Thần linh khát máu — Chương 10

Chương 10 / 29 · Bài review Thần linh khát máu

Sáng thứ bảy, lúc bảy giờ, công dân Blaise, đầu đội mũ hai sừng đen, mình mặc gi-lê đỏ thắm, quần da, chân đi ủng vàng có cổ lật, lấy cán roi ngựa gõ cửa xưởng vẽ. Công dân quả phụ Gamelin đang ở đó chuyện trò đứng đắn với công dân Brotteaux, trong khi Évariste đứng trước một mảnh gương nhỏ, thắt chiếc cà vạt trắng cao cổ.

— Chúc ông Blaise thượng lộ bình an! — nữ công dân nói. — Nhưng ông đã đi vẽ phong cảnh thì hãy đưa ông Brotteaux theo; ông ấy cũng là họa sĩ.

— Được thôi! — Jean Blaise nói. — Công dân Brotteaux, ông đi cùng chúng tôi nhé.

Sau khi biết chắc mình sẽ không làm phiền ai, Brotteaux, vốn tính thích giao du và ham vui, nhận lời.

Nữ công dân Élodie đã leo bốn tầng gác lên ôm hôn công dân quả phụ Gamelin, người mà nàng gọi là mẹ hiền. Nàng mặc toàn đồ trắng và thoảng mùi oải hương.

Một cỗ xe du lịch cũ kỹ thắng hai ngựa, mui hạ xuống, đang đợi ngoài quảng trường. Rose Thévenin ngồi phía trong cùng với Julienne Hasard. Élodie mời nữ diễn viên ngồi bên phải, mình ngồi bên trái, để Julienne mảnh mai ngồi giữa hai người. Brotteaux ngồi phía sau, đối diện nữ công dân Thévenin; Philippe Dubois đối diện nữ công dân Hasard; Évariste đối diện Élodie. Còn Philippe Desmahis thì ngồi phô tấm thân lực lưỡng trên ghế xà ích, bên trái người đánh xe, khiến bác ta sửng sốt khi kể rằng tại một xứ nọ ở châu Mỹ, cây cối sinh ra xúc xích dài và xúc xích hun khói.

Công dân Blaise, một kỵ sĩ xuất sắc, cưỡi ngựa đi đường và vượt lên trước để khỏi hứng bụi từ cỗ xe.

Bánh xe càng lướt nhanh trên mặt đường lát đá vùng ngoại ô, những người lữ hành càng quên đi mọi ưu phiền; và trước cảnh đồng ruộng, cây cối, bầu trời, ý nghĩ của họ cũng trở nên vui tươi, êm dịu. Élodie mơ mình sinh ra là để nuôi gà bên Évariste, khi chàng làm thẩm phán hòa giải tại một ngôi làng ven sông, gần một cánh rừng. Những hàng du bên đường vụt lùi lại khi họ đi qua. Ở đầu mỗi làng, lũ chó lớn lao xéo về phía xe, sủa vào chân ngựa, trong khi một con chó săn lông dài nằm chắn ngang đường miễn cưỡng đứng dậy; đàn gà tán loạn vỗ cánh, muốn chạy trốn lại băng ngang đường; đàn ngỗng túm tụm chậm chạp tránh sang bên. Những đứa trẻ mặt mũi lem luốc đứng nhìn đoàn xe đi qua. Buổi sáng nóng nực, trời quang đãng. Mặt đất nứt nẻ chờ mưa. Họ xuống xe gần Villejuif. Khi đoàn người đi ngang thị trấn, Desmahis ghé vào hàng hoa quả mua anh đào để các nữ công dân giải khát. Cô hàng xinh đẹp: Desmahis mãi không thấy trở ra. Philippe Dubois gọi anh bằng biệt hiệu mà bạn bè vẫn thường dùng:

— Này! Barbaroux!… Barbaroux!

Nghe cái tên đáng nguyền rủa ấy, khách qua đường liền vểnh tai, và mặt người hiện ra ở tất cả các cửa sổ. Khi thấy từ hàng hoa quả bước ra một chàng trai trẻ đẹp, áo vét mở phanh, dải đăng ten trước ngực phấp phới trên bộ ngực lực lưỡng, vai vác một giỏ anh đào cùng chiếc áo dài treo ở đầu gậy, họ tưởng đó là tên Gironde đang bị truy nã; mấy người sans-culotte hung hãn túm lấy anh và bất chấp những lời phản đối đầy phẫn nộ, hẳn đã giải anh tới hội đồng thị chính, nếu lão Brotteaux, Gamelin và ba thiếu phụ không đứng ra xác nhận rằng công dân này tên Philippe Desmahis, làm nghề khắc đồng lõm và là một người Jacobin chân chính. Kẻ tình nghi còn phải trình thẻ công dân mà thật hết sức may mắn anh lại mang theo người, bởi vốn rất lơ là những chuyện ấy. Nhờ vậy, anh thoát khỏi tay dân làng yêu nước, thiệt hại duy nhất là một chiếc cổ tay áo bằng đăng ten bị họ giật mất; nhưng tổn thất ấy chẳng đáng là bao. Anh thậm chí còn nhận được lời xin lỗi của mấy vệ binh quốc gia đã túm mình chặt nhất và vừa rồi còn nói đến chuyện rước anh trong khải hoàn tới hội đồng thị chính.

Khi đã được tự do, đứng giữa các nữ công dân Élodie, Rose và Julienne, Desmahis ném cho Philippe Dubois, kẻ anh không ưa và ngờ là đã cố ý chơi xấu mình, một nụ cười cay đắng; cao hơn Dubois cả một cái đầu, anh nói:

— Dubois, nếu cậu còn gọi tôi là Barbaroux, tôi sẽ gọi cậu là Brissot; hắn là một gã lùn mập, lố bịch, tóc nhờn, da bóng mỡ, tay nhớp nháp. Sẽ chẳng ai nghi ngờ cậu chính là tên Brissot đê tiện, kẻ thù của nhân dân; và những người cộng hòa, vừa trông thấy cậu đã kinh hoàng ghê tởm, sẽ treo cổ cậu lên cột đèn gần nhất… Cậu nghe rõ chưa?

Công dân Blaise, vừa cho ngựa uống nước xong, quả quyết rằng chính mình đã dàn xếp vụ việc, mặc dù ai nấy đều thấy rõ chuyện ấy đã được giải quyết mà không cần đến ông.

Mọi người lại lên xe. Dọc đường, Desmahis cho người đánh xe biết rằng thuở xưa, trên cánh đồng Longjumeau này, từng có nhiều cư dân Mặt Trăng rơi xuống; hình dáng và màu sắc của họ gần giống loài ếch, nhưng tầm vóc lớn hơn rất nhiều. Philippe Dubois và Gamelin bàn chuyện nghệ thuật. Dubois, học trò của Regnault, từng tới Rome. Anh đã xem những tấm thảm của Raphaël và đặt chúng lên trên mọi kiệt tác. Anh khâm phục màu sắc của Corrège, tài sáng tạo của Annibal Carrache và nét vẽ của Dominiquin, nhưng về phong cách, anh cho rằng không gì sánh được với tranh của Pompeio Battoni. Tại Rome, anh từng giao du với ông Ménageot và bà Lebrun, cả hai đều tuyên bố chống Cách mạng, bởi vậy anh không nhắc tới họ. Nhưng anh hết lời ca ngợi Angelica Kauffmann, người có thị hiếu thuần khiết và am tường nghệ thuật cổ đại.

Gamelin than tiếc rằng thời cực thịnh của hội họa Pháp — vốn đến muộn, bởi chỉ bắt đầu từ Le Sueur, Claude và Poussin, đồng thời với thời suy tàn của các trường phái Ý và Flanders — lại nhanh chóng bị nối tiếp bởi một bước sa sút sâu xa đến thế. Chàng quy nguyên nhân cho phong hóa xã hội và Viện Hàn lâm, vốn là biểu hiện của nền phong hóa ấy. Nhưng may thay, Viện Hàn lâm vừa bị giải thể, và dưới ảnh hưởng của những nguyên lý mới, David cùng trường phái của ông đang sáng tạo một nền nghệ thuật xứng đáng với một dân tộc tự do. Trong số các họa sĩ trẻ, Gamelin không chút đố kỵ đặt Hennequin và Topino-Lebrun lên hàng đầu. Philippe Dubois thì coi thầy mình là Regnault cao hơn David và đặt hy vọng của hội họa vào chàng Gérard trẻ tuổi.

Élodie khen nữ công dân Thévenin về chiếc mũ nhung đỏ và bộ váy trắng. Nữ diễn viên cũng tán thưởng y phục của hai cô bạn, đồng thời chỉ cho họ cách làm đẹp hơn nữa: theo nàng, ấy là bớt đồ trang sức đi.

— Ăn mặc giản dị đến mấy cũng chưa bao giờ là đủ — nàng nói. — Chúng tôi học được điều ấy ở sân khấu, nơi y phục phải để lộ mọi dáng điệu của thân thể. Vẻ đẹp của nó nằm ở đó, ngoài ra nó không cần gì khác.

— Chị nói phải lắm, người đẹp ạ — Élodie đáp. — Nhưng trong chuyện y phục, không gì tốn kém hơn sự giản dị. Và không phải lúc nào chúng tôi đeo những thứ diêm dúa cũng vì khiếu thẩm mỹ tồi; đôi khi là vì muốn tiết kiệm.

Họ hào hứng bàn về các kiểu thời trang mùa thu: váy trơn, eo ngắn.

— Biết bao phụ nữ tự làm mình xấu đi vì chạy theo thời trang! — Thévenin nói. — Người ta nên ăn mặc tùy theo vóc dáng của mình.

— Chỉ những tấm vải quấn quanh thân mình và xếp thành nếp rủ mới đẹp — Gamelin nói. — Mọi thứ bị cắt rồi khâu lại đều xấu xí.

Những ý tưởng ấy hợp nằm trong một cuốn sách của Winckelmann hơn là thốt ra từ miệng một người đàn ông đang nói chuyện với các phụ nữ Paris, nên bị gạt đi bằng sự khinh miệt hờ hững.

— Mùa đông này — Élodie nói — người ta may áo ấm kiểu Lapland bằng lụa florence và lụa sicilienne, cùng áo khoác kiểu Zulime, eo tròn, cài kín bằng một chiếc gi-lê kiểu Thổ Nhĩ Kỳ.

— Toàn là những thứ che giấu cảnh túng thiếu — Thévenin nói. — Người ta bán may sẵn cả đấy. Tôi có một cô thợ may nhỏ làm khéo như thiên thần mà giá lại không đắt; tôi sẽ bảo cô ấy đến chỗ em, em thân yêu.

Và lời nói bay đi, nhẹ nhàng, dồn dập, phô bày, nâng lên những thứ vải mịn: lụa florence sọc, lụa pékin trơn, lụa sicilienne, sa, vải Nam Kinh.

Lão Brotteaux lắng nghe họ, lòng bâng khuâng khoan khoái nghĩ tới những tấm voan của một mùa phủ lên các dáng hình duyên dáng, chỉ tồn tại trong ít năm rồi đời đời tái sinh như hoa ngoài đồng nội. Ánh mắt lão đưa từ ba thiếu phụ sang những đóa thanh cúc và anh túc bên luống cày, dần ướt đẫm những giọt lệ tươi cười.

Họ tới Orangis vào khoảng chín giờ và dừng chân ở quán trọ La Cloche, nơi vợ chồng Poitrine tiếp đón cả khách bộ hành lẫn người cưỡi ngựa. Công dân Blaise, sau khi chỉnh trang lại y phục, đưa tay đỡ các nữ công dân xuống xe. Đặt bữa trưa vào giờ ngọ xong, họ đi bộ qua đồng về phía hợp lưu của sông Orge và sông Yvette; đi trước họ là những hộp màu, bìa vẽ, giá vẽ và ô che nắng do một cậu bé trong làng khuân giúp. Đó là một miền đất duyên dáng, từ đấy có thể nhìn bao quát cánh đồng Longjumeau xanh tươi, với sông Seine và rừng Sainte-Geneviève viền quanh.

Jean Blaise, dẫn đầu đoàn nghệ sĩ, trao đổi với nhà tài chính chế độ cũ những câu chuyện khôi hài, trong đó lộn xộn và chẳng theo chừng mực nào có Verboquet Le Généreux, Catherine Cuissot đi bán hàng rong, các cô Chaudron, tay phù thủy Galichet, cùng những nhân vật mới xuất hiện gần đây hơn là Cadet-Rousselle và bà Angot.

Évariste bỗng trào dâng tình yêu thiên nhiên; nhìn những người thợ gặt bó lúa thành từng lượm, chàng cảm thấy mắt mình ầng ậng lệ; những giấc mơ về hòa hợp và yêu thương tràn ngập lòng chàng. Desmahis thổi những hạt bồ công anh nhẹ bẫng vào tóc các nữ công dân. Cả ba đều có niềm ưa thích bó hoa của người thành thị, nên hái trên đồng cỏ những cây mao nhị có hoa mọc ken dày thành bông quanh thân, những cây hoa chuông treo từng tầng những chiếc chuông màu tử đinh hương nhạt, những cành mảnh khảnh của cỏ roi ngựa thơm, cây cơm cháy lùn, bạc hà, mộc tê thảo, cỏ thi — cả hệ hoa đồng nội của mùa hè đang tàn. Và bởi Jean-Jacques đã khiến việc nghiên cứu thực vật trở thành thời thượng trong giới con gái thành thị, cả ba đều biết tên cùng những cuộc tình của các loài hoa. Khi những tràng hoa mỏng manh, héo rũ vì khô hạn, rụng cánh trong vòng tay nàng rồi đổ xuống chân như mưa, nữ công dân Élodie thở dài:

— Hoa đã sắp tàn rồi!

Tất cả bắt tay vào việc, cố diễn tả thiên nhiên như mình trông thấy; nhưng mỗi người lại nhìn thiên nhiên theo phong cách của một bậc thầy. Chẳng bao lâu, Philippe Dubois đã phác xong, theo lối Hubert Robert, một nông trại bỏ hoang, những thân cây bị đốn và một dòng thác cạn khô. Évariste Gamelin tìm thấy bên bờ sông Yvette những phong cảnh của Poussin. Philippe Desmahis, ngồi trước một chuồng bồ câu, làm việc theo lối giang hồ của Callot và Duplessis. Lão Brotteaux, vốn tự hào bắt chước các họa sĩ Flanders, cặm cụi vẽ một con bò cái. Élodie phác một túp nhà tranh, còn cô bạn Julienne, con gái một nhà buôn phẩm màu, sửa soạn bảng màu cho nàng. Lũ trẻ đứng sát bên nàng, nhìn nàng vẽ. Nàng đuổi chúng ra khỏi luồng sáng, gọi chúng là lũ muỗi con và cho chúng kẹo berlingot. Còn nữ công dân Thévenin, hễ gặp đứa nào xinh xắn thì lau mặt cho nó, ôm hôn rồi cài hoa lên tóc. Nàng âu yếm chúng với một vẻ dịu dàng u uẩn, bởi nàng không có niềm vui được làm mẹ, lại cũng để tự làm đẹp mình bằng nét biểu hiện của một tình cảm trìu mến và để luyện nghệ thuật tạo dáng, sắp nhóm.

Chỉ mình nàng không vẽ nét cũng chẳng tô màu. Nàng bận học một vai diễn, nhưng còn bận làm duyên hơn nữa. Tay cầm tập kịch bản, nàng đi từ người này sang người khác, một sinh vật nhẹ nhàng, quyến rũ. “Không nước da, không đường nét, không thân hình, không giọng nói,” các phụ nữ vẫn bảo thế, vậy mà nàng làm tràn ngập không gian bằng chuyển động, màu sắc và hòa điệu. Hơi tàn phai mà vẫn xinh đẹp, mệt mỏi mà không biết mỏi, nàng là niềm vui của chuyến đi. Tính khí thất thường mà lúc nào cũng vui vẻ, dễ tự ái, dễ cáu mà vẫn biết chiều lòng và dễ dãi; lời lẽ cay mặn nhưng giọng điệu hết sức lịch thiệp; phù phiếm, khiêm nhường, chân thật, giả dối, đáng yêu — nếu Rose Thévenin không làm nên sự nghiệp, nếu nàng không trở thành nữ thần, ấy chỉ vì thời thế quá xấu và tại Paris không còn hương trầm hay bàn thờ nào dành cho các Nữ thần Duyên dáng. Nữ công dân Blaise, người vẫn nhăn mặt mỗi khi nhắc tới nàng và gọi nàng là “mẹ kế xinh đẹp” của mình, hễ gặp nàng cũng không thể không khuất phục trước ngần ấy nét duyên.

Ở Feydeau, người ta đang tập vở Les Visitandines; Rose lấy làm mừng vì được đảm nhận trong đó một vai đầy vẻ tự nhiên. Chính vẻ tự nhiên là điều nàng tìm kiếm, theo đuổi và tìm thấy.

— Thế là chúng ta sẽ không được xem Paméla sao? — Desmahis đẹp trai hỏi.

Nhà hát Quốc gia đã bị đóng cửa và các diễn viên bị tống vào nhà giam Madelonnettes và Pélagie.

— Thế này mà là tự do ư? — Thévenin kêu lên, ngước đôi mắt đẹp phẫn nộ nhìn trời.

— Các diễn viên của Nhà hát Quốc gia là bọn quý tộc — Gamelin nói — và vở kịch của công dân François có khuynh hướng khiến người ta tiếc nuối những đặc quyền của giới quý tộc.

— Thưa các ông — Thévenin nói — các ông chỉ biết nghe những kẻ tâng bốc mình thôi sao?…

Khoảng giữa trưa, ai nấy đều thấy đói cồn cào, đoàn người nhỏ bé bèn trở về quán trọ.

Đi bên Élodie, Évariste mỉm cười gợi lại những kỷ niệm về các lần đầu họ gặp nhau:

— Hai con chim non rơi từ mái nhà nơi chúng làm tổ xuống bậu cửa sổ nhà em. Em mớm thức ăn cho chúng; một con sống được rồi tung cánh bay đi. Con kia chết trong chiếc tổ bằng bông em làm cho nó. “Đó lại là con em yêu hơn,” em đã nói thế. Hôm ấy, Élodie, em cài một chiếc nơ đỏ trên tóc.

Philippe Dubois và Brotteaux đi hơi lùi lại sau mọi người, trò chuyện về Rome, nơi cả hai đều từng tới: người này vào năm 72, người kia vào những ngày cuối cùng của Viện Hàn lâm. Lão Brotteaux vẫn còn nhớ công nương Mondragone, người mà lão hẳn đã khéo để nàng thấu hiểu những tiếng thở dài của mình, nếu không có bá tước Altieri cứ bám bên nàng như hình với bóng. Philippe Dubois không quên kể rằng mình từng được mời tới dùng bữa tại nhà hồng y de Bernis, và ngài là chủ nhân ân cần nhất trên đời.

— Tôi từng quen ông ấy, Brotteaux nói, và có thể nói mà không phải khoe khoang rằng trong một thời gian, tôi thuộc số những người thân cận nhất của ông: ông thích giao du với phường hạ lưu. Đó là một con người khả ái; và mặc dù hành nghề rao giảng những chuyện hoang đường, trong ngón tay út của ông vẫn có nhiều triết lý lành mạnh hơn trong đầu óc tất cả bọn Jacobin của ông, những kẻ muốn đạo đức hóa và thần thánh hóa chúng ta. Quả thực, tôi thà chịu những kẻ ăn Chúa chất phác, chẳng biết mình nói gì, làm gì, còn hơn bọn cuồng nhân nguệch ngoạc luật lệ kia, những kẻ chăm chăm đưa chúng ta lên máy chém để khiến chúng ta trở nên đức hạnh, thông thái và bắt chúng ta thờ phụng Đấng Tối cao, đấng đã tạo ra chúng theo hình ảnh của mình. Thuở trước, tôi vẫn nhờ một cha xứ khốn khổ làm lễ tại nhà nguyện Ilettes; sau khi uống rượu, ông thường nói: «Chớ nói xấu những kẻ có tội: chúng ta sống nhờ họ, lũ giáo sĩ bất xứng như chúng ta!» Ông phải công nhận, thưa ông, rằng tay nhai kinh ấy có những châm ngôn trị quốc rất lành mạnh. Chúng ta nên trở lại đường lối đó, cai trị con người đúng như họ vốn có, chứ không phải như ta muốn họ phải có.

La Thévenin đã lại gần lão Brotteaux. Nàng biết người đàn ông này xưa kia từng sống rất xa hoa, và trí tưởng tượng của nàng lấy ký ức huy hoàng ấy tô điểm cho cảnh nghèo hiện tại của nhà tài chính một thời; nàng thấy cảnh nghèo ấy bớt nhục nhã vì nó là cảnh chung và do sự phá sản của cả nước gây nên. Nàng tò mò và không phải không kính trọng ngắm nơi ông những tàn tích của một trong các vị Crésus hào phóng mà những nữ diễn viên thuộc thế hệ trước vẫn thở dài ca tụng. Vả lại, nàng thích cung cách của ông già mặc chiếc áo choàng màu nâu bọ chét, sờn đến thế mà sạch sẽ đến thế.

— Ông Brotteaux, nàng nói, người ta vẫn biết rằng thuở xưa, trong một khu vườn đẹp, giữa những đêm hội sáng trưng, ông từng lẻn vào các lùm sim cùng những nữ diễn viên và vũ nữ, trong tiếng sáo, tiếng vĩ cầm vọng lại từ xa… Than ôi! Các nữ thần của Nhà hát Opéra và Comédie-Française ngày ấy hẳn đẹp hơn chúng tôi, những nữ diễn viên quốc gia nhỏ bé đáng thương này, phải không?

— Xin cô đừng tin thế, Brotteaux đáp; cô nên biết rằng nếu thời ấy có một người giống như cô, thì chỉ cần nàng muốn, nàng đã một mình dạo bước như bậc nữ chúa, không hề có đối thủ, trong khu vườn mà cô đã rộng lòng hình dung đẹp đẽ đến vậy…

Quán trọ Chuông mang vẻ thôn dã. Một cành nhựa ruồi treo trên cổng xe, mở vào một khoảnh sân lúc nào cũng ẩm ướt, nơi đàn gà đang mổ thức ăn. Cuối sân là ngôi nhà gồm tầng trệt và một tầng lầu, đội mái ngói cao phủ rêu; những bức tường chìm khuất dưới các bụi hồng già đang nở đầy hoa. Bên phải, những ngọn cây tỉa dáng con thoi nhô lên trên bức tường thấp của khu vườn. Bên trái là chuồng ngựa, với một máng cỏ đặt ngoài trời và một kho thóc vách gỗ. Một chiếc thang tựa vào tường. Cũng ở phía ấy, dưới mái che chất đầy nông cụ và gốc cây, một con gà trống trắng đậu trên chiếc xe mui trần cũ, trông chừng đàn gà mái. Về phía này, sân được khép lại bởi các chuồng gia súc; trước chuồng nổi lên một đống phân như một gò đồi vinh quang, lúc ấy đang được một cô gái bề ngang lớn hơn chiều cao dùng chĩa đảo lên; tóc cô màu rơm. Nước phân đầy trong guốc rửa đôi chân trần, để lộ những gót chân vàng như nghệ thỉnh thoảng lại nhấc lên. Chiếc váy xắn cao phơi ra lớp cáu ghét trên hai bắp chân vừa đồ sộ vừa ngắn ngủn. Trong lúc Philippe Desmahis nhìn cô, vừa ngạc nhiên vừa thích thú trước trò kỳ quặc của tạo hóa đã nặn cô gái này theo chiều ngang, chủ quán gọi:

— Này, Mặt Bành! Đi lấy nước!

Cô quay lại, để lộ một khuôn mặt đỏ gay và cái miệng rộng thiếu mất một chiếc răng cửa. Phải cần đến sừng bò mộng mới làm mẻ nổi bộ răng lực lưỡng ấy. Vác chĩa lên vai, cô cười. Hai cánh tay xắn tay áo, lớn như bắp đùi, bóng lên dưới ánh mặt trời.

Bàn ăn được dọn trong gian phòng dưới, nơi mấy con gà đang quay gần chín dưới vòm lò sưởi có treo những khẩu súng cũ. Dài hơn hai mươi bộ, gian phòng quét vôi trắng chỉ nhận được ánh sáng qua những ô kính xanh xỉn trên cửa ra vào và một ô cửa sổ duy nhất viền hoa hồng; bên cửa sổ, bà cụ tổ đang quay guồng sợi. Bà đội mũ có dải ren phủ gáy theo kiểu thời Nhiếp chính. Những ngón tay xương xẩu, lấm đất, giữ con suốt. Ruồi đậu lên mép mí mắt mà bà không xua. Khi còn nằm trong tay mẹ, bà từng trông thấy Louis XIV ngồi xe ngựa đi qua.

Đã sáu mươi năm kể từ chuyến bà đi Paris. Bằng giọng yếu ớt, ngân nga, bà kể cho ba người phụ nữ trẻ đang đứng trước mặt rằng bà đã trông thấy Tòa Thị chính, điện Tuileries và Samaritaine; rằng khi bà đi qua Pont-Royal, một chiếc thuyền chở táo đến chợ Mail đã vỡ toác, táo trôi theo dòng nước, nhuộm cả con sông một màu đỏ thắm.

Bà đã được nghe nói về những thay đổi mới xảy ra trong vương quốc, nhất là mối bất hòa giữa các cha xứ tuyên thệ và những người nhất quyết không tuyên thệ. Bà cũng biết đã có chiến tranh, đói kém và những điềm lạ trên trời. Bà không tin nhà vua đã chết. Bà nói người ta đã cho ngài trốn qua một đường hầm và giao cho đao phủ một người dân thường thế mạng.

Dưới chân bà cụ tổ, trong chiếc nôi mây, Jeannot, đứa con mới sinh của nhà Poitrine, đang mọc răng. La Thévenin nhấc chiếc nôi liễu gai lên và mỉm cười với đứa trẻ; nó rên khe khẽ, kiệt sức vì sốt và co giật. Hẳn nó phải ốm nặng lắm, bởi người ta đã gọi thầy thuốc, công dân Pelleport; quả thực, tuy là đại biểu dự khuyết tại Quốc ước, ông không lấy tiền khám bệnh.

Công dân Thévenin, con nhà nòi sân khấu, đi đâu cũng tự nhiên như ở nhà mình; không hài lòng về cách Mặt Bành rửa bát đĩa, nàng lau lại các đĩa, cốc và nĩa. Trong lúc công dân Poitrine nấu xúp và nếm thử theo đúng bổn phận một bà chủ quán giỏi, Élodie xắt thành lát một ổ bánh mì bốn cân còn nóng từ lò. Thấy nàng làm vậy, Gamelin nói:

— Cách đây ít hôm, tôi có đọc một cuốn sách của một thanh niên Đức mà tôi quên mất tên, được dịch sang tiếng Pháp rất hay. Trong đó có một thiếu nữ xinh đẹp tên Charlotte, cũng xắt bánh mì như cô, Élodie, và cũng xắt duyên dáng như cô; nàng làm khéo và đẹp đến nỗi chàng Werther trẻ tuổi đem lòng yêu nàng.

— Rồi chuyện kết thúc bằng một đám cưới ư? Élodie hỏi.

— Không, Évariste đáp; chuyện kết thúc bằng cái chết dữ dội của Werther.

Họ ăn rất ngon miệng vì đều đói ngấu; nhưng thức ăn thì xoàng. Jean Blaise phàn nàn về điều đó: ông rất trọng miếng ăn và coi ăn ngon là một nguyên tắc sống; chắc hẳn chính nạn thiếu thốn chung đã thúc đẩy ông nâng thói ham ăn của mình thành cả một học thuyết. Cách mạng đã làm đổ nồi cơm trong mọi nhà. Dân thường chẳng có gì lót răng. Những kẻ khôn khéo như Jean Blaise, kiếm bộn tiền giữa cảnh khốn khó của thiên hạ, đến hàng cơm phô tài dí dỏm trong lúc ăn ngốn. Còn Brotteaux, người vào năm thứ II của Tự do phải sống bằng hạt dẻ và vụn bánh mì, vẫn nhớ mình từng dùng bữa tối tại nhà Grimod de La Reynière, ở đầu đại lộ Champs-Élysées. Muốn tỏ ra xứng danh một tay sành ăn, trước món cải bắp nấu thịt muối của bà Poitrine, ông tuôn ra hàng loạt công thức nấu nướng uyên bác cùng những giáo huấn ẩm thực tuyệt hảo. Và khi Gamelin tuyên bố rằng một người cộng hòa khinh thường những khoái lạc trên bàn ăn, nhà thầu thuế già vốn mê cổ học liền truyền cho chàng trai Sparta công thức đích thực của món canh đen.

Sau bữa ăn, Jean Blaise, vốn không quên những việc nghiêm túc, sai học viện dã ngoại của mình vẽ các bản phác thảo và ký họa quán trọ, nơi ông cho là có vẻ khá nên thơ trong cảnh điêu tàn. Trong lúc Philippe Desmahis và Philippe Dubois vẽ các chuồng gia súc, Mặt Bành đến cho lợn ăn. Công dân Pelleport, viên y sĩ vừa từ gian phòng dưới bước ra sau khi chăm sóc đứa bé nhà Poitrine, tiến lại gần các họa sĩ; sau khi ca ngợi tài năng làm vẻ vang cho toàn thể quốc gia của họ, ông chỉ Mặt Bành đứng giữa đàn lợn.

— Các công dân nhìn sinh vật kia đi, ông nói, đó không phải một cô gái như các vị có thể tưởng: đó là hai cô gái. Xin hiểu rằng tôi nói hoàn toàn theo nghĩa đen. Ngạc nhiên trước kích thước khổng lồ của bộ khung xương, tôi đã khám cô ta và nhận thấy phần lớn xương cốt đều có hai chiếc: mỗi bên đùi có hai xương đùi dính liền nhau; mỗi bên vai có hai xương cánh tay. Cô ta cũng có cơ bắp thành đôi. Theo tôi, đây là hai chị em song sinh gắn chặt với nhau, hay nói đúng hơn, hòa làm một. Trường hợp này rất đáng chú ý. Tôi đã báo cho ông Saint-Hilaire, và ông ấy rất cảm kích. Các công dân đang nhìn thấy một quái thai đấy. Người ở đây gọi cô ta là «Mặt Bành». Đáng ra họ phải gọi là «hai Mặt Bành»: cô ta là hai người. Tự nhiên có những điều kỳ quặc như thế… Chúc các công dân họa sĩ ngủ ngon! Đêm nay sẽ có giông…

Sau bữa tối dưới ánh nến, học viện Blaise cùng một người con trai và một người con gái nhà Poitrine chơi bịt mắt bắt dê trong sân quán trọ. Đám trai gái trẻ đem vào cuộc chơi một sức hăng hái mà tuổi tác của họ đã đủ giải thích, khỏi cần tự hỏi liệu sự dữ dội và bất trắc của thời cuộc có làm nhiệt tình ấy bốc cao hơn chăng. Khi trời tối hẳn, Jean Blaise đề nghị vào gian phòng dưới chơi những trò vô hại. Élodie xin chơi trò «săn tim» và được tất cả mọi người tán thành. Theo lời chỉ dẫn của thiếu nữ, Philippe Desmahis dùng phấn vẽ lên đồ đạc, cửa ra vào và tường bảy trái tim, tức là ít hơn số người chơi một trái, vì lão Brotteaux cũng vui lòng nhập cuộc. Họ nắm tay múa vòng tròn theo bài «Tháp ơi, coi chừng»; đến hiệu lệnh của Élodie, mỗi người chạy đi đặt tay lên một trái tim. Gamelin lơ đãng và vụng về, thấy trái nào cũng đã có người chiếm; chàng phải nộp vật thế là con dao nhỏ mua sáu xu ở hội chợ Saint-Germain, con dao từng dùng để cắt bánh mì cho bà mẹ nghèo. Trò chơi bắt đầu lại; rồi lần lượt Blaise, Élodie, Brotteaux và La Thévenin không tìm được trái tim, mỗi người phải nộp một vật thế: chiếc nhẫn, túi lưới, cuốn sách nhỏ bọc da Ma-rốc, vòng tay. Sau đó, các vật thế được rút thăm trên lòng Élodie; để chuộc lại đồ của mình, mỗi người phải trổ tài mua vui, hát một bài hoặc ngâm thơ. Brotteaux đọc lời của vị thánh bảo hộ nước Pháp trong khúc ca thứ nhất của La Pucelle:

Ta là Denis, hành nghề làm thánh. Ta yêu xứ Gaule…

Công dân Blaise, tuy kém chữ nghĩa hơn, không chút ngần ngại đọc lời đáp của Richemond:

Thưa ngài Thánh, đâu cần phải thế Rời bỏ miền thiên giới cao xa…

Bấy giờ ai nấy đều say mê đọc đi đọc lại kiệt tác của vị Arioste nước Pháp; những người nghiêm nghị nhất cũng mỉm cười trước chuyện tình của Jeanne và Dunois, những cuộc phiêu lưu của Agnès và Monrose, cùng các chiến công của con lừa có cánh. Mọi người có học đều thuộc lòng những đoạn hay trong thiên trường thi vừa tiêu khiển vừa giàu triết lý ấy. Ngay cả Évariste Gamelin, tuy tính tình nghiêm khắc, khi nhận lại từ lòng Élodie con dao sáu liard, cũng vui vẻ ngâm đoạn Grisbourdon xuống địa ngục. Công dân Thévenin hát không nhạc đệm khúc tình ca của Nina: Khi người yêu dấu trở về. Desmahis hát theo điệu Faridondaine:

Mấy kẻ bắt con lợn Của thánh Antoine hiền hậu, Đội cho nó chiếc mũ trùm, Biến nó thành thầy tu. Chẳng tốn gì ngoài tiền công…

Tuy nhiên, Desmahis đang mang nhiều tâm sự. Lúc ấy, chàng yêu say đắm cả ba người phụ nữ cùng chơi trò «chạm vật thế» với mình, và ném về phía cả ba những ánh mắt vừa nồng cháy vừa dịu dàng. Chàng yêu La Thévenin vì vẻ duyên dáng, thân hình mềm mại, nghệ thuật từng trải, những cái liếc mắt và giọng hát thấu đến tận lòng; chàng yêu Élodie, vì cảm thấy nàng có một bản tính dồi dào, phong phú và sẵn lòng trao hiến; chàng yêu Julienne Hasard, bất chấp mái tóc bạc màu, hàng mi trắng, những nốt tàn nhang và thân hình gầy gò của nàng, bởi cũng như Dunois mà Voltaire nói đến trong La Pucelle, với lòng hào hiệp, chàng luôn sẵn sàng ban cho người kém xinh nhất một dấu hiệu tình yêu; huống chi lúc ấy, nàng có vẻ ít vướng bận nhất và do đó dễ đến gần nhất. Không hề có chút tự phụ, chàng chẳng bao giờ chắc mình sẽ được đón nhận; mà cũng chẳng bao giờ chắc mình sẽ bị khước từ. Vì thế, chàng cứ ngỏ lời để cầu may. Lợi dụng những cuộc gặp gỡ thuận tiện trong trò «chạm vật thế», chàng nói vài lời âu yếm với La Thévenin; nàng không phật ý, nhưng khó lòng đáp lại dưới ánh mắt ghen tuông của công dân Jean Blaise. Chàng còn thổ lộ nồng nàn hơn với công dân Élodie, dù biết nàng đã gắn bó với Gamelin; nhưng chàng không đòi hỏi đến mức muốn chiếm một trái tim cho riêng mình. Élodie không thể yêu chàng; song nàng thấy chàng đẹp trai và không hoàn toàn giấu nổi điều đó. Cuối cùng, chàng ghé tai công dân Hasard thốt ra những lời cầu khẩn tha thiết nhất; nàng đáp lại bằng một vẻ sững sờ, có thể biểu lộ sự quy thuận đến mê mẩn, cũng có thể là một nỗi thờ ơ ảm đạm. Và Desmahis không tin rằng nàng thờ ơ.

Trong quán trọ chỉ có hai phòng ngủ, đều ở tầng một và cùng mở ra một chiếu nghỉ. Căn bên trái, đẹp hơn, dán giấy hoa và trang trí bằng một tấm gương chỉ lớn bằng bàn tay; chiếc khung mạ vàng của nó đã chịu ruồi nhặng làm nhục từ thuở Louis XV còn thơ ấu. Tại đó, dưới những màn giường bằng vải hoa in cành lá, kê hai chiếc giường có gối lông chim, nệm lông tơ và chăn chần. Phòng này được dành cho ba nữ công dân.

Đến giờ đi nghỉ, Desmahis và công dân Hasard, mỗi người cầm một chân nến, chúc nhau ngủ ngon trên chiếu nghỉ. Chàng thợ khắc si tình kín đáo luồn cho con gái người bán phẩm màu một mảnh giấy, trong đó chàng xin nàng đợi khi mọi người đã ngủ thì lên gặp mình trên gác xép phía trên phòng của các nữ công dân.

Thận trọng và khôn ngoan, ngay ban ngày chàng đã xem xét kỹ địa thế trong nhà và thám sát căn gác xép ấy, nơi chất đầy những xâu hành, hoa quả đang phơi khô dưới một đàn ong vò vẽ, những hòm xiểng và rương cũ. Chàng còn trông thấy ở đó một chiếc giường dây cũ khập khiễng, dường như đã bỏ đi, cùng một tấm đệm rơm bục toác, nơi lũ bọ chét nhảy nhót.

Đối diện phòng các nữ công dân là một căn phòng khá nhỏ, kê ba chiếc giường, dành cho các nam công dân lữ hành tùy nghi nghỉ lại. Nhưng Brotteaux vốn là kẻ chuộng tiện nghi, đã ra kho thóc ngủ trên đống cỏ khô. Còn Jean Blaise thì đã biến đâu mất. Dubois và Gamelin chẳng mấy chốc đã thiếp đi. Desmahis lên giường; nhưng khi sự tĩnh lặng của đêm khuya đã phủ lên ngôi nhà như một làn nước im lìm, chàng thợ khắc liền trở dậy, bước lên cầu thang gỗ, khiến những bậc thang kêu cót két dưới đôi chân trần. Cửa gác mái hé mở. Từ trong đó phả ra hơi nóng ngột ngạt cùng mùi hăng hắc của trái cây thối rữa. Trên một chiếc giường dây khập khiễng, cô Tronche đang ngủ, miệng há, áo lót tốc lên, hai chân dạng ra. Thân hình cô đồ sộ. Một tia trăng xuyên qua ô cửa mái, nhuộm xanh biếc và ánh bạc làn da cô; giữa những mảng cáu ghét đóng vảy và các vệt nước phân bắn tóe, làn da ấy vẫn ngời lên vẻ trẻ trung, tươi mát. Desmahis bổ nhào lên người cô; giật mình tỉnh giấc, cô hoảng sợ kêu lên; nhưng vừa hiểu người ta muốn gì ở mình, cô liền yên tâm, không tỏ vẻ ngạc nhiên hay phật ý, lại giả vờ vẫn còn chìm trong cơn nửa tỉnh nửa mê, một trạng thái vừa tước khỏi cô ý thức về sự việc, vừa cho phép cô cảm nhận đôi chút…

Desmahis trở về phòng, ngủ một giấc yên lành và sâu cho đến sáng.

Hôm sau, sau một ngày làm việc cuối cùng, đoàn hàn lâm du ngoạn lại lên đường về Paris. Khi Jean Blaise trả tiền trọ bằng assignat, công dân Poitrine than thở rằng giờ chỉ còn thấy toàn “tiền vuông”, và hứa sẽ dâng một cây nến thật đẹp cho gã quỷ nào đem những đồng vàng trở lại.

Ông tặng hoa cho các nữ công dân. Theo lệnh ông, cô Tronche đứng trên thang, chân đi guốc, váy xắn cao, phơi dưới ánh ngày đôi bắp chân cáu bẩn mà bóng ngời, không ngừng tay cắt hoa từ những bụi hồng leo phủ kín bức tường. Từ hai bàn tay rộng của cô, hoa hồng đổ xuống như mưa, như thác, như tuyết lở, vào những vạt váy căng ra của Élodie, Julienne và cô Thévenin. Cỗ xe đầy ngập hoa. Khi trở về lúc đêm xuống, ai nấy đều mang về nhà từng ôm lớn, khiến cả giấc ngủ lẫn phút tỉnh giấc của họ đều ngát hương.