiểu mình làm sao — thấy lạ lắm…”

Thấy lạ à? Chao, cứ đợi đi, đợi một chút thôi. Chỉ cần cử động và duỗi ra từng chút một, cho tới khi sự sống trở lại. Rồi mặc áo khoác vào cho ấm lại. Nhưng suốt đời bà ta sẽ chẳng bao giờ quên cái cách Thiên thần của Chúa đã gọi bà ta ra tận khung cửa lần ấy, để bà ta nghe được một tiếng nói — tiếng của một người kêu lên trong rừng. Ừ, cứ như trong những ngày Địa Đàng, khi kèn thổi vang vây quanh tường thành Jericho…

Ừ, lạ thật. Nhưng trong lúc bà ta nói, Axel cứ thong thả, học lại cách dùng tay chân mình, tập đi lại.

Họ chậm chạp đi về phía nhà, Oline vẫn đóng vai người cứu mạng mà đỡ gã. Họ cũng xoay xở được. Xuống thấp hơn một chút thì họ gặp Brede. “Chuyện gì thế?” Brede nói. “Bị thương à? Để tôi đỡ một tay.”

Axel chẳng đoái hoài. Gã đã hứa với Chúa sẽ không thù hằn, không kể ra những gì Brede đã làm, nhưng ngoài chuyện ấy ra thì gã tự do. Mà giờ Brede lại đi ngược lên lối ấy làm gì? Gã đã thấy Oline ở Maaneland, và đoán rằng bà ta sẽ nghe được chăng?

“Ơ, bác cũng ở đây à, Oline?” Brede nói tiếp một cách thoải mái. “Bác tìm thấy anh ta ở đâu? Dưới một cái cây à? Chao, lạ thật đấy,” gã nói. “Tôi vừa lên lối ấy vì công vụ, dọc theo đường dây, mà nghe như có ai hô. Tôi quay phắt lại lắng nghe ngay — Brede này là người sẵn sàng giơ tay giúp nếu ai cần. Thế ra là Axel à, nằm dưới một cái cây, bác bảo thế?”

“Ừ,” Axel nói. “Mà ông thừa biết, vì ông đã trông thấy và đã nghe thấy. Nhưng chẳng một bàn tay đưa ra…”

“Lạy Chúa cứu chúng con!” Oline kêu lên, kinh hãi. “Tôi là kẻ có tội…”

Brede giải thích. “Trông thấy à? Ừ thì tôi trông thấy anh, đúng thế. Nhưng sao anh chẳng gọi? Có chuyện gì thì anh phải gọi chứ. Tôi trông thấy anh, đúng thế, nhưng chỉ nghĩ là anh nằm nghỉ một chút.”

“Ông đừng nói thêm thì hơn,” Axel nói giọng cảnh cáo. “Ông thừa biết ông đã bỏ mặc tôi ở đó mà mong tôi chẳng bao giờ dậy nổi.”

Oline thấy ngay lối đi của mình; chẳng thể để Brede xen vào. Bà ta phải là người không thể thiếu, chẳng thể có gì chen giữa bà ta và Axel mà làm gã bớt mắc nợ bà ta trọn vẹn. Bà ta đã cứu gã, một mình bà ta. Rồi bà ta khoát tay gạt Brede sang bên; chẳng cho gã cầm cả cái rìu lẫn cái giỏ thức ăn. Chao, lúc này thì bà ta hoàn toàn về phe Axel — nhưng lần sau tới chỗ Brede mà ngồi tán chuyện bên tách cà phê thì bà ta sẽ về phe gã.

“Ít ra thì để tôi cầm cái rìu với mấy thứ này,” Brede nói.

“Thôi,” Oline nói, nói thay Axel. “Cậu ấy tự cầm.”

Rồi Brede lại nói tiếp: “Dù sao anh cũng phải gọi tôi chứ; hai ta có phải kẻ thù không đội trời chung đâu mà anh chẳng nói nổi một tiếng? — Anh có gọi à? Ừ thì anh phải hô cho to lên chứ, để người ta nghe thấy. Gió bão ầm ầm thế… Ít ra thì anh cũng phải vẫy tay.”

“Tôi chẳng có tay nào mà vẫy,” Axel đáp. “Ông thấy tôi thế nào rồi, bị chẹn và bị khoá đủ đường.”

“Không, tôi thề là tôi chẳng thấy. Ừ, tôi chẳng nghe thấy. Này, để tôi cầm mấy thứ đó cho.”

Oline chen vào: “Để cậu ấy yên. Cậu ấy đau và yếu.”

Nhưng đầu óc Axel giờ đã bắt đầu hoạt động trở lại. Gã đã nghe về Oline từ trước, và hiểu rằng nếu bà ta có thể một mình nhận công cứu mạng gã thì cái đó sẽ tốn của gã, mà lại còn phiền. Chia đôi ra được chừng nào hay chừng ấy thì hơn. Và gã để Brede cầm cái giỏ với đồ nghề; ừ, gã để người ta hiểu rằng thế thì nhẹ được cho gã, rằng trút được nó đi thì gã đỡ hơn. Nhưng Oline chẳng chịu, bà ta giật lấy cái giỏ, chỉ bà ta chứ chẳng ai khác được cầm những thứ phải cầm ở đó. Cái ranh mãnh đội lốt chất phác đánh nhau đủ phía. Axel bị bỏ lại một khoảnh khắc chẳng ai đỡ, và Brede phải thả cái giỏ xuống mà giữ gã, dù xem chừng giờ Axel đứng một mình cũng được.

Rồi họ đi tiếp một quãng như thế, Brede giữ tay Axel, còn Oline thì mang đồ. Mang, mang, đầy cay đắng và loé lửa; một vai đáng thương thật, mang một cái giỏ thay vì dắt một người bất lực. Cái lão Brede ấy đi lối này làm gì cơ chứ — cái đồ quỷ!

“Brede này,” bà ta nói, “người ta bảo sao ấy nhỉ, cậu bán cả cái trại của cậu rồi à?”

“Mà ai muốn biết?” Brede nói, bạo mồm.

“Ơ, cái đó thì tôi chẳng nghĩ nó là bí mật gì mà chẳng ai được biết.”

“Thế sao bác chẳng tới cuộc đấu giá mà đặt giá cùng mọi người?”

“Tôi ấy à — ừ, giễu người nghèo thì đúng là cái tính cậu rồi.”

“Ừ thì tôi cứ tưởng bác đã giàu sang lắm rồi chứ. Chẳng phải bác được để lại cả cái rương của lão Sivert với tiền bên trong đó sao? Hi hi hi!”

Oline chẳng vui, chẳng dịu đi khi bị nhắc tới cái gia tài ấy. “Ừ, lão Sivert, lão có bụng tốt với tôi, tôi chẳng nói khác. Nhưng khi lão đã chết đi rồi thì của cải trần thế lão để lại chẳng còn được bao nhiêu. Mà chính cậu cũng biết bị lột sạch và phải ở dưới mái nhà người khác thì thế nào; nhưng lão Sivert thì giờ đang ở trong cung điện lâu đài, còn hạng như cậu với tôi thì bị bỏ lại trên trần mà cho người ta chà dưới gót.”

“Chao, bác với cái miệng bác!” Brede nói khinh khỉnh, rồi quay sang Axel: “Ừ, may mà tôi tới kịp — đỡ anh về nhà. Chẳng nhanh quá chứ?”

“Không.”

Nói chuyện với Oline, đứng ra mà cãi lý với Oline! Chưa từng có người đàn ông nào làm thế mà chẳng phải trả giá. Suốt đời bà ta chẳng bao giờ chịu thua, mà cũng chẳng ai bằng bà ta trong việc bẻ trời bẻ đất thành một mớ hổ lốn vừa như tử tế vừa như ác ý, vừa độc địa vừa vô nghĩa. Mà đây, ngay trước mặt bà ta: Brede làm ra vẻ như chính gã đang đưa Axel về nhà!

“Cái tôi định nói là,” bà ta mở lời: “Mấy ông lớn lên Sellanraa lần ấy; rốt cuộc cậu có khoe được với họ mấy bao đá của cậu không, Brede?”

“Axel,” Brede nói, “để tôi vác anh lên vai, tôi cõng anh nốt quãng còn lại.”

“Thôi,” Axel nói. “Nhưng cũng cảm ơn ông có lòng hỏi.”

Thế là họ đi tiếp; chẳng còn xa nữa. Oline phải tận dụng thì giờ dọc đường. “Giá cậu cứu được anh ta lúc sắp chết thì hay hơn,” bà ta nói. “Mà thế nào ấy nhỉ, Brede, cậu đi ngang mà trông thấy anh ta lâm nguy chết người và nghe tiếng anh ta kêu mà chẳng dừng lại giúp?”

“Bác câm cái mồm lại,” Brede nói.

Mà có khi câm thì đỡ cho bà ta hơn, đang lội tuyết sâu, thở hổn hển, lại còn gánh nặng; nhưng câm miệng thì chẳng phải lối Oline. Bà ta còn một miếng để dành, một miếng ngon. Chao, nói tới chuyện ấy thì nguy, nhưng bà ta dám.

“Còn con Barbro,” bà ta nói. “Nó thế nào rồi? Chẳng lẽ bỏ chạy đi mất rồi?”

“Ừ, nó đi rồi,” Brede đáp hờ hững. “Nhân thể để lại cho bác một chỗ làm qua mùa đông.”

Nhưng đây lại là một cơ hội tuyệt hảo nữa cho Oline; giờ bà ta có thể cho người ta thấy mình là một nhân vật thế nào; chẳng ai xoay xở lâu được mà không có Oline — Oline, người mà xa gần đều phải cho gọi. Bà ta có thể tới hai chỗ, ừ, ba chỗ ấy chứ. Có cả nhà xứ nữa — ở đó người ta cũng mừng mà có bà ta. Rồi lại một chuyện nữa — ừ, cứ để Axel nghe luôn, cũng chẳng hại gì — người ta đã trả bà ta chừng này chừng nọ cho mùa đông, chưa kể một đôi giày mới với một tấm da cừu kèm theo. Nhưng bà ta biết mình làm gì khi tới Maaneland, tới với một người rộng rãi trong việc cho và sẽ trả bà ta hơn hẳn người khác — nên bà ta đã tới. Không, Brede chẳng cần bận tâm về khoản ấy — khi Cha trên trời của bà ta đã trông nom bà ta suốt bao năm ấy, và đã mở hết cánh cửa này tới cánh cửa khác trước bước chân bà ta mà mời bà ta vào. Ừ, mà xem chừng chính Chúa cũng biết Người đang làm gì khi đưa bà ta lên Maaneland đúng hôm ấy, để cứu mạng một tạo vật của Người trên mặt đất…

Giờ Axel lại mệt lử; chân gã hầu như chẳng đỡ nổi người, và như sắp buông. Lạ thật, gã đã dần dần khá lên, đã đi được, khi sự sống và hơi ấm trở lại trong thân thể. Nhưng giờ — gã phải tựa vào Brede mà đỡ! Xem chừng chuyện ấy bắt đầu từ lúc Oline nói tới tiền công của bà ta; rồi tới lúc bà ta lại đang cứu mạng gã lần nữa thì càng tệ hơn. Gã lại đang cố hạ bớt cái chiến thắng của bà ta chăng? Trời biết — nhưng đầu óc gã xem chừng đã hoạt động trở lại. Khi họ tới gần nhà, gã dừng lại mà nói: “Xem chừng rốt cuộc tôi chẳng tới nổi.”

Brede chẳng nói một lời mà xốc gã lên, rồi cõng. Thế là họ đi tiếp như thế, Oline đầy nọc độc, còn Axel thì nằm dài trên lưng Brede.

“Cái tôi định nói là,” Oline rặn ra — “về con Barbro — chẳng phải nó chửa to lắm rồi sao?”

“Chửa?” Brede rên lên dưới sức nặng. Chao, một đám rước kỳ lạ; nhưng Axel cứ để người ta cõng suốt quãng đường tới khi được đặt xuống trước cửa nhà mình.

Brede thở phì phò, hết cả hơi.

“Ừ, mà rồi sao — rốt cuộc nó có đẻ không?” Oline hỏi.

Axel vội cắt ngang bằng một lời với Brede: “Chẳng có ông thì đêm nay tôi chẳng biết làm sao mà về nổi tới nhà.” Rồi gã cũng chẳng quên Oline: “Còn bác, Oline, bác là người đầu tiên tìm ra tôi. Tôi phải cảm ơn cả hai người về tất cả.”

Axel được cứu như thế đó…

* * * * *

Mấy ngày sau đó Oline chẳng nói chuyện gì khác ngoài cái sự kiện lớn ấy; Axel vất vả lắm mới giữ được bà ta trong giới hạn. Oline chỉ được ra đúng cái chỗ bà ta đang đứng trong buồng khi một thiên thần của Chúa gọi bà ta ra cửa để nghe một tiếng kêu cứu — Axel quay lại làm trong rừng, và khi đã hạ đủ cây thì bắt đầu chở lên xưởng cưa ở Sellanraa.

Một công việc mùa đông tốt và đều đặn, chừng nào nó còn kéo dài; chở gỗ thô lên và mang ván xẻ về. Điều quan trọng là phải nhanh mà làm cho xong trước năm mới, khi sương giá xuống thật sự và cái cưa không chạy được nữa. Mọi sự đang trôi chảy, mọi thứ đều tốt đẹp hết mức có thể mong. Nếu tình cờ Sivert từ làng lên với một cỗ xe trượt trống, nó sẽ dừng lại lấy một khúc gỗ chở giúp dọc đường, để đỡ cho hàng xóm. Rồi hai người bàn chuyện với nhau, và ai cũng mừng được nói chuyện với người kia.

“Dưới làng có tin gì mới không?” Axel hỏi.

“Ơ, chẳng có gì mấy,” Sivert nói. “Nghe nói có một người mới sắp lên lấy đất.”

Một người mới — cái đó thì chẳng có gì; ấy chỉ là lối Sivert nói. Giờ năm nào cũng có người mới lên lấy đất; dưới Breidablik giờ đã có năm cái trại mới. Lên cao hơn thì chậm hơn, dù đất bên ấy tốt hơn. Người dám đi xa nhất là Isak, khi hắn dựng nhà ở Sellanraa; hắn là người gan nhất và khôn nhất trong tất cả. Sau đó Axel Ström tới — mà giờ lại có thêm một người mới. Người mới sẽ có một khoảnh đất canh tác lớn và rừng ở phía dưới Maaneland — đất thì thiếu gì.

“Có nghe nói người thế nào không?” Axel hỏi.

“Không,” Sivert nói. “Nhưng ông ta mang cả nhà cửa làm sẵn lên, để dựng lên cái là xong ngay.”

“Ơ! Thế thì giàu à?”

“Ừ, xem chừng thế. Lại có vợ với ba đứa con đi cùng; với cả ngựa và gia súc.”

“Thế thì hẳn là người giàu rồi. Còn gì về ông ta nữa không?”

“Không. Ba mươi ba tuổi.”

“Mà tên gì?”

“Nghe nói là Aron. Đặt tên chỗ ấy là Storborg.”

“Storborg? Hừm. Thế thì chẳng phải chỗ nhỏ.”

“Ông ta từ ngoài biển lên. Nghe nói ngoài ấy có một vựa cá.”

“Hừm — vựa cá. Chẳng biết ông ta có biết gì về nghề nông không,” Axel nói. “Cậu chỉ nghe được thế thôi à? Chẳng còn gì nữa?”

“Không. Ông ta trả tiền mặt hết cho tờ khoán. Tôi chỉ nghe được thế. Nghe nói ông ta kiếm được cả đống tiền từ cái vựa cá. Mà giờ lên đây định mở một cửa hàng.”

“Ơ! Một cửa hàng?”

“Ừ, nghe nói thế.”

“Hừm. Thế ra ông ta định mở cửa hàng?”

Đây mới là mẩu tin thật sự quan trọng, và hai người hàng xóm bàn tới bàn lui đủ đường trong lúc đánh xe lên. Đó là một tin lớn — có lẽ là sự kiện lớn nhất trong cả lịch sử vùng này; ừ, có khối điều để nói về nó. Ông ta sẽ buôn bán với ai, cái người mới ấy? Với tám nhà đã lập nghiệp trên đất công? Hay ông ta còn tính cả khách từ dưới làng? Đằng nào thì cái cửa hàng cũng có nghĩa rất nhiều với họ; rất có thể nó sẽ kéo thêm người lên khai hoang. Các trại có thể lên giá — ai nói được?

Họ bàn tới bàn lui như thể chẳng bao giờ chán. Ừ, đây là hai con người với những mối quan tâm và những mục đích của riêng mình, lớn lao với họ chẳng kém gì của người khác. Cái xóm khai hoang là thế giới của họ; công việc, mùa màng, vụ gặt là những cuộc phiêu lưu của đời họ. Chừng ấy mối quan tâm và hào hứng chẳng đủ sao? Chao, đủ chán! Đã bao lần họ phải ngủ chập chờn, phải làm quá cả giờ ăn từ lâu; nhưng họ chịu được, họ chịu đựng được mà chẳng hề gì; nằm ghim dưới một cái cây bảy tiếng đồng hồ chẳng phải chuyện làm hỏng cả đời người ta chừng nào tay chân còn lành lặn. Một thế giới hẹp, một cuộc đời chẳng có triển vọng lớn nào? Chao, thật đấy! Thế còn cái Storborg mới này, một cửa hàng, một cửa hiệu ở chốn hoang này — chừng ấy triển vọng chẳng đủ sao?

Họ bàn tới bàn lui mãi tới lễ Nô-en…

Axel nhận được một lá thư, một phong bì lớn có in hình sư tử; nó từ Nhà nước gửi tới. Gã phải tới chỗ Brede Olsen nhận dây, một bộ máy điện tín, dụng cụ và đồ nghề, rồi tiếp quản việc coi sóc đường dây từ ngày mồng Một tháng Giêng.