Thần linh khát máu — Chương 11

Chương 11 / 29 · Bài review Thần linh khát máu

Sáng ngày 7 tháng Chín, nữ công dân Rochemaure đến gặp bồi thẩm Gamelin, định nhờ chàng lưu tâm đến một kẻ tình nghi quen biết của bà, thì bắt gặp trên chiếu nghỉ cầu thang cựu quý tộc Brotteaux des Ilettes, người bà từng yêu trong những ngày sung sướng. Brotteaux đang trên đường đem mười hai tá hình nhân do mình làm đến cửa hàng đồ chơi ở phố Loi. Để mang đi cho tiện, ông đã quyết định buộc chúng vào đầu một cây sào, theo lối những người bán hàng rong. Ông đối đãi hào hoa với tất cả phụ nữ, kể cả những người mà thói quen lâu ngày đã làm phai nhạt sức quyến rũ đối với ông, như hẳn là trường hợp của Madame de Rochemaure; trừ phi, được điểm thêm gia vị phản bội, xa cách, bất trung và đẫy đà, bà lại trở nên ngon mắt trong mắt ông. Dẫu sao, trên chiếu nghỉ cầu thang nhớp nhúa, lát những viên gạch long mạch ấy, ông vẫn đón tiếp bà như xưa kia trên những bậc thềm dinh Ilettes, và mời bà ban cho ông cái vinh hạnh ghé thăm căn gác xép. Bà leo thang khá nhanh nhẹn và thấy mình ở dưới một bộ mái có những thanh xà nghiêng đỡ lớp ngói thủng một ô cửa trời. Ở đó không thể đứng thẳng người. Bà ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong xó nhỏ, đưa mắt nhìn một hồi những viên ngói hở kẽ rồi ngạc nhiên, buồn bã hỏi:

— Maurice, ông ở đây ư? Hẳn ông chẳng mấy phải sợ những kẻ quấy rầy. Phải là quỷ hoặc mèo mới tìm được tới chỗ ông.

— Chỗ tôi ở có phần chật hẹp, cựu quý tộc đáp. Và tôi không giấu bà rằng đôi khi mưa dột xuống chiếc giường tồi tàn của tôi. Đó chỉ là một điều bất tiện nhỏ. Còn vào những đêm quang, tôi được ngắm mặt trăng, hình ảnh và chứng nhân cho tình yêu của loài người. Bởi mặt trăng, thưa bà, từ muôn thuở vẫn được những kẻ yêu nhau viện làm chứng; và lúc tròn đầy, nhợt nhạt, viên mãn, nó gợi cho người tình nhớ tới đối tượng của niềm khao khát.

— Tôi hiểu, nữ công dân nói.

— Đến mùa, Brotteaux nói tiếp, lũ mèo làm huyên náo ghê gớm trên máng xối này. Nhưng phải tha thứ cho tình yêu khi nó kêu gào và nguyền rủa trên mái nhà, bởi trong đời người, nó gây nên biết bao đau khổ và tội ác.

Cả hai đã đủ khôn ngoan để gặp lại nhau như đôi bạn mới chia tay từ tối hôm trước để về ngủ; và tuy đã trở thành xa lạ với nhau, họ vẫn trò chuyện một cách duyên dáng, thân tình.

Tuy nhiên, Madame de Rochemaure có vẻ âu lo. Cuộc Cách mạng, bấy lâu vẫn tươi cười và sinh lợi đối với bà, giờ đây đem lại cho bà những nỗi bận tâm và bất an; những bữa ăn tối của bà dần kém lộng lẫy, kém vui vẻ. Tiếng đàn hạc không còn làm những gương mặt u ám sáng lên. Những tay đánh lớn giàu có nhất đã bỏ các bàn bạc của bà. Một số khách quen, nay bị tình nghi, phải lẩn trốn; bạn bà, nhà tài chính Morhardt, đã bị bắt, và chính vì ông ta mà bà đến cầu cạnh bồi thẩm Gamelin. Bản thân bà cũng bị tình nghi. Lính Vệ quốc đã đến khám nhà bà, lục tung các ngăn tủ, nạy những tấm ván sàn, lấy lưỡi lê đâm vào nệm. Họ không tìm thấy gì, đã xin lỗi bà rồi uống rượu của bà. Nhưng họ suýt nữa phát hiện thư từ giữa bà với một người lưu vong, ông d’Expilly. Vài người bạn trong phái Jacobin đã báo cho bà biết chàng Henry tuấn tú, nhân tình trẻ của bà, đang trở nên nguy hiểm vì những hành vi bạo liệt quá mức, đến nỗi không còn có vẻ thành thực.

Chống khuỷu tay lên đầu gối, hai nắm tay tì vào má, bà trầm ngâm hỏi người bạn cũ đang ngồi trên tấm đệm rơm:

— Maurice, ông nghĩ sao về tất cả những chuyện này?

— Tôi nghĩ những người này đem lại cho một triết gia và một kẻ ham xem trò đời vô vàn chất liệu để suy ngẫm và tiêu khiển; nhưng với bà, bạn thân mến, tốt hơn cả là nên rời khỏi nước Pháp.

— Maurice, rồi chuyện này sẽ đưa chúng ta đến đâu?

— Louise, một hôm trên xe, bên bờ sông Cher, trên đường đến Ilettes, bà cũng đã hỏi tôi như thế, trong khi con ngựa ngậm cứng hàm thiếc, cuốn chúng ta đi trong một cuộc phi nước đại điên cuồng. Phụ nữ sao mà tò mò đến thế! Hôm nay bà lại vẫn muốn biết chúng ta đang đi đâu. Hãy hỏi những mụ bói bài. Tôi không phải thầy tiên tri đâu, bà bạn yêu quý. Và triết học, dù lành mạnh nhất, cũng chẳng giúp được bao nhiêu trong việc hiểu biết tương lai. Những chuyện này rồi sẽ chấm dứt, bởi mọi sự đều chấm dứt. Có thể dự đoán nhiều kết cục khác nhau. Liên quân có thể chiến thắng và quân đồng minh tiến vào Paris. Họ không còn cách xa; tuy nhiên, tôi ngờ rằng họ sẽ đến được đó. Những người lính Cộng hòa này chịu thua trận với một lòng hăng hái không gì dập tắt nổi. Cũng có thể Robespierre cưới Madame Royale và được phong làm người bảo hộ vương quốc trong thời gian Louis XVII còn vị thành niên.

— Ông tin thế sao? nữ công dân reo lên, nóng lòng muốn được dự phần vào cuộc mưu đồ tuyệt đẹp ấy.

— Cũng có thể, Brotteaux nói tiếp, Vendée sẽ thắng và nền cai trị của giới giáo sĩ được dựng lại trên những đống hoang tàn và những núi thây người. Bạn thân mến, bà không thể hình dung quyền lực mà hàng giáo sĩ vẫn giữ được đối với đám đông những con lừa… Tôi định nói “những linh hồn”; tôi lỡ lời. Theo tôi, khả năng lớn nhất là Tòa án Cách mạng sẽ đưa chính chế độ đã lập ra nó đến chỗ diệt vong: nó đe dọa quá nhiều cái đầu. Những người bị nó làm cho kinh sợ nhiều không đếm xuể; họ sẽ liên kết với nhau, và để tiêu diệt nó, họ sẽ tiêu diệt cả chế độ. Tôi tin chính bà đã giúp chàng Gamelin trẻ tuổi được bổ nhiệm vào pháp đình ấy. Chàng ta đức hạnh: chàng ta sẽ khủng khiếp. Càng nghĩ, bạn đẹp của tôi ạ, tôi càng tin rằng tòa án được lập ra để cứu nền Cộng hòa này sẽ làm nền Cộng hòa diệt vong. Quốc ước đã muốn có, như vương quyền từng có, những Đại pháp đình và một Pháp đình Hỏa án, muốn bảo đảm an toàn cho mình bằng những thẩm phán do chính mình bổ nhiệm và buộc phải lệ thuộc vào mình. Nhưng Đại pháp đình của Quốc ước kém xa Đại pháp đình của nền quân chủ, và Pháp đình Hỏa thiêu của nó cũng kém phần khôn khéo chính trị hơn pháp đình của Louis XIV biết bao! Trong Tòa án Cách mạng ngự trị một thứ ý thức công lý thấp kém cùng một tinh thần bình đẳng tầm thường, chẳng bao lâu sẽ khiến nó vừa đáng ghét vừa lố bịch, làm mọi người ghê tởm. Louise, bà có biết tòa án sắp gọi hoàng hậu nước Pháp cùng hai mươi mốt nhà lập pháp ra trước vành móng ngựa ấy hôm qua vừa kết án một nữ gia nhân phạm tội hô: “Đức vua muôn năm!” với ác ý và ý định tiêu diệt nền Cộng hòa hay không? Các vị thẩm phán của chúng ta, đầu cắm đầy lông đen, hành nghề theo lối Guillaume Shakespeare, người được dân Anh hết sức yêu chuộng, vẫn đưa những trò hề thô tục vào các cảnh bi thảm nhất trên sân khấu của mình.

— Thế nào, Maurice, nữ công dân hỏi, ông vẫn hạnh phúc trong tình yêu chứ?

— Than ôi! Brotteaux đáp, chim bồ câu bay về chuồng trắng, không còn đậu trên ngọn tháp đổ nát nữa.

— Ông vẫn chẳng thay đổi… Tạm biệt, bạn tôi!

Tối hôm ấy, chàng long kỵ binh Henry không được mời mà vẫn đến nhà Madame de Rochemaure, bắt gặp bà đang niêm một bức thư, trên đó chàng đọc thấy địa chỉ của công dân Rauline, ở Vernon. Chàng biết đó là thư gửi sang Anh. Rauline nhận thư từ của Madame de Rochemaure qua một người đánh xe trạm của hãng vận chuyển, rồi nhờ một nữ lái buôn hải sản đem tới Dieppe. Ban đêm, một chủ thuyền giao nó cho một tàu Anh tuần tiễu ngoài khơi; tại London, người lưu vong d’Expilly tiếp nhận và, nếu xét thấy hữu ích, sẽ chuyển cho nội các Saint-James.

Henry trẻ và đẹp: Achille cũng không kết hợp được ngần ấy duyên dáng với ngần ấy sức mạnh khi khoác lên mình bộ giáp do Ulysse trao cho. Nhưng nữ công dân Rochemaure, mới đây còn rung động trước vẻ quyến rũ của người anh hùng trẻ tuổi thuộc Công xã Paris, nay đã ngoảnh cả mắt lẫn lòng khỏi chàng, từ khi được cảnh báo rằng chàng lính trẻ này, bị tố cáo với phái Jacobin là một kẻ cực đoan, có thể liên lụy và làm bà mất mạng. Henry cảm thấy thôi yêu Madame de Rochemaure có lẽ không phải điều vượt quá sức mình; nhưng chàng không ưa việc bà không còn biệt đãi chàng. Chàng trông cậy vào bà để trang trải một số khoản chi tiêu mà việc phụng sự nền Cộng hòa đã khiến chàng phải gánh chịu. Sau hết, nghĩ đến những điều cùng cực mà đàn bà có thể làm, đến việc họ chuyển nhanh biết bao từ lòng âu yếm nồng nhiệt nhất sang sự dửng dưng lạnh lùng nhất, và họ dễ dàng đến mức nào trong việc hy sinh kẻ mình từng nâng niu, hủy hoại người mình từng tôn thờ, chàng ngờ rằng một ngày nào đó Louise kiều diễm có thể cho tống chàng vào tù để rũ bỏ chàng. Sự khôn ngoan khuyên chàng chinh phục lại người đẹp đã mất. Vì thế chàng đến, mang theo tất cả sức quyến rũ của mình. Chàng tiến lại gần bà, lùi xa, lại tiến tới, lướt sát qua bà rồi tránh đi, đúng theo những phép quyến rũ trong vũ kịch. Sau đó, chàng gieo mình xuống ghế bành và, bằng giọng nói vô địch, giọng nói thấu đến tận tâm can đàn bà, chàng ca ngợi thiên nhiên cùng cảnh cô tịch, rồi vừa thở dài vừa đề nghị bà đi dạo ở Ermenonville.

Trong khi ấy, bà gảy vài hợp âm trên đàn hạc và đưa mắt nhìn quanh với vẻ nôn nóng, chán chường. Đột nhiên, Henry đứng phắt dậy, mặt tối sầm, ý chí quả quyết, báo với bà rằng chàng sắp ra quân và chỉ vài ngày nữa sẽ có mặt trước Maubeuge.

Không tỏ vẻ ngờ vực hay ngạc nhiên, bà gật đầu tán thành.

— Bà chúc mừng tôi về quyết định này sao?

— Tôi xin chúc mừng ông.

Bà đang chờ một người bạn mới khiến bà vô cùng ưng ý và từ người ấy bà hy vọng thu được những lợi ích lớn lao; một con người khác hẳn chàng này: một Mirabeau sống lại, một Danton đã được chải chuốt và trở thành nhà cung ứng, một con sư tử luôn miệng nói sẽ ném tất cả những người yêu nước xuống sông Seine. Mỗi lúc bà lại tưởng nghe tiếng chuông cửa và giật mình.

Để đuổi Henry về, bà im lặng, ngáp, lật xem một bản nhạc rồi lại ngáp. Thấy chàng vẫn không chịu đi, bà bảo mình phải ra ngoài và bước vào phòng trang điểm.

Chàng xúc động gọi với theo:

— Vĩnh biệt, Louise!… Tôi còn được gặp lại bà nữa không?

Và hai tay chàng lục lọi trong chiếc bàn giấy đang mở.

Vừa ra đến phố, chàng mở bức thư đề gửi công dân Rauline và chăm chú đọc. Quả thật, nó chứa đựng một bức tranh lạ lùng về trạng thái công luận ở Pháp. Trong thư có nói đến hoàng hậu, Thévenin, Tòa án Cách mạng, và thuật lại nhiều lời tâm sự của Brotteaux des Ilettes tốt bụng.

Đọc xong và cất bức thư vào túi, chàng do dự trong giây lát; rồi, như một người đã quyết định và tự nhủ càng sớm càng tốt, chàng đi về phía Tuileries và bước vào phòng đợi của Ủy ban An ninh Toàn quốc.

Hôm ấy, vào ba giờ chiều, Évariste Gamelin ngồi vào ghế bồi thẩm cùng mười bốn đồng sự, phần lớn đều quen biết: những con người chất phác, lương thiện và yêu nước, gồm các học giả, nghệ sĩ hoặc thợ thủ công; một họa sĩ như chàng, một người vẽ kiểu, cả hai đều đầy tài năng, một bác sĩ phẫu thuật, một thợ giày, một cựu hầu tước từng đưa ra những bằng chứng lớn lao về tinh thần công dân, một thợ in, vài tiểu thương; tóm lại, một mẫu thu nhỏ của dân chúng Paris. Họ ngồi đó trong y phục thợ thuyền hoặc thị dân, tóc cắt kiểu Titus hay buộc đuôi sam, mũ hai sừng kéo sụp xuống mắt, hoặc mũ tròn đội ngả ra sau đầu, hoặc mũ đỏ trùm kín tai. Một số mặc áo vét ngắn, áo dài và quần ống túm như thời trước, số khác mặc áo carmagnole và quần dài sọc theo kiểu người sans-culotte. Người đi ủng, kẻ đi giày cài khóa, người mang guốc; trên mình họ hiện đủ mọi kiểu y phục nam giới thịnh hành bấy giờ. Vì ai nấy đều đã ngồi xử nhiều lần, họ có vẻ hết sức thoải mái trên ghế, và Gamelin thèm muốn sự bình thản ấy. Tim chàng đập mạnh, tai ù lên, mắt mờ đi, và mọi vật chung quanh đều nhuốm một sắc tái nhợt đối với chàng.

Khi viên mõ tòa xướng báo Hội đồng xét xử, ba thẩm phán lên ngồi trên một bục khá nhỏ, trước chiếc bàn phủ vải xanh. Họ đội mũ gắn huy hiệu ba màu, bên trên cắm những chiếc lông đen lớn, mặc áo choàng xét xử cùng dải băng tam sắc, từ đó một tấm huy chương bạc nặng trĩu rủ xuống trước ngực. Trước mặt họ, dưới chân bục, viên phó công tố ngồi trong bộ lễ phục tương tự. Thư ký tòa ngồi giữa Hội đồng xét xử và chiếc ghế trống dành cho bị cáo. Gamelin thấy những người này khác hẳn hình ảnh chàng từng thấy ở họ, đẹp đẽ hơn, nghiêm nghị hơn, đáng sợ hơn, mặc dù họ vẫn giữ những điệu bộ tự nhiên: giở xem giấy tờ, gọi viên mõ tòa, hoặc ngả người ra sau để nghe một bồi thẩm hay một viên chức trực ban nói điều gì đó.

Phía trên các thẩm phán treo những tấm bảng ghi Quyền Con người; bên phải và bên trái họ, áp vào những bức tường phong kiến cổ kính, là tượng bán thân của Le Peltier Saint-Fargeau và Marat. Đối diện ghế bồi thẩm, ở cuối phòng, là khán đài công chúng. Hàng ghế đầu đầy những phụ nữ tóc vàng, tóc nâu hoặc tóc hoa râm, tất cả đều đội chiếc mũ cao có dải viền xếp nếp che bóng xuống hai má; trên bộ ngực mà thời trang đồng loạt tạo cho vẻ đầy đặn như bầu vú người mẹ nuôi con, khăn quàng trắng bắt chéo, hoặc yếm tạp dề xanh uốn cong. Họ khoanh tay trên mép khán đài. Sau lưng họ, thưa thớt trên những bậc ghế, là các công dân ăn mặc muôn vẻ, sự đa dạng bấy giờ khiến đám đông mang một dáng vẻ kỳ lạ và nên tranh. Bên phải, gần cửa vào, phía sau một hàng rào kín, là khoảng dành cho công chúng đứng. Lần này số người ở đó không đông. Vụ án mà phân tòa này sắp xét xử chỉ thu hút một số ít khán giả; chắc hẳn những phân tòa khác, cùng lúc mở phiên, đang xét những vụ gây xúc động hơn.

Điều đó phần nào trấn an Gamelin, bởi trái tim chực chùn lại của chàng không thể chịu nổi bầu không khí sôi sục trong những phiên xử lớn. Mắt chàng bám lấy từng chi tiết nhỏ nhặt: chàng nhận thấy nút bông trong tai viên thư ký và một vết mực trên hồ sơ của viên phó công tố. Như nhìn qua kính phóng đại, chàng thấy những đầu cột được chạm khắc vào thời mà mọi hiểu biết về các thức cột cổ đại đều đã mai một, đội lên những cột Gothic các vòng hoa kết bằng lá tầm ma và nhựa ruồi. Nhưng mắt chàng không ngừng quay trở lại chiếc ghế bành có kiểu dáng lỗi thời, bọc nhung Utrecht đỏ, mặt ghế đã sờn và tay vịn đã đen lại. Lính Vệ quốc có vũ trang đứng canh tại mọi lối ra vào.

Cuối cùng, bị cáo xuất hiện, có lính phóng lựu áp giải, song chân tay vẫn được tự do như luật định. Đó là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, gầy gò, khô đét, nước da ngăm, đầu gần như hói trụi, má hóp, môi mỏng và tím tái, mặc theo lối xưa một chiếc áo dài màu tiết bò. Hẳn vì đang sốt, đôi mắt ông ta sáng như đá quý, còn hai má nom bóng như phủ véc-ni. Ông ta ngồi xuống. Đôi chân bắt chéo gầy đến quá mức, hai bàn tay lớn, xương xẩu ôm trọn lấy chúng. Ông ta tên là Marie-Adolphe Guillergues, bị buộc tội biển thủ trong việc cung ứng cỏ khô cho nền Cộng hòa. Bản cáo trạng quy cho ông ta nhiều hành vi nghiêm trọng, nhưng không một hành vi nào hoàn toàn xác thực. Khi bị thẩm vấn, Guillergues phủ nhận phần lớn các sự việc ấy và giải thích những việc còn lại theo hướng có lợi cho mình. Lời lẽ của ông ta chính xác, lạnh lùng, khéo léo khác thường, khiến người ta nghĩ đây là một kẻ không ai muốn giao dịch cùng. Câu hỏi nào ông ta cũng có lời đáp. Khi quan tòa đặt một câu hỏi khó, nét mặt ông ta vẫn bình thản, giọng nói vẫn vững vàng, nhưng hai bàn tay chắp trên ngực lại co quắp vì lo âu. Gamelin nhận thấy điều đó và ghé tai người ngồi bên cạnh, cũng là một họa sĩ như anh, nói:

— Nhìn hai ngón tay cái của ông ta kìa!

Nhân chứng đầu tiên được gọi lên đưa ra những sự việc có sức buộc tội nặng nề. Toàn bộ lời cáo buộc dựa vào người này. Trái lại, những người được gọi sau đều tỏ ra có lợi cho bị cáo. Viên phó công tố viên công tố hết sức hùng hồn, nhưng chỉ nói những điều mơ hồ. Luật sư biện hộ cất lời bằng một giọng chân thành, nhờ đó bị cáo giành được những thiện cảm mà chính mình đã không biết cách gây nên. Phiên tòa tạm ngừng, các hội thẩm lui vào phòng nghị án. Tại đó, sau một cuộc tranh luận mù mờ và hỗn độn, họ chia thành hai nhóm gần ngang nhau. Một bên là những người thờ ơ, ôn hòa, ưa lý luận, không bị một đam mê nào chi phối; bên kia là những người để tình cảm dẫn dắt, ít chịu nghe lý lẽ và phán xét bằng con tim. Những người này bao giờ cũng kết tội. Đó là những người tốt, những người thuần khiết: họ chỉ nghĩ đến việc cứu nền Cộng hòa và không bận tâm đến phần còn lại. Thái độ của họ gây ấn tượng mạnh với Gamelin, người cảm thấy mình đồng tâm nhất trí với họ.

“Tên Guillergues này,” anh nghĩ, “là một tên gian xảo lọc lõi, một kẻ đê tiện đã đầu cơ cỏ khô dành cho kỵ binh của chúng ta. Tha bổng hắn là để một tên phản bội thoát thân, là phản bội tổ quốc, là đẩy quân đội đến chỗ bại trận.” Và Gamelin đã thấy trước những kỵ binh hussard của nền Cộng hòa, trên những con ngựa bước hụt chân, bị kỵ binh địch chém ngã… “Nhưng nếu Guillergues vô tội thì sao?…”

Bỗng anh nghĩ đến Jean Blaise, người cũng bị nghi là gian dối trong việc cung ứng quân nhu. Hẳn còn biết bao kẻ khác hành động như Guillergues và Blaise, chuẩn bị cho thất bại, đẩy nền Cộng hòa đến chỗ diệt vong! Cần phải trừng trị một kẻ để làm gương. Nhưng nếu Guillergues vô tội thì sao?…

— Không có chứng cứ, Gamelin nói lớn.

— Chẳng bao giờ có chứng cứ cả, trưởng đoàn hội thẩm, một người tốt, một người thuần khiết, nhún vai đáp.

Cuối cùng, có bảy phiếu kết tội và tám phiếu tha bổng.

Đoàn hội thẩm trở lại phòng xử và phiên tòa tiếp tục. Các hội thẩm có bổn phận trình bày căn cứ cho phán quyết của mình; từng người lần lượt đứng nói trước chiếc ghế trống. Người thì dài dòng; người chỉ nói một lời; lại có kẻ thốt ra những câu không ai hiểu nổi.

Đến lượt mình, Gamelin đứng dậy và nói:

— Đứng trước một tội ác lớn lao như tước khỏi tay những người bảo vệ tổ quốc phương tiện giành chiến thắng, người ta đòi hỏi những chứng cứ xác thực, mà chúng ta không có.

Theo đa số phiếu, bị cáo được tuyên vô tội.

Guillergues được đưa trở lại trước các quan tòa giữa những tiếng rì rầm thiện cảm của khán giả, báo cho ông ta biết mình đã được tha bổng. Ông ta đã thành một con người khác. Vẻ khô khắc trên các đường nét tan biến, đôi môi trở nên mềm mại. Ông ta có vẻ đáng kính; gương mặt biểu lộ sự vô tội. Chủ tọa xúc động đọc phán quyết trả tự do cho người bị buộc tội; cả phòng vỡ òa tiếng vỗ tay. Viên hiến binh đã áp giải Guillergues lao đến ôm lấy ông ta. Chủ tọa gọi ông ta lại và trao một cái ôm huynh đệ. Các hội thẩm lần lượt ôm hôn ông ta. Gamelin khóc nức nở.

Trong sân Palais de Justice, rực sáng dưới những tia nắng cuối ngày, một đám đông gào thét đang cuộn lên náo động. Hôm trước, bốn phân ban của Tòa án đã tuyên ba mươi án tử hình, và trên những bậc cầu thang lớn, các bà đan len ngồi xổm chờ xe tù lên đường. Nhưng Gamelin, theo dòng hội thẩm và khán giả bước xuống các bậc thềm, chẳng nhìn thấy gì, chẳng nghe thấy gì ngoài hành động công bằng và nhân đạo của mình cùng những lời anh tự ngợi khen vì đã nhận ra sự vô tội. Trong sân, Élodie, mặt trắng bệch, vừa khóc vừa cười, lao vào vòng tay anh và ngất lịm trong đó. Khi đã nói lại được, nàng bảo anh:

— Évariste, anh thật cao đẹp, thật tốt lành, thật hào hiệp! Trong phòng xử ấy, giọng nói vừa nam tính vừa dịu dàng của anh truyền những làn sóng từ lực xuyên suốt cả người em. Em như bị luồng điện ấy làm rung động. Em ngắm anh trên ghế hội thẩm. Em chỉ nhìn thấy mình anh. Nhưng anh, bạn yêu quý của em, anh không đoán được em có mặt ở đó sao? Không có gì báo cho anh biết rằng em đang ở đấy ư? Em ngồi trên khán đài, hàng thứ hai, bên phải. Lạy Chúa! Làm điều thiện mới ngọt ngào biết bao! Anh đã cứu con người bất hạnh ấy. Không có anh, đời ông ta kể như đã hết: ông ta sẽ phải chết. Anh đã trả ông ta về với cuộc sống, với tình yêu của những người thân. Lúc này, hẳn ông ta đang chúc phúc cho anh. Évariste, em sung sướng và tự hào biết bao vì được yêu anh!

Khoác tay nhau, nép sát vào nhau, họ đi qua các phố, thấy mình nhẹ bẫng đến ngỡ như đang bay.

Họ đi về phía cửa hiệu L’Amour peintre. Khi đến Oratoire:

— Ta đừng đi qua cửa hiệu, Élodie nói.

Nàng đưa anh vào bằng cổng xe ngựa và cùng anh lên căn hộ. Đến chiếu nghỉ cầu thang, nàng lấy trong túi xách ra một chiếc chìa khóa sắt lớn.

— Trông nó như chìa khóa nhà tù ấy, nàng nói. Évariste, anh sắp làm tù nhân của em rồi.

Họ đi qua phòng ăn rồi bước vào phòng ngủ của cô gái.

Évariste cảm thấy trên môi mình cái mát lạnh cháy bỏng từ đôi môi Élodie. Anh siết nàng trong vòng tay. Đầu ngửa ra sau, mắt lịm đi, tóc xõa tung, thân mình oằn xuống, gần như ngất lịm, nàng tuột khỏi tay anh và chạy đến cài then cửa…

Đêm đã khuya lắm khi công dân Blaise mở cửa căn hộ cho người tình và khẽ nói với anh trong bóng tối:

— Tạm biệt, tình yêu của em! Đã đến giờ cha em trở về. Nếu nghe có tiếng động ngoài cầu thang, anh hãy mau lên tầng trên, và chỉ xuống khi không còn sợ bị ai trông thấy nữa. Muốn người ta mở cổng cho anh, hãy gõ ba tiếng vào cửa sổ phòng bà gác cổng. Tạm biệt, đời em, tạm biệt, linh hồn em!

Khi ra đến phố, anh thấy cửa sổ phòng Élodie hé mở, một bàn tay nhỏ ngắt bông cẩm chướng đỏ rồi thả xuống chân anh như một giọt máu.