Phúc lành của đất — Chương 26: Quyển II · Chương VII
Chương 26 / 31 · Bài review Phúc lành của đất
Một người đàn ông đi ngược lên qua vùng đồi. Gió và mưa; những trận mưa thu đã bắt đầu, nhưng người ấy chẳng mấy bận tâm, trông anh ta vui trong lòng, mà anh ta vui thật. Đó là Axel Ström, từ tỉnh và từ toà án về — họ đã thả gã. Ừ, một người sung sướng — trước hết, dưới bến đã có một cỗ máy cắt cỏ và một cái bừa cho gã, mà hơn thế nữa, gã được tự do, và vô tội. Chẳng dự phần gì vào việc giết một đứa bé. Ừ, sự thể có thể xoay ra như thế đấy!
Nhưng những gì gã đã trải qua! Đứng đó làm nhân chứng, người cày ruộng ấy đã biết những ngày khó khăn nhất đời mình. Gã chẳng được lợi gì khi làm cho tội Barbro có vẻ nặng hơn, và vì lẽ ấy gã cẩn thận chẳng nói quá nhiều, gã còn chẳng nói hết những gì mình biết; từng lời phải moi ra khỏi miệng gã, mà gã thì phần lớn chỉ đáp “Có” và “Không”. Thế chưa đủ sao? Chẳng lẽ gã phải làm cho nó to hơn cái nó vốn đã to? Chao, nhưng có những lúc trông thật là nghiêm trọng; kìa là những người của Pháp luật, áo choàng đen và nguy hiểm, xem chừng với họ thì dễ lắm, chỉ đôi ba lời là xoay được cả sự việc theo ý mình mà kết án gã. Nhưng rốt cuộc họ là những người tử tế, và chẳng cố đẩy gã tới chỗ tan nát. Vả lại, tình cờ có những thế lực mạnh đang ra sức cứu Barbro, mà cái đó cũng có lợi cho gã.
Thế thì trên đời còn gì để gã phải lo?
Chính Barbro thì khó lòng cố làm cho mọi sự có vẻ tệ hơn mức cần thiết cho người chủ cũ và người tình cũ của mình; gã biết những chuyện khủng khiếp về vụ này và về một vụ trước cùng loại; cô ta chẳng thể ngu đến thế. Không, Barbro đủ khôn; cô ta nói một lời tốt cho Axel, và tuyên bố rằng gã chẳng biết gì về chuyện cô ta đã sinh một đứa con cho tới khi mọi sự đã xong. Về vài mặt thì có lẽ gã khác những người đàn ông khác, và họ chẳng phải lúc nào cũng hợp nhau, nhưng gã là một người trầm lặng, và là một người tốt về mọi mặt. Không, đúng là gã đã đào một cái huyệt mới mà chôn cái thi thể ở đó, nhưng chuyện ấy lâu sau mới xảy ra, mà là vì gã nghĩ chỗ đầu tiên chưa đủ khô, dù thật ra nó khô, chỉ là cái lối nghĩ kỳ quặc của Axel.
Thế thì Axel còn gì phải sợ khi Barbro nhận hết tội về mình như thế? Còn về chính Barbro thì đã có những thế lực lớn đang ra tay.
Bà _Lensmand_ Heyerdahl đã đứng ra lo vụ này. Bà đi khắp nơi, tới cả người sang lẫn người hèn, chẳng nề hà gì, đòi được gọi làm nhân chứng, và đọc một bài diễn văn trước toà. Tới lượt mình, bà đứng đó trước mặt tất cả và ra dáng một bậc mệnh phụ; bà đề cập tới vấn đề giết con ở mọi khía cạnh, và giảng cho toà cả một bài dài về đề tài ấy — gần như thể bà đã xin phép trước để nói gì tuỳ thích. Ừ, người ta muốn nói gì về bà _Lensmand_ Heyerdahl thì nói, nhưng đọc diễn văn thì bà làm được, mà lại thông thạo chính trị và các vấn đề xã hội, chẳng nghi ngờ gì. Thật lạ, chẳng biết bà tìm đâu ra ngần ấy lời. Chốc chốc viên thẩm phán chủ toạ có vẻ muốn kéo bà về đúng chủ đề, nhưng có lẽ ông ta chẳng nỡ ngắt lời, nên cứ để bà nói. Rồi cuối cùng bà tự nguyện cung cấp một hai thông tin hữu ích, và đưa ra trước toà một lời đề nghị gây sửng sốt.
Bỏ qua mọi thứ thuật ngữ pháp lý thì sự việc diễn ra như sau:
“Chúng tôi, những người đàn bà,” bà Heyerdahl nói, “chúng tôi là một nửa bất hạnh và bị áp bức của nhân loại. Chính đàn ông làm ra luật, còn chúng tôi thì chẳng có một lời nào trong chuyện đó. Nhưng có người đàn ông nào đặt được mình vào địa vị một người đàn bà đang sinh nở không? Ông ta có bao giờ nếm nỗi khiếp sợ ấy, có bao giờ biết những cơn đau khủng khiếp ấy, có bao giờ kêu thét lên trong giờ khắc quằn quại ấy?
“Trong vụ này, người sinh con là một đứa ở. Một cô gái, chưa chồng, và do đó suốt quãng thời gian gay go ấy phải cố giấu tình trạng của mình. Mà tại sao cô ta phải tìm cách giấu? Vì xã hội. Xã hội khinh miệt người đàn bà chưa chồng mà sinh con. Xã hội chẳng những không che chở cô ta, mà còn truy đuổi cô ta, đuổi theo cô ta bằng sự khinh bỉ và nhục nhã. Thật ghê tởm! Chẳng một con người nào còn chút trái tim mà lại không phẫn nộ trước một tình trạng như thế. Cô gái ấy chẳng những phải đưa một đứa con ra đời, tự nó đã là điều đủ khó khăn, mà còn bị đối xử như một tội phạm chính vì lẽ ấy. Tôi xin mạn phép nói rằng thật may cho cô gái bất hạnh giờ đang bị buộc tội trước toà đây là đứa con của cô ta đã ra đời do tai nạn khi cô ta ngã xuống nước, và đã chết đuối. May cho chính cô ta và cho đứa bé. Chừng nào xã hội còn giữ thái độ như hiện nay thì một người mẹ chưa chồng phải được coi là vô tội ngay cả khi cô ta giết con mình.”
Tới đây nghe có một tiếng lầm bầm khẽ từ phía viên thẩm phán chủ toạ.
“Hoặc dù sao thì hình phạt cũng chỉ nên là tượng trưng,” bà Heyerdahl nói. “Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều nhất trí,” bà nói tiếp, “rằng sự sống của trẻ sơ sinh cần được gìn giữ, nhưng điều đó có nghĩa là chẳng một luật lệ nhân đạo giản dị nào được áp dụng cho người mẹ bất hạnh hay sao? Xin hãy nghĩ, hãy cân nhắc những gì cô ta đã trải qua suốt thời kỳ mang thai, những đau khổ cô ta đã chịu đựng khi cố giấu tình trạng của mình, mà suốt lúc ấy chẳng biết mình và đứa con sắp ra đời sẽ trông vào đâu. Chẳng người đàn ông nào hình dung nổi,” bà nói. “Đứa bé ít nhất cũng bị giết vì lòng thương. Người mẹ cố cứu mình và đứa con mình yêu khỏi nỗi khốn khổ của đời nó. Nỗi nhục lớn hơn sức cô ta chịu đựng, và thế là cái kế hoạch dần dần hình thành trong đầu cô ta, kế hoạch tống khứ đứa bé đi. Việc sinh nở diễn ra lén lút, và suốt hai mươi bốn tiếng người mẹ ở trong một trạng thái mê sảng đến nỗi vào lúc giết đứa bé thì cô ta đơn giản là không chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nói cho thực tế, chính cô ta chẳng hề thực hiện hành vi ấy, vì lúc đó cô ta không còn tỉnh trí. Với từng khúc xương trong người còn nhức nhối sau khi sinh, cô ta phải lấy đi mạng sống của cái sinh linh bé nhỏ ấy và giấu cái thi thể đi — hãy nghĩ xem cần một nỗ lực ý chí thế nào ở đây! Lẽ tự nhiên, tất cả chúng ta đều muốn mọi đứa trẻ được sống; chúng ta đau lòng khi nghĩ rằng có đứa bị tiêu diệt theo lối ấy. Nhưng đó là lỗi của xã hội; lỗi của một xã hội vô vọng, không thương xót, ưa đồn thổi, ưa hại người và đầy ác tâm, lúc nào cũng rình rập để nghiền nát một người mẹ chưa chồng bằng mọi phương tiện trong tay!
“Nhưng — ngay cả sau khi bị xã hội đối xử như thế, người mẹ bị truy đuổi ấy vẫn có thể đứng dậy. Thường xảy ra chuyện những cô gái ấy, sau một bước lỡ như thế, lại chính vì lẽ ấy mà phát triển được những phẩm chất tốt đẹp và cao quý nhất của mình. Xin toà hãy hỏi các bà quản ở những nhà tế bần, nơi tiếp nhận các bà mẹ chưa chồng cùng con họ, xem có phải thế không. Mà kinh nghiệm đã cho thấy rằng chính những cô gái ấy — những người bị xã hội buộc phải giết con mình — lại làm những cô bảo mẫu tốt nhất. Chắc chắn đó là điều đáng để bất cứ ai và mọi người phải nghiêm túc suy nghĩ?
“Rồi còn một mặt khác của vấn đề. Tại sao người đàn ông lại được tha? Người mẹ bị kết tội giết con thì bị tống vào tù và bị hành hạ, còn người cha, kẻ quyến rũ, thì chẳng ai đụng tới. Vậy mà chính vì hắn mà đứa bé mới tồn tại, hắn là kẻ dự phần vào tội ấy; quả thật phần của hắn còn lớn hơn phần của người mẹ; nếu chẳng có hắn thì đã chẳng có tội. Vậy tại sao hắn lại được tha bổng? Vì luật do đàn ông làm ra. Câu trả lời là thế. Sự quái gở của những thứ luật do đàn ông làm ra ấy tự nó đã kêu thấu tới Trời xin can thiệp. Mà chúng tôi, những người đàn bà, sẽ chẳng được cứu chừng nào chúng tôi chưa được có tiếng nói trong các cuộc bầu cử, và chưa được tự mình làm ra luật.
“Nhưng,” bà Heyerdahl nói, “nếu đó là cái số phận khủng khiếp dành cho người mẹ chưa chồng có tội — hay ta hãy nói, người có tội rõ ràng hơn — đã giết con mình, thì còn người vô tội chỉ bị nghi ngờ phạm tội mà chẳng hề phạm thì sao? Xã hội đền bù gì cho cô ta? Chẳng gì cả! Tôi xin làm chứng rằng tôi biết cô gái đang bị buộc tội đây; biết từ khi cô ta còn nhỏ; cô ta đã ở trong nhà tôi, mà cha cô ta là phụ tá của chồng tôi. Chúng tôi, những người đàn bà, dám nghĩ và dám cảm thấy trái hẳn với những lời buộc tội và sự truy đuổi của đàn ông; chúng tôi dám có ý kiến riêng của mình. Cô gái kia đã bị bắt, bị tước mất tự do, vì bị nghi trước hết là đã giấu việc sinh con, và sau nữa là đã giết đứa con vừa sinh ấy. Trong lòng tôi chẳng chút nghi ngờ rằng cô ta chẳng có tội trong cả hai điều ấy — chính toà rồi cũng sẽ đi tới cái kết luận hiển nhiên này. Giấu việc sinh con ư — đứa bé ra đời giữa ban ngày. Đúng là lúc ấy người mẹ ở một mình — nhưng đằng nào thì ai có thể ở bên cô ta được? Chỗ ấy nằm tít nơi hoang dã, sinh linh duy nhất trong tầm với là một người đàn ông — làm sao cô ta cho gọi một người đàn ông vào lúc như thế? Bất cứ người đàn bà nào cũng sẽ bảo quý vị rằng chuyện ấy là không thể — chẳng thể nghĩ tới. Rồi — người ta bảo rằng sau đó hẳn cô ta đã giết đứa bé. Nhưng đứa bé sinh ra dưới nước — người mẹ ngã xuống một dòng suối lạnh buốt, và đứa bé ra đời. Cô ta ra chỗ nước làm gì? Cô ta là một đứa ở, tức là một kẻ nô lệ, và có việc hằng ngày phải làm; cô ta đi lấy cành bách xù về cọ rửa. Rồi khi băng qua suối, cô ta trượt chân ngã xuống. Rồi cô ta nằm đó; đứa bé ra đời, và chết đuối dưới nước.”
Bà Heyerdahl dừng lại. Nhìn vẻ mặt của toà và của những người dự khán thì bà thấy rằng mình đã nói hay tuyệt; cả phòng lặng phắc, chỉ có Barbro ngồi chốc chốc lại chấm mắt vì thuần xúc động. Rồi bà Heyerdahl kết thúc bằng những lời này: “Chúng tôi, những người đàn bà, cũng có trái tim, cũng có tình cảm. Tôi đã gửi con mình cho người lạ trông nom để đi cả quãng đường này mà ra làm chứng thay cho cô gái bất hạnh đang ngồi kia. Luật của đàn ông chẳng ngăn được đàn bà suy nghĩ; mà tôi nghĩ thế này, rằng cô gái kia đã bị trừng phạt đủ cho một tội chẳng có. Xin hãy tha bổng cô ta, hãy thả cô ta ra, và chính tôi sẽ nhận cô ta về. Cô ta sẽ là người bảo mẫu tốt nhất tôi từng có.”
Rồi bà Heyerdahl bước xuống.
Viên thẩm phán bèn nói: “Nhưng tôi nhớ ban nãy bà vừa nói rằng những người bảo mẫu tốt nhất là những người _đã_ giết con mình?”
Chao, nhưng viên thẩm phán chẳng có ý chống lại bà Heyerdahl, chẳng chút nào — chính ông ta cũng nhân đạo hết mức, một người hiền như một ông cha xứ. Khi viên công tố đặt vài câu hỏi cho nhân chứng sau đó, viên thẩm phán phần lớn thời gian ngồi ghi chép lên mấy tờ giấy.
Phiên toà chỉ kéo dài tới hơn trưa một chút; nhân chứng ít, mà vụ việc thì đủ rõ. Axel Ström ngồi hy vọng điều tốt nhất, rồi thình lình xem chừng viên công tố và bà Heyerdahl liên thủ với nhau để làm khó gã, vì gã đã chôn cái thi thể thay vì khai báo cái chết. Gã bị chất vấn khá gắt về điểm này, và rất có thể đã thoát ra khá tệ nếu thình lình gã chẳng trông thấy Geissler ngồi trong phòng xử. Ừ, đúng thế, Geissler có mặt ở đó. Điều ấy làm Axel lên tinh thần, gã không còn thấy mình đơn độc chống lại Pháp luật đang quyết đè bẹp mình nữa. Và Geissler gật đầu với gã.
Ừ, Geissler đã lên tỉnh. Ông ta chẳng xin được gọi làm nhân chứng, nhưng ông ta có mặt ở đó. Ông ta cũng đã bỏ ra đôi ba ngày trước phiên xử để tự mình xem xét sự việc, và ghi lại những gì mình nhớ về chính lời Axel kể ở Maaneland. Phần lớn hồ sơ, theo Geissler, có phần chẳng ổn; cái ông _Lensmand_ Heyerdahl này rõ ràng là một kẻ đầu óc hẹp hòi, suốt từ đầu tới cuối chỉ cố chứng minh rằng Axel đồng loã. Đồ ngốc, đồ đần — hắn biết gì về đời sống nơi hoang dã, khi hắn có thể thấy rằng đứa bé chính là cái Axel trông vào để giữ người đàn bà ấy, người bạn đời của gã, ở lại trên đất mình!
Geissler nói chuyện với viên công tố, nhưng xem chừng ở đó chẳng cần can thiệp mấy; ông ta muốn giúp Axel về lại với trại và đất của gã, nhưng xem chừng Axel chẳng cần ai giúp. Bởi vụ này đang đi tốt về phần chính Barbro, mà nếu cô ta được tha bổng thì chẳng còn chuyện đồng loã nào nữa. Tất cả sẽ tuỳ vào lời khai của các nhân chứng.
Khi mấy nhân chứng ít ỏi đã khai xong — Oline chẳng bị triệu, mà chỉ có ông _Lensmand_, chính Axel, các giám định viên, đôi ba cô gái dưới làng — khi họ đã khai xong thì tới giờ nghỉ trưa, và Geissler lại tới chỗ viên công tố lần nữa. Viên công tố cho rằng mọi sự đang đi tốt cho cô gái Barbro, mà thế thì càng hay. Lời bà _Lensmand_ Heyerdahl có sức nặng lớn. Giờ mọi sự tuỳ ở phán quyết của toà.
“Ông có quan tâm gì tới cô gái ấy à?” viên công tố hỏi.
“Ơ, tới một mức nào đó,” Geissler đáp — “hay đúng hơn, có lẽ là tới người đàn ông kia.”
“Cô ta cũng từng ở trong nhà ông à?”
“Không, anh ta chưa bao giờ ở trong nhà tôi.”
“Tôi đang nói về cô gái. Chính cô ta mới được toà đồng cảm.”
“Không, cô ta chưa bao giờ ở trong nhà tôi cả.”
“Còn người đàn ông — hừm, xem chừng anh ta chẳng thoát ra được đẹp lắm,” viên công tố nói. “Đi một mình vào rừng chôn cái thi thể — trông xấu lắm, xấu lắm.”
“Chắc anh ta muốn nó được chôn cho tử tế,” Geissler nói. “Ban đầu nó có được chôn thật đâu.”
“Ừ thì dĩ nhiên một người đàn bà chẳng có sức như đàn ông mà đào. Mà trong tình trạng ấy — hẳn cô ta đã kiệt sức rồi. Nói chung,” viên công tố nói, “tôi cho rằng dạo gần đây chúng ta đã đi tới chỗ nhìn những vụ giết con này một cách nhân đạo hơn. Nếu tôi là người xử thì tôi chẳng bao giờ dám kết tội cô gái ấy; mà với những gì đã phơi ra trong vụ này, tôi sẽ chẳng dám đề nghị kết án.”
“Rất mừng được nghe thế,” Geissler nói, rồi cúi chào.
Viên công tố nói tiếp: “Với tư cách một con người, một cá nhân, tôi còn đi xa hơn mà nói: tôi sẽ chẳng bao giờ kết tội một người mẹ chưa chồng nào vì đã giết con mình.”
“Thú vị quá,” Geissler nói, “khi thấy viên công tố hoàn toàn nhất trí với những gì bà Heyerdahl vừa nói trước toà.”
“Ồ, bà Heyerdahl!… Nhưng theo tôi thì trong lời bà ấy có nhiều điều đáng nghe. Nói cho cùng, tất cả những bản án ấy thì được cái gì? Các bà mẹ chưa chồng đã chịu đủ từ trước, và đã bị cái thái độ tàn nhẫn vô cảm của thiên hạ dìm xuống thấp đến thế trong mọi cái nhìn của con người — chừng ấy hình phạt là đủ rồi.”
Geissler đứng dậy, rồi rốt cuộc nói: “Hẳn thế. Nhưng còn những đứa trẻ thì sao?”
“Đúng,” viên công tố nói, “chuyện những đứa trẻ thì buồn thật. Nhưng dù sao, cân nhắc mọi bề, có khi thế lại hơn. Con ngoài giá thú thì sống khổ, mà thường thì hư hỏng.”
Có lẽ Geissler thấy nhoi lên một chút ác ý trước cái vẻ tự mãn đẫy đà của con người luật pháp ấy; ông ta nói:
“Erasmus sinh ra ngoài giá thú.”
“Erasmus…?”
“Erasmus xứ Rotterdam.”
“Hừm.”
“Leonardo cũng thế.”
“Leonardo da Vinci? Thật à? Ừ thì dĩ nhiên, có ngoại lệ, không thì đã chẳng có quy tắc. Nhưng nhìn chung…”
“Chúng ta ra luật bảo vệ thú và chim,” Geissler nói; “thế mà chẳng bận tâm gì tới con cái mình thì cũng hơi lạ, phải không?”
Viên công tố chậm rãi và trang trọng với tay lấy mấy tờ giấy trên bàn, như ngầm bảo rằng ông ta chẳng có thì giờ tiếp tục câu chuyện. “Vâng…” ông ta nói lơ đãng. “Vâng, vâng, hẳn thế…”
Geissler cảm ơn về một cuộc trò chuyện hết sức bổ ích, rồi cáo từ.
Ông ta lại ngồi xuống trong phòng xử, để có mặt sớm. Có lẽ ông ta chẳng phật lòng khi cảm nhận quyền lực của mình; ông ta biết chuyện một mảnh vải bọc nào đó, một cái áo đàn ông cắt đôi, để đựng — ta cứ nói là cành cây làm chổi; biết chuyện cái thi thể một đứa bé trôi nổi dưới cảng Bergen — ừ, ông ta có thể làm khó cho toà nếu muốn; một lời của ông ta sẽ có sức bằng nghìn thanh gươm. Nhưng hẳn Geissler chẳng có ý thốt ra lời ấy lúc này trừ phi cần tới. Mọi sự đang đi rất đẹp mà chẳng cần; đến cả viên công tố cũng đã tuyên bố mình đứng về phía bị cáo.
Phòng xử đầy dần, và toà lại vào phiên.
Một tấn hài kịch thú vị để xem ở một thị trấn nhỏ. Cái nghiêm nghị đầy cảnh cáo của viên công tố, cái hùng biện đầy xúc cảm của luật sư bào chữa. Toà ngồi nghe cái xem chừng là bổn phận của mình đối với vụ một cô gái tên Barbro và cái chết của đứa con cô ta.
Dù vậy, rốt cuộc quyết định cũng chẳng phải chuyện nhẹ. Viên công tố là một người trông ưa nhìn, mà hẳn cũng là người có trái tim, nhưng xem chừng gần đây có gì đó làm ông ta bực, hoặc có khi ông ta bỗng nhớ ra rằng mình đang giữ một chức vụ nào đó trong Nhà nước và buộc phải hành động theo quan điểm ấy. Một điều khó hiểu, nhưng rõ ràng giờ ông ta ít khoan dung hơn hồi sáng; nếu tội ấy đã được phạm, ông ta nói, thì đó là chuyện nghiêm trọng, và sự thể quả sẽ tối đen nếu có thể chắc chắn tuyên bố rằng nó tối đen như những gì hiện ra từ lời khai của các nhân chứng đã nghe. Đó là điều toà phải định đoạt. Ông ta muốn lưu ý ba điểm: thứ nhất, liệu trước mắt họ có phải là một vụ giấu việc sinh con; điều đó với toà đã rõ chưa. Ông ta có vài nhận xét riêng về điểm này. Điểm thứ hai là mảnh vải bọc, cái mảnh áo — vì sao bị cáo đã mang nó theo hôm ấy? Có phải để dùng nó vào một mục đích đã định trước? Ông ta triển khai thêm giả thiết này. Điểm thứ ba là việc chôn cất vội vã và đáng ngờ, chẳng khai báo cái chết với cha xứ hay ông _Lensmand_. Ở đây, người đàn ông mới là kẻ chịu trách nhiệm chính, và hết sức quan trọng là toà phải đi tới kết luận đúng về điểm ấy. Bởi hiển nhiên là nếu người đàn ông đồng loã, và do đó đã tự mình lo việc chôn cất, thì đứa ở của anh ta hẳn phải phạm một tội thì anh ta mới có thể đồng loã trong đó.
“Hừm,” từ ai đó trong phòng xử.
Axel Ström lại thấy mình lâm nguy. Gã ngước lên mà chẳng gặp một ánh mắt nào; mọi con mắt đều dán vào viên công tố đang nói. Nhưng ở tít phía dưới phòng xử, Geissler lại ngồi đó, trông hết sức khinh khỉnh, như thể sắp nứt ra vì cái hơn người của mình, môi dưới trề ra, mặt ngẩng lên trần. Cái dửng dưng khủng khiếp ấy trước sự trang nghiêm của toà, và cái tiếng “Hừm” thốt ra to và chẳng buồn che giấu ấy, làm Axel phấn chấn hẳn; gã chẳng còn thấy mình đơn độc chống lại cả thế gian.
Và giờ mọi sự lại xoay chiều tốt lên. Viên công tố này rốt cuộc xem chừng cho rằng mình đã làm đủ, đã đạt được tất cả những gì có thể trong việc hướng mối nghi ngờ và ác cảm về phía người đàn ông; và giờ ông ta dừng. Ông ta còn làm hơn thế; ông ta gần như quay hẳn lại, và chẳng đòi kết án. Ông ta kết thúc bằng cách nói rành rọt rằng, sau lời khai của các nhân chứng trong vụ này, về phần mình ông ta không đề nghị toà kết tội bị cáo.
Thế là ổn rồi, Axel nghĩ — chuyện này coi như xong.
Rồi tới lượt luật sư bào chữa, một người trẻ đã học luật, và nay được giao cái vụ hết sức thoả đáng này. Chỉ giọng anh ta thôi đã cho thấy anh ta nhìn nó ra sao; chưa từng có người đàn ông nào chắc chắn hơn về việc mình đang bênh vực một người vô tội. Nói cho thật, cái bà Heyerdahl ấy đã cướp mất gió của anh ta từ trước, và sáng nay đã dùng vài luận điểm anh ta định dùng; anh ta bực vì bà ta đã khai thác mất cái đề tài “xã hội” — chao, mà chính anh ta cũng có thể nói được vài điều loại nhất về xã hội. Anh ta phẫn nộ trước sự khoan dung sai lầm của viên thẩm phán chủ toạ khi chẳng ngắt lời bà ta; đó tự nó đã là một bài bào chữa, một bản luận cứ soạn sẵn — thế thì còn gì cho anh ta?
Anh ta bắt đầu từ đầu câu chuyện đời cô gái Barbro. Nhà cô ta chẳng khá giả, tuy chăm chỉ và đứng đắn; cô ta đi ở từ nhỏ, trước hết là ở nhà ông _Lensmand_. Sáng nay toà đã nghe bà chủ cô ta, bà Heyerdahl, nghĩ gì về cô ta — chẳng ai có thể mong một lời tiến cử nào đẹp hơn. Rồi Barbro tới Bergen. Tới đây luật sư nhấn rất mạnh vào một giấy chứng nhận viết đầy tình cảm của hai thương gia trẻ mà Barbro đã làm cho trong thời gian ở Bergen — rõ ràng ở một vị trí được tin cậy. Rồi Barbro trở về làm quản gia cho người đàn ông chưa vợ này ở một vùng hẻo lánh. Và ở đây nỗi khổ của cô ta bắt đầu.
Cô ta thấy mình có thai với người đàn ông này. Vị đồng nghiệp uyên bác bên công tố đã nhắc tới — bằng một lối hết sức tế nhị và ý tứ, xin được nói thế — vấn đề giấu việc sinh con. Barbro có tìm cách giấu tình trạng của mình không; cô ta có chối rằng mình có thai không? Hai nhân chứng, hai cô gái cùng làng, đã cho rằng cô ta đang ở trong tình trạng ấy; nhưng khi họ hỏi, cô ta chẳng hề chối, mà chỉ lảng đi. Trong trường hợp ấy thì một cô gái trẻ tự nhiên còn làm gì ngoài lảng đi? Chẳng ai khác hỏi cô ta về chuyện đó cả. Đi thú với bà chủ ư? Cô ta chẳng có bà chủ nào; chính cô ta là bà chủ ở đó. Đúng là cô ta có một ông chủ, nhưng chẳng thể trông mong một cô gái tâm sự với một người đàn ông về chuyện như thế; cô ta tự mang lấy cây thánh giá của mình; chẳng hát, chẳng thì thào, mà lặng thinh như một thầy tu dòng khổ tu. Giấu ư? Không, cô ta chỉ giữ kín cho riêng mình.
Đứa bé ra đời — một bé trai lành lặn khoẻ mạnh; đã sống và đã thở sau khi sinh, nhưng đã bị ngạt. Toà đã được biết những tình huống quanh cuộc sinh nở này: nó diễn ra dưới nước; người mẹ ngã xuống suối, đứa bé ra đời, nhưng cô ta chẳng đủ sức cứu đứa bé. Cô ta nằm đó, mãi một lúc lâu sau mới tự dậy nổi. Trên thi thể chẳng thấy dấu vết bạo lực nào; chẳng có gì cho thấy nó bị cố ý giết; nó chết đuối do rủi ro lúc sinh, chỉ có thế. Lời giải thích tự nhiên nhất trên đời.
Vị đồng nghiệp uyên bác của anh ta có nhắc tới một mảnh vải hay tấm bọc, và coi là điều gì đó bí ẩn khi cô ta mang theo nửa cái áo hôm ấy. Điều bí ẩn ấy đủ rõ; cô ta mang cái áo để đựng cành bách xù đã tuốt. Cô ta có thể đã mang — ta cứ nói là một cái vỏ gối; sự thể là cô ta đã mang cái mảnh áo này. Đằng nào cô ta cũng phải có cái gì đó; cô ta chẳng thể ôm cái mớ ấy trên tay mà về. Không, chắc chắn chẳng có cơ sở gì để biến chuyện này thành bí ẩn.
Tuy nhiên, có một điểm chưa hẳn đã rõ: bị cáo có được chăm sóc và đối đãi đúng với những gì tình trạng lúc ấy của cô ta đòi hỏi không? Ông chủ có đối xử tử tế với cô ta không? Nếu thấy là có thì sẽ tốt cho anh ta. Chính cô gái, khi bị chất vấn, đã nói về người đàn ông ấy bằng những lời thoả đáng; mà điều này lại là bằng chứng cho chính sự cao thượng trong tính cách cô ta. Về phần mình, người đàn ông, Axel Ström, cũng đã kiềm chế trong các lời khai, chẳng cố chất thêm gánh nặng lên cô gái hay đổ lỗi cho cô ta bằng bất cứ cách nào. Trong việc này anh ta đã hành động đúng — chưa nói là khôn ngoan, bởi vụ của chính anh ta phụ thuộc rất nhiều vào việc cô ta ra sao. Đổ lỗi cho cô ta thì nếu cô ta bị kết tội, anh ta sẽ tự chuốc lấy sự sụp đổ của mình.
Chẳng thể xem xét hồ sơ và các lời khai trong vụ này mà không thấy mối cảm thông sâu sắc nhất với cô gái trẻ trong cảnh bơ vơ của mình. Vậy mà chẳng cần kêu gọi lòng thương xót cho cô ta, chỉ cần kêu gọi công lý và sự thấu hiểu của con người. Cô ta và ông chủ theo một lối nào đó là đã đính ước, nhưng một sự khác biệt nào đó về tính khí và mối quan tâm đã ngăn họ lấy nhau. Cô gái chẳng thể phó thác tương lai mình cho một người đàn ông như thế. Đây chẳng phải đề tài dễ chịu, nhưng có lẽ nên quay lại một khắc với chuyện mảnh vải bọc đã nói tới trước đó; ở đây cần lưu ý rằng cô gái đã lấy, chẳng phải một cái đồ lót của mình, mà một cái áo của ông chủ. Câu hỏi lập tức nảy ra: có phải chính người đàn ông đã đưa ra thứ vải ấy cho mục đích đó? Ở đây, thoạt đầu người ta có xu hướng thấy ít ra là một khả năng rằng người đàn ông, Axel, có phần nào dính dáng.
“Hừm,” từ ai đó trong phòng xử. To và cứng — to tới mức người đang nói phải dừng lại, và tất cả quay nhìn xem ai chịu trách nhiệm cho sự ngắt lời ấy. Viên thẩm phán chủ toạ cau mày.
Nhưng, luật sư bào chữa nói tiếp, trấn tĩnh lại, về phương diện này thì chúng ta cũng có thể yên lòng, nhờ chính bị cáo. Chia bớt tội ở đây xem chừng có lợi cho cô ta, nhưng cô ta chẳng hề tìm cách làm thế. Cô ta đã hoàn toàn và không dè dặt giải oan cho Axel Ström khỏi mọi sự đồng loã trong việc cô ta lấy cái áo của anh ta thay vì đồ của mình trên đường ra suối — tức là trên đường vào rừng hái bách xù. Chẳng có chút lý do nhỏ nhất nào để nghi ngờ lời khẳng định của bị cáo về điểm này; suốt từ đầu tới cuối các lời khai của cô ta đều được thấy là phù hợp với sự thật, mà ở đây hiển nhiên cũng vậy. Nếu cái áo do người đàn ông đưa cho thì điều đó ngầm giả định rằng việc giết đứa bé đã được lên kế hoạch từ trước — bị cáo, trung thực như cô ta vốn thế, đã chẳng hề tìm cách buộc cho người đàn ông ấy một tội chưa từng được phạm. Thái độ của cô ta suốt từ đầu tới cuối đều thẳng thắn và cởi mở đáng khen; cô ta chẳng hề cố đổ lỗi cho người khác. Trước toà có nhiều ví dụ về sự tinh tế trong tình cảm của bị cáo, chẳng hạn việc cô ta đã bọc thi thể đứa bé lại hết sức mình, và đặt nó xuống cho tử tế, đúng như ông _Lensmand_ đã tìm thấy.
Tới đây viên thẩm phán chủ toạ chen vào, thuần vì thủ tục, nhận xét rằng cái ông _Lensmand_ tìm thấy là ngôi mộ thứ 2 — ngôi mộ mà Axel đã chôn cái thi thể sau khi dời nó khỏi ngôi thứ nhất.
“Đúng, đúng thế. Tôi xin nhận lỗi,” luật sư nói, với tất cả sự kính trọng dành cho chủ toạ phiên toà. Hoàn toàn đúng. Nhưng — chính Axel đã khai rằng anh ta chỉ mang cái thi thể từ ngôi mộ này sang đặt vào ngôi mộ kia. Mà chẳng thể nghi ngờ rằng một người đàn bà thì bọc một đứa bé khéo hơn một người đàn ông — mà ai khéo nhất? Chắc chắn là bàn tay dịu dàng của một người mẹ?
Viên thẩm phán chủ toạ gật đầu.
Đằng nào thì — chẳng lẽ cô gái này, nếu là hạng khác, đã không thể chôn đứa bé trần truồng? Người ta thậm chí có thể nói rằng cô ta đã có thể quẳng nó vào thùng rác. Cô ta có thể đã bỏ nó ngoài trời dưới một gốc cây cho chết cóng — nghĩa là, dĩ nhiên, nếu nó chưa chết. Cô ta có thể đã bỏ nó vào lò lúc ở một mình mà đốt cháy đi. Cô ta có thể đã mang nó lên con sông ở Sellanraa mà ném xuống đó. Nhưng người mẹ này chẳng làm điều nào trong những điều ấy; cô ta bọc đứa con đã chết gọn ghẽ trong một mảnh vải rồi chôn nó. Mà nếu lúc mở mộ ra người ta thấy cái thi thể được bọc gọn ghẽ thì hẳn phải là một người đàn bà chứ chẳng phải một người đàn ông đã bọc nó như thế.
Và giờ, luật sư bào chữa nói tiếp, việc của toà là định xem có thể quy cho cô gái Barbro mức tội nào cho phải. Chẳng còn mấy điều để có thể trách cô ta — quả thật, theo ý anh ta, luật sư, thì chẳng còn gì. Trừ phi toà thấy có lý do kết tội về việc không khai báo cái chết. Nhưng ở đây, lại nữa — đứa bé đã chết, mà chẳng gì đổi được điều đó; chỗ ấy nằm tít nơi hoang dã, cách cha xứ và ông _Lensmand_ hàng bao nhiêu dặm; chắc chắn là tự nhiên khi để nó yên giấc vĩnh hằng trong một nấm mộ gọn ghẽ giữa rừng. Mà nếu chôn nó như thế là một tội thì bị cáo cũng chẳng có tội hơn cha đứa bé — như thế thì cái lỗi ấy chắc chắn nhẹ đủ để bỏ qua. Thực tiễn hiện đại ngày càng thiên về việc coi trọng cải tạo người phạm tội hơn là trừng phạt tội trạng. Cái hệ thống đòi trừng phạt mọi thứ trên đời là một hệ thống lỗi thời — đó là _lex talionis_ của Cựu Ước, mắt đền mắt răng đền răng. Thời nay chẳng còn cái tinh thần ấy trong pháp luật. Pháp luật ngày nay nhân đạo hơn, tìm cách tự điều chỉnh theo mức độ ý định và chủ đích phạm tội bộc lộ trong từng vụ.
Không! Toà chẳng bao giờ có thể kết tội cô gái này. Mục đích của một phiên xử chẳng phải là bổ sung thêm vào số tội phạm, mà là trả về cho xã hội một thành viên tốt và hữu ích. Cần lưu ý rằng bị cáo nay đã có triển vọng một chỗ làm mới, nơi cô ta sẽ được giám sát tốt nhất có thể. Bà _Lensmand_ Heyerdahl, với hiểu biết thân tình về cô gái và với kinh nghiệm quý báu của chính mình với tư cách một người mẹ, đã mở rộng cửa nhà mình cho cô gái; toà sẽ ghi nhớ sức nặng của trách nhiệm gắn với quyết định của mình ở đây, rồi sẽ kết tội hoặc tha bổng bị cáo. Cuối cùng, anh ta xin cảm ơn vị đồng nghiệp uyên bác bên công tố, người đã rộng lượng không đề nghị kết án — một bằng chứng đáng mừng về sự thấu hiểu sâu sắc và nhân đạo.
Luật sư bào chữa ngồi xuống.
Phần còn lại của phiên toà chẳng kéo dài. Phần tổng kết chỉ là lặp lại đúng những điểm ấy, nhìn từ hai phía đối nghịch, một bản tóm tắt ngắn gọn diễn biến của vở kịch, khô, tẻ và trang nghiêm. Mọi sự đều đã được thu xếp rất thoả đáng cả mọi bề; cả hai luật sư đều đã chỉ ra những gì toà nên cân nhắc, và viên thẩm phán chủ toạ thấy việc của mình dễ dàng đủ.
Đèn được thắp lên, đôi ngọn treo trên trần — một thứ ánh sáng thảm hại, viên thẩm phán hầu như chẳng nhìn nổi để đọc ghi chép của mình. Ông ta nhắc với ít nhiều nghiêm khắc cái điểm rằng cái chết của đứa bé đã không được khai báo đúng phép với nhà chức trách — nhưng trong hoàn cảnh ấy, đó phải được coi là phận sự của người cha hơn là của người mẹ, bởi lúc đó cô ta yếu sức. Rồi toà phải định xem liệu đã chứng minh được điều gì về việc giấu việc sinh con và việc giết con hay chưa. Tới đây các chứng cứ lại được nhắc lại một lượt từ đầu tới cuối. Rồi tới lời huấn thị quen thuộc về việc phải ý thức đầy đủ trách nhiệm, cái mà toà đã nghe trước đó, và cuối cùng, lời nhắc chẳng hiếm rằng trong những trường hợp còn nghi ngờ thì cán cân phải nghiêng về phía bị cáo.
Và giờ mọi sự đã rõ và đã sẵn sàng.
Các thẩm phán rời phòng xử sang một gian khác. Họ phải xem xét một tờ giấy có mấy câu hỏi mà một người trong bọn mang theo. Họ đi năm phút, rồi trở lại với một chữ “Không” cho tất cả các câu hỏi.
Không, cô gái Barbro đã không giết con mình.
Rồi viên thẩm phán chủ toạ nói thêm vài lời, và tuyên bố rằng cô gái Barbro nay được tự do.
Phòng xử vãn người, vở hài kịch đã hết…
Có ai đó nắm lấy cánh tay Axel Ström: đó là Geissler. “Hừm,” ông ta nói, “thế là anh xong việc ấy rồi!”
“Vâng,” Axel nói.
“Nhưng họ đã phí khối thì giờ của anh mà chẳng để làm gì.”
“Vâng,” Axel lại nói. Nhưng gã đang dần dần trở lại là mình, và một lát sau gã nói thêm: “Dù sao tôi cũng mừng vì chẳng tệ hơn.”
“Tệ hơn?” Geissler nói. “Tôi cũng muốn xem họ thử làm xem!” Ông ta nói nhấn mạnh, và Axel ngờ rằng hẳn chính Geissler đã dính dáng gì đó tới vụ này; rằng ông ta đã can thiệp. Trời biết, biết đâu rốt cuộc chính Geissler đã dẫn dắt cả phiên toà mà đạt được cái kết quả ông ta muốn. Đằng nào thì đó cũng là một điều bí ẩn.
Ít nhất Axel cũng hiểu được ngần này, rằng Geissler đã đứng về phía gã suốt từ đầu tới cuối.
“Tôi có khối chuyện phải cảm ơn ông,” gã nói, rồi chìa tay ra.
“Cảm ơn về cái gì?” Geissler hỏi.
“Ơ, thì về — về tất cả những cái này.”
Geissler gạt phăng đi. “Tôi chẳng làm gì cả. Chẳng buồn làm gì — chẳng bõ.” Nhưng dù vậy, có khi Geissler cũng chẳng phật lòng khi được cảm ơn; cứ như thể ông ta đã chờ đợi điều đó, và giờ nó đã tới. “Giờ tôi chẳng có thì giờ mà đứng nói chuyện,” ông ta nói. “Mai anh về à? Tốt. Thôi chào anh, chúc anh may mắn.” Rồi Geissler thong thả băng qua đường.
* * * * *
Trên tàu về, Axel gặp ông _Lensmand_ với vợ, Barbro và hai cô gái được gọi làm chứng.
“Nào,” bà Heyerdahl nói, “anh chẳng mừng vì mọi sự hoá ra tốt đẹp thế à?”
Axel nói “Vâng”; gã mừng vì rốt cuộc mọi sự đã ổn thoả.
Chính ông _Lensmand_ cũng chen vào một câu: “Đây là vụ thứ hai loại này từ hồi tôi về đây — trước là bà Inger ở Sellanraa, giờ tới vụ này. Không, chẳng thể dung túng những chuyện như thế — công lý phải được thi hành.”
Nhưng hẳn bà Heyerdahl đoán được rằng Axel chẳng lấy gì làm hài lòng với bài diễn văn hôm trước của bà, nên bà tìm cách xoa dịu đi, chuộc lại cách nào đó ngay lúc này. “Dĩ nhiên anh hiểu vì sao hôm qua tôi phải nói tất cả những điều ấy về anh chứ?”
“Hừm — vâ… vâng,” Axel nói.
“Dĩ nhiên anh hiểu, tôi biết mà. Anh chẳng nghĩ là tôi muốn làm khó anh bằng bất cứ cách nào chứ. Tôi xưa nay vẫn nghĩ tốt về anh, mà tôi chẳng ngại nói ra.”
“Vâng,” Axel nói, chẳng gì hơn. Nhưng gã hài lòng và cảm động vì mấy lời ấy.
“Vâng, tôi nói thật đấy,” bà Heyerdahl nói. “Nhưng tôi buộc phải cố đẩy bớt tội về phía anh một chút, không thì Barbro đã bị kết tội, mà anh cũng thế. Thế là tốt nhất rồi, thật đấy.”
“Tôi xin cảm ơn bà,” Axel nói.
“Mà chính tôi chứ chẳng ai khác đã đi khắp nơi hết người này tới người kia trong vùng, cố làm những gì tôi làm được cho cả hai người. Mà dĩ nhiên anh thấy rồi đấy, tất cả chúng tôi đều phải làm cùng một việc — làm ra vẻ anh cũng có phần lỗi, để rốt cuộc cả hai người đều thoát.”
“Vâng,” Axel nói.
“Chắc chắn anh chẳng bao giờ tưởng tôi muốn hại anh chứ? Khi tôi xưa nay vẫn nghĩ tốt về anh đến thế!”
Ừ, nghe thế cũng dễ chịu sau tất cả nỗi nhục ấy. Dù sao Axel cũng cảm động tới mức thấy mình phải làm gì đó, phải cho bà Heyerdahl thứ này thứ nọ, kiếm được gì cho gì — có khi một miếng thịt, giờ mùa thu đã tới. Gã có một con bò đực non…
Bà _Lensmand_ Heyerdahl giữ lời; bà đưa Barbro về ở với mình. Ngay trên tàu bà cũng trông nom cô gái, xem chừng cho cô ta khỏi lạnh, khỏi đói; lại còn để ý cho cô ta khỏi giở trò dở hơi gì với anh thuyền phó người Bergen. Lần đầu xảy ra chuyện ấy, bà chẳng nói gì, mà chỉ gọi Barbro tới chỗ mình. Nhưng một lát sau thì kìa Barbro lại ở bên anh ta, đầu nghiêng nghiêng, nói giọng Bergen và mỉm cười. Rồi bà chủ gọi cô ta lên mà nói: “Thật đấy, Barbro, giờ con chẳng nên đi lại với đàn ông kiểu ấy. Hãy nhớ con vừa trải qua chuyện gì, và con từ đâu ra.”
“Con chỉ nói với anh ta một phút thôi,” Barbro nói. “Con nghe giọng là biết anh ta người Bergen.”
Axel chẳng nói với cô ta. Gã để ý thấy giờ cô ta xanh xao và da dẻ trong trẻo, mà răng thì đã khá hơn. Cô ta chẳng đeo cái nhẫn nào của gã…
Và giờ Axel lại đang lê bước lên chỗ mình. Gió và mưa, nhưng lòng gã vui; một cỗ máy cắt cỏ và một cái bừa nằm dưới bến; gã đã trông thấy. Chao, cái ông Geissler ấy! Trên tỉnh ông ta chẳng nói một lời nào về những thứ mình đã gửi. Ừ, Geissler là một con người chẳng ai dò được.