Phúc lành của đất — Chương 27: Quyển II · Chương VIII
Chương 27 / 31 · Bài review Phúc lành của đất
Hoá ra Axel chẳng được nghỉ lâu ở nhà; những cơn bão mùa thu dẫn tới rắc rối mới và công việc phiền toái mà gã đã tự chuốc lấy: cái máy điện tín trên vách báo rằng đường dây hỏng.
Chao, hẳn gã đã nghĩ tới tiền nhiều quá khi nhận cái chân ấy. Nó phiền ngay từ đầu. Brede Olsen đã doạ gã ra trò khi gã xuống lấy máy và đồ nghề; ừ, đã nói thẳng vào mặt gã: “Xem chừng anh chẳng nhớ mùa đông trước tôi đã cứu mạng anh!”
“Bà Oline cứu mạng tôi,” Axel đáp.
“Chà, thế à! Thế chẳng phải chính tôi đã cõng anh xuống trên cái vai khốn khổ của tôi à? Đằng nào thì anh cũng khôn đủ để mua đứt chỗ của tôi giữa mùa hè rồi để tôi không nhà không cửa giữa mùa đông.” Ừ, Brede phật lòng sâu sắc; gã nói tiếp:
“Nhưng anh cứ việc lấy cái điện tín ấy đi, ừ, cả cái đống rác ấy đi. Tôi với người nhà tôi sẽ xuống làng mà khởi sự cái gì đó dưới ấy — anh chẳng biết là cái gì đâu, cứ đợi mà xem. Một cái quán cho người ta uống cà phê thì sao? Rồi anh xem, chúng tôi xoay xở được cả. Vợ tôi bán đồ ăn thức uống chẳng kém ai, còn tôi thì ra ngoài làm ăn kiếm được gấp mấy anh. Nhưng tôi chẳng ngại nói với anh, Axel ạ, tôi có thể làm khó anh bằng đủ thứ lối, vì tôi biết hết về cái điện tín với những thứ ấy; ừ, giật đổ cột với cắt dây thì dễ lắm. Rồi anh phải bỏ chạy đi tìm giữa mùa bận nhất. Tôi chỉ nói với anh có thế, Axel ạ, anh nhớ lấy…”
Đáng lẽ giờ Axel phải xuống bến mà chở mấy cỗ máy về — mạ vàng và sơn màu cả, đẹp như tranh. Mà cả ngày hôm ấy gã đã có thể ngắm chúng và học cách dùng — nhưng giờ chúng phải đợi. Chẳng dễ chịu gì khi phải gác lại đủ thứ việc cần kíp mà chạy đi lo cho một đường dây điện tín. Nhưng vì tiền…
Trên đỉnh đồi gã gặp Aronsen. Ừ, Aronsen ông chủ hiệu đứng đó nhìn và ngóng ra giữa cơn bão, chính ông ta trông như một ảo ảnh. Ông ta lên đó làm gì? Xem chừng giờ trong lòng chẳng yên, nên ông ta phải tự mình lên núi mà tận mắt xem cái mỏ. Mà phải thấy rằng, ông chủ hiệu Aronsen đã làm việc này thuần vì lo lắng nghiêm túc cho tương lai mình và gia đình. Ông ta đây, đối diện với sự hoang tàn trơ trọi trên những quả đồi bị bỏ mặc, máy móc nằm đó han gỉ, xe cộ và vật liệu đủ loại bỏ phơi giữa trời — trông mà thê lương. Chỗ này chỗ kia trên vách các lán là những tờ yết thị, những thông báo viết tay, cấm bất cứ ai làm hư hại hay lấy đi tài sản của công ty — dụng cụ, xe cộ hay nhà cửa.
Axel dừng lại nói đôi câu với ông chủ hiệu điên rồ ấy, và hỏi ông ta có đi săn không.
“Săn à? Ừ, giá tôi tới được trong tầm hắn!”
“Hắn? Ai cơ?”
“Ơ, thì cái kẻ đang phá tôi với tất cả những người khác quanh đây. Cái kẻ chẳng chịu bán mảnh núi của hắn để mọi sự chạy lại, để buôn bán và tiền bạc lưu thông như trước.”
“Ông nói ông Geissler à?”
“Ừ, chính hắn. Đáng bắn bỏ!”
Axel cười câu ấy, rồi nói: “Ông Geissler mới ở trên tỉnh cách đây ít hôm; đáng lẽ ông nói chuyện với ông ấy trên ấy. Nhưng nếu tôi dám nói thì tôi ngờ rằng rốt cuộc ông cứ để ông ấy yên thì hơn.”
“Tại sao?” Aron hỏi, giận dữ.
“Tại sao à? Tôi thấy rốt cuộc ông ấy sẽ khôn hơn và khó dò hơn ông.”
Họ cãi nhau về chuyện ấy một lúc, và Aronsen càng lúc càng bốc lên. Rốt cuộc Axel hỏi giọng đùa: “Ừ thì đằng nào ông cũng chẳng nỡ nhẫn tâm bỏ chạy mà để chúng tôi lại một mình nơi hoang dã này chứ?”
“Hừ! Anh tưởng tôi ở lại đây mà nhởn nhơ trong mấy cái bãi lầy của các anh mà chẳng kiếm nổi tiền mua một cái tẩu à?” Aron phẫn nộ kêu lên. “Tìm cho tôi người mua thì tôi bán ngay.”
“Bán à?” Axel nói. “Đất ấy là đất thường tốt nếu biết làm cho ra làm — mà chỗ ông có thì đủ nuôi một người.”
“Tôi vừa nói là tôi chẳng đụng tới nó rồi còn gì?” Aronsen lại kêu lên giữa cơn gió. “Tôi làm được hơn thế!”
Axel nghĩ nếu vậy thì tìm người mua cũng dễ; nhưng Aronsen cười khinh khỉnh trước cái ý ấy — ở chốn hoang này chẳng ai có tiền mà mua lại của ông ta.
“Ở chốn hoang này thì có khi không, nhưng chỗ khác thì có.”
“Ở đây thì chỉ có bẩn thỉu với nghèo đói,” Aron nói cay đắng.
“Ơ, cái đó thì tuỳ,” Axel nói, hơi phật ý. “Nhưng ông Isak trên Sellanraa thì ngày nào mua lại của ông cũng được.”
“Chẳng tin,” Aronsen nói.
“Ông tin gì thì với tôi cũng thế cả,” Axel nói, rồi quay đi.
Aronsen gọi với theo: “Này, khoan đã! Anh vừa nói gì — ông Isak có thể lấy chỗ này, anh nói thế à?”
“Ừ,” Axel nói, “nếu chỉ là chuyện tiền. Ông ấy đủ sức mua đứt năm cái Storborg của ông!”
Lúc lên, Aronsen đã đi vòng thật xa Sellanraa, cẩn thận chẳng để ai thấy; nhưng lúc về thì ông ta ghé vào nói chuyện với Isak. Nhưng Isak chỉ lắc đầu mà nói không, đó là chuyện hắn chưa từng nghĩ tới, mà cũng chẳng thiết.
Nhưng khi Eleseus về nhà dịp Nô-en ấy thì Isak dễ nói hơn. Đúng là hắn vẫn khăng khăng rằng nghĩ tới chuyện mua Storborg là một ý điên rồ, rằng trong đầu hắn chưa từng có chuyện ấy; nhưng dù sao, nếu Eleseus nghĩ mình làm được gì đó với chỗ ấy thì, ừ, họ có thể nghĩ lại.
Chính Eleseus thì ở lưng chừng, có thể nói thế; chẳng hẳn háo hức, mà cũng chẳng hoàn toàn dửng dưng. Nếu nó về ở hẳn nhà đây thì con đường công danh của nó theo một nghĩa nào đó là hết. Chẳng như ở trên tỉnh. Mùa thu ấy, khi cả đám người quê nó lên tỉnh để hầu toà ở một nơi nọ, nó đã cẩn thận chẳng để ai thấy mặt; nó chẳng muốn gặp ai biết mình từ phía ấy; họ thuộc về một thế giới khác. Mà giờ chính nó lại phải quay về cái thế giới ấy ư?
Mẹ nó thì hết lòng ủng hộ việc mua chỗ ấy; Sivert cũng bảo thế là hơn. Cả hai bám lấy Eleseus, và một hôm ba người đánh xe xuống Storborg để tận mắt xem cái kỳ quan ấy.
Nhưng hễ có triển vọng bán được là Aronsen thành một người khác; ông ta chẳng bị ép phải tống nó đi, chẳng chút nào. Ông ta mà đi thì cứ để chỗ ấy nguyên đó; đó là một cơ ngơi loại nhất, một chỗ “tiền tươi”, bán lúc nào cũng chẳng khó. “Các người chẳng trả nổi giá của tôi đâu,” Aronsen nói.
Họ đi xem khắp nhà và kho, nhà chứa hàng và mấy cái lán, xem xét cái đống hàng tồn thảm hại còn lại, gồm mấy cây khẩu cầm, mấy sợi dây đồng hồ, mấy hộp giấy màu, mấy cây đèn có tua trang trí, tất cả đều tuyệt đối chẳng bán được cho người tỉnh táo sống trên đất mình. Có mấy thùng đinh và ít vải bông in hoa, chỉ có thế.
Eleseus buộc phải khoe mình một chút, và xem xét mọi thứ với vẻ am hiểu. “Tôi chẳng dùng được cái thứ đồ ấy,” nó nói.
“Thế thì anh khỏi mua,” Aronsen nói.
“Đằng nào thì tôi cũng trả ông một ngàn năm trăm _Kroner_ cho chỗ này nguyên như nó đang có, cả hàng, cả gia súc, cả những thứ còn lại,” Eleseus nói. Chao, nó hờ hững đủ; cái giá nó đưa ra chỉ là làm màu, chỉ để có cái mà nói.
Rồi họ đánh xe về. Không, chẳng có vụ nào cả; Eleseus đã đưa ra một cái giá nực cười mà Aronsen coi là một sự xúc phạm. “Tôi chẳng coi cậu ra gì đâu, cậu trẻ ạ,” Aronsen nói; ừ, gọi nó là cậu trẻ, coi nó chỉ là một thằng nhóc đã đâm ra tự phụ trên tỉnh rồi về đây định dạy ông ta, Aronsen, về giá cả hàng hoá.
“Xin ông đừng gọi tôi là ‘cậu trẻ’,” Eleseus nói, tới lượt mình phật ý. Sau đó hẳn họ phải thành kẻ thù không đội trời chung.
Nhưng làm sao mà suốt từ đầu Aronsen lại độc lập đến thế và chắc chắn đến thế rằng mình chẳng bị ép phải bán? Có một lý do: rốt cuộc Aronsen vẫn giữ một chút hy vọng nhỏ trong bụng.
Ở làng đã có một cuộc họp để bàn về tình thế nảy sinh do Geissler từ chối bán phần đất mỏ của mình. Chẳng chỉ những người khai hoang ở ngoài xa mới thiệt vì chuyện này, nó sẽ chí tử cho cả vùng.
Sao người ta chẳng tiếp tục sống khá hay sống xoàng như trước khi có cái mỏ nào? Ừ thì họ chẳng làm thế được, chỉ có thế. Họ đã quen với thức ăn ngon hơn, bánh mì trắng hơn, quần áo mua ở tiệm và công cao hơn, quen tiêu pha nói chung — ừ, người ta đã học tính toán bằng tiền nhiều hơn, vấn đề là ở đó. Mà giờ tiền lại đi mất, trượt đi như một đàn cá trích ra biển — với tất cả bọn họ thì đó là cảnh túng quẫn cùng cực, mà biết làm gì?
Chẳng còn nghi ngờ gì: ông _Lensmand_ cũ Geissler đang trả thù cái làng vì họ đã giúp cấp trên của ông ta cách chức ông ta; cũng rõ ràng chẳng kém là hồi ấy họ đã đánh giá ông ta quá thấp. Ông ta chẳng đơn giản biến mất mà đi. Bằng phương tiện giản dị nhất, chỉ bằng cách đòi một cái giá vô lý cho một cái mỏ, ông ta đã chặn đứng được toàn bộ sự phát triển của cả vùng. Ừ, một con người mạnh! Axel Ström ở Maaneland có thể làm chứng cho họ về điều này; gã là người gặp Geissler sau cùng. Con Barbro nhà Brede có một vụ kiện trên tỉnh, và đã được tha bổng mà về; nhưng Geissler thì ở đó suốt phiên toà. Mà nếu ai gợi ý rằng Geissler đang chán nản và là một người đã gãy đổ, thì người ấy chỉ cần nhìn những cỗ máy đắt tiền mà chính Geissler ấy đã gửi lên tặng Axel Ström.
Vậy thì đây chính là con người đang nắm số phận cả vùng trong tay; họ sẽ phải đi tới một thoả thuận nào đó với ông ta. Rốt cuộc Geissler sẽ chịu nhận cái giá nào cho cái mỏ của mình? Đằng nào họ cũng phải dò cho ra. Mấy người Thuỵ Điển đã trả ông ta hai lăm ngàn — Geissler từ chối. Nhưng giả sử cái làng này, cái tổng này, góp thêm phần còn lại, chỉ để mọi sự chạy lại? Nếu chẳng phải một khoản chưa từng nghe thấy thì cũng có khi bõ. Cả ông chủ hiệu ở trạm ngoài bờ biển lẫn Aronsen trên Storborg đều sẵn lòng góp riêng và kín đáo; số tiền dành cho một mục đích như thế lâu dài rồi sẽ được hoàn lại.
Rốt cuộc hai người được cử đi gặp Geissler mà nêu chuyện ấy với ông ta. Và họ được trông đợi sẽ sớm về.
Thế nên Aronsen mới ấp ủ một tia hy vọng le lói, và nghĩ mình đủ sức làm cao với bất cứ ai ngỏ ý mua Storborg. Nhưng cái đó chẳng kéo dài.
Một tuần sau, đoàn đại biểu về nhà với một lời từ chối thẳng thừng. Chao, ngay từ đầu họ đã làm cái việc dở nhất có thể, là chọn Brede Olsen làm một trong hai người phái đi — họ chọn gã vì gã là người rảnh nhất. Họ đã tìm được Geissler, nhưng ông ta chỉ lắc đầu mà cười. “Về nhà đi,” ông ta bảo thế. Nhưng Geissler đã trả tiền tàu xe cho họ về.
Thế là cả vùng bị bỏ mặc cho số phận ư?
Sau khi Aronsen nổi cơn một dạo, rồi mỗi lúc một tuyệt vọng hơn, thì một hôm ông ta lên Sellanraa mà chốt vụ mua bán. Ừ, Aronsen đấy. Eleseus lấy được nó đúng cái giá nó đã trả; đất và nhà và lán, gia súc và hàng hoá, một ngàn năm trăm _Kroner_. Đúng là khi rà lại danh mục sau đó thì thấy vợ Aronsen đã lấy hầu hết chỗ vải bông in hoa về dùng riêng; nhưng những chuyện vặt như thế thì chẳng là gì với một người như Eleseus. Chẳng nên bủn xỉn, nó bảo thế.
Dù vậy, Eleseus chẳng hẳn vui mừng với cái cách mọi sự đã xoay ra — tương lai nó giờ đã định, nó sẽ chôn mình nơi hoang dã. Nó phải bỏ những kế hoạch lớn của mình; nó chẳng còn là một cậu công tử trẻ trong văn phòng, nó sẽ chẳng bao giờ thành một ông _Lensmand_, mà cũng chẳng còn sống trên tỉnh nữa. Với bố và người nhà thì nó làm ra vẻ mình hãnh diện vì đã lấy được Storborg đúng cái giá mình đặt ra — thế là cho họ thấy nó biết mình đang làm gì. Nhưng cái chiến thắng nhỏ ấy chẳng đi được bao xa. Nó cũng được cái thoả mãn là tiếp quản luôn Andresen, viên thư ký trưởng, người như thể được gộp luôn vào vụ mua bán. Aronsen chẳng còn dùng tới anh ta nữa, cho tới khi ông ta có chỗ mới. Được làm Eleseus lúc Andresen lên xin được ở lại thì thật là một cảm giác dễ chịu; ở đây Eleseus là ông chủ và người đứng đầu cơ nghiệp — lần đầu tiên trong đời nó.
“Anh ở lại được, ừ,” nó nói. “Tôi sẽ cần một người phụ tá trông nom chỗ này khi tôi đi làm ăn xa — mở mối ở Bergen với Trondhjem,” nó nói.
Mà Andresen chẳng phải người dở để có bên mình, chẳng bao lâu điều ấy đã rõ; anh ta làm việc tốt, và trông nom mọi thứ chu đáo khi Eleseus đi vắng. Chỉ ban đầu anh ta có phần thiên về việc làm màu và đóng vai quý ông, mà cái đó là lỗi ông chủ Aronsen của anh ta. Giờ thì khác. Sang xuân, khi các bãi lầy đã tan được một quãng sâu, Sivert từ Sellanraa xuống Storborg để đào ít mương cho anh mình, và kìa, chính Andresen cũng ra đất mà đào. Trời biết cái gì nhập vào anh ta mà làm thế, bởi đó chẳng phải việc của anh ta, nhưng anh ta là hạng người như vậy. Đất chưa tan đủ sâu, và họ chẳng đào được xa như muốn, còn xa lắm, nhưng dù sao cũng làm được một chút. Đó là cái ý cũ của Isak, tháo nước mấy bãi lầy ở Storborg mà làm đất cho ra làm; cái cửa hiệu nhỏ chỉ là thứ thêm vào, một sự tiện lợi, để người ta khỏi phải xuống tận làng chỉ vì một cuộn chỉ.
Thế là Sivert và Andresen đứng đó đào, thỉnh thoảng lại nói chuyện những lúc dừng nghỉ. Chẳng hiểu cách nào mà Andresen cũng vớ được một đồng vàng, một đồng hai mươi _Krone_, và Sivert thì rất muốn có cái vật sáng loáng ấy cho mình; nhưng Andresen chẳng chịu rời — cứ giữ nó bọc trong giấy lụa trong hòm. Sivert đề nghị vật nhau lấy đồng tiền ấy — xem ai quật được ai; nhưng Andresen chẳng chịu liều. Sivert ngỏ ý đặt hai mươi _Kroner_ tiền giấy chọi lại đồng vàng, mà nếu thắng thì còn tự mình đào hết phần; nhưng Andresen phật ý vì chuyện đó. “Chà,” anh ta nói, “rồi cậu về nhà mà bảo tôi chẳng làm được việc đồng áng chứ gì!” Rốt cuộc họ thoả thuận đặt hai mươi lăm _Kroner_ tiền giấy chọi lại đồng vàng hai mươi _Krone_, và đêm ấy Sivert lẻn về Sellanraa hỏi bố tiền.
Trò nghịch của người trẻ, cái trò chơi đẹp đẽ của tuổi trẻ! Vứt đi một đêm ngủ, đi bộ mấy dặm lên rồi mấy dặm xuống, rồi hôm sau vẫn làm việc như thường — với một chàng trai đang sung sức thì chẳng là gì, mà một đồng vàng sáng loáng thì bõ cả. Andresen có phần muốn đem vụ ấy ra trêu nó, nhưng Sivert chẳng bí; nó chỉ cần buông một tiếng về Leopoldine. “Đấy! Suýt nữa thì quên. Leopoldine nó có hỏi thăm anh…” Rồi Andresen thình lình ngừng tay mà đỏ bừng mặt.
Những ngày dễ chịu cho cả hai, tháo nước và đào mương, dựng lên những cuộc cãi cọ dài cho vui, rồi làm, rồi lại cãi. Thỉnh thoảng Eleseus cũng ra đỡ một tay, nhưng nó chóng mệt. Eleseus chẳng khoẻ cả thân lẫn ý chí, nhưng dù vậy vẫn là một người thật tử tế…
“Kìa bà Oline lên,” Sivert, cái thằng hay đùa, nói. “Giờ anh phải vào bán cho bà ấy một gói cà phê.” Mà Eleseus thì mừng được vào. Bán cho Oline một thứ vặt vãnh nào đó nghĩa là được nghỉ ngần ấy phút, khỏi phải quăng những tảng đất nặng.
Còn Oline, cái sinh vật đáng thương ấy, hẳn bà ta cũng cần một nhúm cà phê thỉnh thoảng, dù bà ta tình cờ moi được tiền của Axel để trả, hay đem một cái phô mai sữa dê ra đổi. Oline chẳng còn hoàn toàn như xưa; việc ở Maaneland nặng quá với bà ta; giờ bà ta là một bà già, mà việc ấy để lại dấu. Chẳng phải bà ta bao giờ thú nhận mình yếu đi hay già đi; chao! bà ta hẳn có khối lời để nói nếu bị đuổi. Oline dai và chẳng ai đè bẹp nổi; làm việc của mình, mà vẫn tìm ra thì giờ lang thang sang hàng xóm chỗ này chỗ nọ tán chuyện cho đã. Đó là quyền chính đáng của bà ta, mà ở Maaneland thì chẳng có mấy chuyện để tán. Chính Axel chẳng thuộc hạng ấy.
Còn về cái vụ Barbro thì Oline chẳng hài lòng, ừ, Oline thất vọng. Cả hai đều được tha bổng! Chuyện con Barbro nhà Brede được tha trong khi Inger Sellanraa đã lĩnh tám năm thì chẳng hợp khẩu vị Oline chút nào; bà ta thấy bực bội một cách chẳng mấy Cơ Đốc trước sự thiên vị ấy. Nhưng hẳn Đấng Toàn Năng sẽ lo liệu, vào lúc Người thấy phải! Rồi Oline gật gù, như thể tiên tri về sự báo ứng của trời vào một ngày sau. Lẽ tự nhiên, Oline cũng chẳng giấu giếm sự bất mãn của mình với phán quyết của toà, nhất là những khi bà ta tình cờ va chạm với ông chủ Axel vì một chuyện vặt nào đó. Khi ấy bà ta sẽ tuôn ra, vẫn bằng cái giọng ngọt nhạt xưa, biết bao lời châm chọc sâu cay. “Ừ, lạ thật, luật lệ thời nay đổi khác cả, bất kể mọi tội ác của Sodom và Gomorrah; nhưng lời Chúa vẫn là kim chỉ nam của tôi, như xưa nay, và là chỗ nương náu đầy phúc cho kẻ hiền lành.”
Chao, giờ Axel đã chán ngấy bà quản gia của mình, và ước gì bà ta đi đâu cho khuất. Mà giờ xuân lại tới, với cả mùa việc phải làm một mình; mùa cỏ sắp tới, mà gã biết làm sao? Trông thật ảm đạm. Chị dâu gã ở Breidablik đã viết thư về Helgeland tìm một người đàn bà tử tế giúp gã, nhưng tới nay chẳng ra gì. Mà đằng nào thì cũng có nghĩa là gã phải trả tiền tàu xe.
Không, Barbro làm thế thì thật là một trò đê tiện và độc ác, tống khứ cái sinh linh bé nhỏ ấy đi rồi tự mình bỏ chạy. Một mùa hè và hai mùa đông rồi gã buộc phải tạm bợ với Oline, mà chẳng biết còn phải bao lâu nữa. Còn Barbro, cái con ấy, nó có bận tâm không? Mùa đông ấy có hôm gã đã nói với nó đôi câu dưới làng, nhưng chẳng một giọt nước mắt nào lăn chậm khỏi mắt nó mà đóng băng trên má.
“Cô làm gì mấy cái nhẫn tôi cho rồi?” gã hỏi.
“Nhẫn à?”
“Ừ, mấy cái nhẫn.”
“Giờ tôi chẳng còn.”
“Ơ, thế ra giờ cô chẳng còn?”
“Giữa hai đứa xong hết rồi,” cô ta nói. “Mà xong rồi thì tôi chẳng đeo được nữa. Xong rồi mà cứ đeo nhẫn thì chẳng ra thể thống gì.”
“Ừ thì tôi chỉ muốn biết cô làm gì chúng nó rồi, có thế thôi.”
“Chắc anh muốn tôi trả lại,” cô ta nói. “Ừ thì tôi chẳng ngờ anh lại bắt tôi chịu cái nhục ấy.”
Axel nghĩ một lát, rồi nói: “Tôi có thể bù cho cô cách khác. Ý tôi là để cô khỏi thiệt.”
Nhưng không, Barbro đã tống khứ mấy cái nhẫn đi rồi, mà chẳng buồn cho gã lấy một cơ hội mua lại một cái nhẫn vàng và một cái nhẫn bạc với giá phải chăng.
Dù vậy, Barbro cũng chẳng đến nỗi hoàn toàn khắc nghiệt và chẳng đáng yêu, chẳng phải thế. Cô ta có một cái tạp dề dài cài qua vai với những nếp gấp ở viền, và một dải vải trắng quanh cổ — ừ, trông cô ta đẹp. Có người bảo cô ta đã kiếm được một anh chàng dưới làng mà bồ bịch, dù có khi cũng chỉ là chuyện người ta đồn. Đằng nào thì bà Heyerdahl cũng để mắt canh chừng cô ta, và cẩn thận chẳng cho cô ta đi mấy buổi nhảy Nô-en.
Ừ, bà Heyerdahl cẩn thận đủ, đúng thế; đây Axel đang đứng nói chuyện với con ở cũ của mình về chuyện hai cái nhẫn, thì thình lình bà Heyerdahl xen ngay vào giữa hai người mà nói: “Barbro, tôi tưởng con đi ra cửa hàng?” Barbro đi. Rồi bà chủ quay sang Axel mà nói: “Anh mang thịt hay gì xuống à?”
“Hừm,” Axel nói, chỉ thế, rồi chạm tay lên mũ.
Mà chính bà Heyerdahl là người đã khen gã ghê thế mùa thu trước, bảo gã là một người tuyệt vời và bà xưa nay vẫn nghĩ tốt về gã; mà làm ơn thì hẳn cũng đáng được đền ơn. Axel biết lối làm những chuyện ấy; đó là chuyện xưa như trái đất, khi người thường có việc với các bậc trên, với nhà chức trách. Mà gã đã nghĩ ngay tới một miếng thịt, tới con bò đực gã có, có khi dùng được vào chỗ ấy. Nhưng thời gian trôi đi, hết tháng này tới tháng khác qua đi và mùa thu đã hết, mà con bò thì chẳng bao giờ bị mổ. Mà rốt cuộc thì hại gì nếu gã giữ nó cho mình? — cho đi thì gã nghèo đi ngần ấy. Vả lại nó là một con vật đẹp.
“Hừm, _Goddag_. Không ạ,” Axel nói, lắc đầu; hôm nay gã chẳng mang thịt theo.
Nhưng bà Heyerdahl xem chừng đoán được ý gã, bởi bà nói: “Tôi nghe nói anh có một con bò đực, phải không?”
“Vâng, tôi có,” Axel nói.
“Anh định giữ nó à?”
“Vâng, tôi còn giữ nó.”
“Tôi hiểu rồi. Anh chẳng có con cừu nào để mổ à?”
“Giờ thì không. Là thế này, tôi chưa bao giờ có gì ngoài những thứ phải giữ lại nuôi.”
“À, tôi hiểu rồi,” bà Heyerdahl nói; “thôi, có thế thôi.” Rồi bà đi đường bà.
Axel đánh xe về nhà, nhưng gã chẳng khỏi nghĩ ngợi ít nhiều về những gì vừa xảy ra; gã hơi e rằng mình đã bước hụt cách nào đó. Bà _Lensmand_ đã từng là một nhân chứng quan trọng; vừa chống vừa bênh gã, nhưng đằng nào cũng quan trọng. Dịp ấy gã đã trải một quãng thời gian khó chịu, nhưng rốt cuộc gã đã thoát ra — thoát khỏi một vụ hết sức rắc rối liên quan tới cái thi thể một đứa bé chôn trên đất gã. Có khi rốt cuộc gã nên mổ con cừu ấy.
Mà lạ thật, ý nghĩ này chẳng hiểu sao lại dính tới Barbro. Nếu gã xuống mang cừu cho bà chủ của cô ta thì khó lòng không gây được một ấn tượng nhất định lên chính Barbro.
Nhưng ngày tháng lại trôi đi, mà chẳng có điều dữ nào xảy ra vì chúng trôi đi. Lần sau gã đánh xe xuống làng thì trên xe chẳng có con cừu nào, không, vẫn chẳng có cừu. Nhưng vào phút chót gã đã bắt một con chiên. Nhưng là một con chiên lớn; chẳng phải một con bé tí thảm hại chút nào, và gã trao nó với những lời này:
“Thịt cừu thiến thì dai lắm, chẳng ra món quà gì. Nhưng con này thì chẳng đến nỗi.”
Nhưng bà Heyerdahl chẳng chịu nhận nó làm quà. “Anh nói anh muốn bao nhiêu đi,” bà nói. Chao, một bà mệnh phụ, chẳng phải lối bà nhận quà của người ta! Rốt cuộc Axel được một giá tốt cho con chiên của mình.
Gã chẳng thấy Barbro đâu cả. Bà _Lensmand_ đã thấy gã tới mà đưa cô ta đi khuất. Thôi thì chúc cô ta may mắn — cái con Barbro đã lừa mất của gã một người đỡ đần suốt một năm rưỡi!