Thần linh khát máu — Chương 12
Chương 12 / 29 · Bài review Thần linh khát máu
Một buổi tối, khi lão Brotteaux mang mười hai tá hình nhân đến cho công dân Caillou ở phố Luật, người bán đồ chơi vốn thường ngày hòa nhã, lịch thiệp, lại tiếp lão một cách lạnh nhạt giữa đám búp bê và những chú hề Polichinelle.
— Hãy coi chừng, công dân Brotteaux, ông ta bảo, hãy coi chừng! Không phải lúc nào cũng nên đùa; chẳng phải lời đùa nào cũng vô hại: một thành viên Ủy ban An ninh của khu bộ, hôm qua đến kiểm tra cửa hiệu của tôi, đã trông thấy những hình nhân của ông và cho rằng chúng phản cách mạng.
— Ông ta nói đùa đấy! Brotteaux nói.
— Không đâu, công dân, không đâu. Đó là một người chẳng bao giờ đùa. Ông ta bảo rằng trong những hình người bé nhỏ ấy, cơ quan đại diện quốc dân đã bị nhại lại một cách hiểm độc, rằng đặc biệt có thể nhận ra những bức biếm họa Couthon, Saint-Just và Robespierre; rồi ông ta tịch thu tất cả. Đối với tôi, đó là một khoản mất trắng, chưa kể những hiểm nguy mà tôi phải gánh chịu.
— Sao! Những Arlequin, Gilles, Scaramouche, Colin và Colette này, tôi vẽ theo đúng lối Boucher từng vẽ cách đây năm mươi năm, lại là Couthon và Saint-Just giả dạng ư? Không một người có lý trí nào lại dám quả quyết như thế.
— Có thể, công dân Caillou nói tiếp, ông đã làm mà không có ác ý, dẫu người ta bao giờ cũng phải dè chừng một người tinh trí như ông. Nhưng trò này nguy hiểm lắm. Ông có muốn nghe một thí dụ không? Natoile, người điều khiển một sân khấu nhỏ ở Champs-Élysées, hôm kia đã bị bắt vì thiếu tinh thần công dân, chỉ vì ông ta cho Polichinelle diễn trò Quốc ước.
— Tôi xin nói lại lần nữa, Brotteaux vừa nói vừa vén tấm vải phủ lên những hình nhân bé nhỏ treo lủng lẳng, ông hãy nhìn những chiếc mặt nạ và những gương mặt này xem: chúng chẳng phải chỉ là các nhân vật hài kịch và mục ca đó sao? Làm thế nào ông lại để người ta bảo rằng tôi đem Quốc ước ra diễn trò, công dân Caillou?
Brotteaux sửng sốt. Dẫu vẫn dành cho sự ngu xuẩn của con người một phạm vi rất rộng, lão cũng không ngờ nó có ngày đi đến chỗ nghi ngờ cả những Scaramouche và Colinette của lão. Lão một mực khẳng định chúng vô tội, và mình cũng vô tội. Nhưng công dân Caillou nhất quyết không nghe.
— Công dân Brotteaux, hãy mang các hình nhân của ông về đi. Tôi quý trọng ông, kính trọng ông, nhưng không muốn vì ông mà bị khiển trách hay quấy nhiễu. Tôi tôn trọng pháp luật. Tôi quyết làm một công dân tốt và được đối xử như một công dân tốt. Chào buổi tối, công dân Brotteaux; hãy mang các hình nhân của ông về đi.
Lão Brotteaux lại lên đường về nhà, vác trên vai đám kẻ tình nghi treo ở đầu một cây sào, bị lũ trẻ chế giễu vì chúng tưởng lão là người bán thuốc diệt chuột. Lòng lão buồn bã. Dĩ nhiên, lão không chỉ sống nhờ những hình nhân: lão còn vẽ chân dung giá hai mươi xu dưới các cổng xe ngựa và trong một chiếc thùng ở khu chợ, bên cạnh những người đàn bà vá thuê; nhiều chàng trai sắp ra quân muốn để lại chân dung cho cô nhân tình trẻ. Nhưng những tác phẩm nhỏ ấy khiến lão nhọc nhằn khôn xiết, và tài vẽ chân dung của lão còn xa mới bằng tài làm hình nhân. Đôi khi lão làm thư ký cho các bà ở khu chợ, nhưng như thế là dính líu vào những âm mưu bảo hoàng, mà hiểm nguy thì rất lớn. Lão nhớ ra rằng tại phố Neuve-des-Petits-Champs, gần quảng trường trước kia mang tên Vendôme, có một người bán đồ chơi khác tên là Joly, và quyết định ngay hôm sau sẽ đến chào bán cho ông ta những món hàng mà kẻ nhát gan Caillou đã khước từ.
Một trận mưa bụi bắt đầu rơi. Brotteaux sợ các hình nhân bị mưa làm hỏng, liền rảo bước. Khi đi qua Pont-Neuf tối tăm, hoang vắng, rồi vòng qua góc quảng trường Thionville, dưới ánh một ngọn đèn, lão trông thấy trên trụ đá ven đường một ông già gầy guộc, dường như kiệt sức vì mệt và đói, song vẫn còn giữ vẻ đáng kính. Ông mặc một chiếc áo dài rách, đầu không đội mũ, trông đã ngoài sáu mươi. Đến gần người khốn khổ ấy, Brotteaux nhận ra Cha Longuemare, người mà sáu tháng trước lão đã cứu khỏi bị treo cổ trên cột đèn, khi cả hai cùng xếp hàng trước hiệu bánh mì ở phố Jérusalem. Tự thấy đã gắn bó với vị tu sĩ bởi lần giúp đỡ đầu tiên ấy, Brotteaux bước đến, nhắc cho ông nhớ mình chính là người thầu thuế từng đứng bên ông giữa đám tiện dân vào một ngày đói kém cùng cực, rồi hỏi liệu lão có thể giúp gì cho ông chăng.
— Cha có vẻ mệt lắm. Hãy uống một ngụm rượu cho lại sức.
Brotteaux lấy từ túi chiếc áo khoác màu nâu sẫm ra một lọ rượu mạnh nhỏ, vẫn nằm trong đó cùng cuốn Lucretius của lão.
— Cha uống đi. Rồi tôi sẽ giúp cha về nhà.
Cha Longuemare đưa tay gạt chiếc lọ ra và cố đứng dậy. Nhưng ông lại ngã xuống trụ đá.
— Thưa ông, ông nói bằng một giọng yếu ớt nhưng vững vàng, ba tháng nay tôi ở Picpus. Được báo rằng hôm qua, lúc năm giờ chiều, người ta đã đến nhà bắt tôi, tôi không trở về nữa. Tôi không có chốn dung thân; tôi lang thang ngoài phố và hơi mệt.
— Vậy thì, thưa cha, Brotteaux nói, xin cha cho tôi được vinh hạnh chia sẻ căn gác xép của tôi.
— Thưa ông, tu sĩ dòng Barnabite nói, hẳn ông hiểu rằng tôi là kẻ tình nghi.
— Tôi cũng vậy, Brotteaux nói, và các hình nhân của tôi cũng vậy, mà đó mới là điều tệ hại hơn cả. Cha thấy đấy, dưới tấm vải mỏng này, chúng đang phơi mình trong trận mưa bụi khiến chúng ta rét thấu xương. Bởi cha nên biết rằng, sau khi từng làm người thầu thuế, nay tôi chế tạo hình nhân để sinh sống.
Cha Longuemare nắm lấy bàn tay mà nhà tài chính thuở trước chìa ra và nhận lời trú ngụ. Trên căn gác xép, Brotteaux dọn cho ông bánh mì, pho mát và rượu vang mà lão đã đặt ngoài máng xối cho mát, bởi lão vốn là một kẻ sành hưởng lạc.
Sau khi đã nguôi cơn đói:
— Thưa ông, Cha Longuemare nói, tôi phải cho ông biết những tình cảnh đã khiến tôi phải trốn chạy và quỵ xuống gần chết trên trụ đá nơi ông tìm thấy tôi. Bị đuổi khỏi tu viện, tôi sống nhờ món trợ cấp còm cõi mà Quốc hội đã cấp; tôi dạy tiếng Latin và toán học, đồng thời viết những tập luận bàn về cuộc bức hại Giáo hội Pháp. Tôi còn soạn cả một tác phẩm khá dài nhằm chứng minh rằng lời tuyên thệ theo Hiến pháp của các linh mục trái với giáo luật. Những bước tiến của Cách mạng khiến tôi mất hết học trò, và tôi không thể lĩnh tiền trợ cấp vì không có giấy chứng nhận tư cách công dân theo luật định. Chính để xin tờ giấy ấy mà tôi đến Tòa Thị chính, đinh ninh rằng mình xứng đáng được cấp. Là thành viên của một dòng tu do chính Thánh tông đồ Phaolô sáng lập, người từng viện đến danh nghĩa công dân La Mã, tôi những mong noi gương ngài mà hành xử như một công dân Pháp tốt, tôn trọng mọi luật lệ của con người không trái với luật của Thiên Chúa. Tôi trình đơn cho ông Colin, một người bán thịt lợn kiêm viên chức thành phố, được giao nhiệm vụ cấp loại giấy này. Ông ta hỏi tôi làm nghề gì. Tôi đáp rằng mình là linh mục; ông ta hỏi tôi đã kết hôn chưa, và khi nghe tôi trả lời là chưa, ông ta bảo như thế thì càng bất lợi cho tôi. Sau cùng, qua nhiều câu hỏi khác nhau, ông ta hỏi tôi đã chứng tỏ tư cách công dân của mình vào ngày 10 tháng Tám, ngày 2 tháng Chín và ngày 31 tháng Năm chưa. “Chỉ có thể cấp giấy chứng nhận,” ông ta nói thêm, “cho những ai đã chứng tỏ tư cách công dân bằng hành động trong cả ba dịp ấy.” Tôi không thể đưa ra một câu trả lời làm ông ta hài lòng. Tuy vậy, ông ta vẫn ghi tên, địa chỉ của tôi và hứa sẽ mau chóng điều tra trường hợp của tôi. Ông ta đã giữ lời; và kết quả cuộc điều tra là hai ủy viên thuộc Ủy ban An ninh Toàn quốc ở Picpus, có lực lượng vũ trang đi kèm, đã đến nhà tôi lúc tôi vắng mặt để áp giải tôi vào tù. Tôi không biết người ta buộc tôi tội gì. Nhưng ông phải thừa nhận rằng thật đáng thương cho ông Colin, trí óc đã rối loạn đến mức trách cứ một giáo sĩ vì không chứng tỏ tư cách công dân vào ngày 10 tháng Tám, ngày 2 tháng Chín và ngày 31 tháng Năm. Một người có thể nảy ra ý nghĩ như vậy quả thật rất đáng được thương hại.
— Tôi cũng chẳng có giấy chứng nhận, Brotteaux nói. Cả hai chúng ta đều là kẻ tình nghi. Nhưng cha đã mệt rồi. Hãy đi nằm đi, thưa cha. Ngày mai chúng ta sẽ liệu cách bảo đảm an toàn cho cha.
Lão nhường tấm đệm cho khách và giữ chiếc nệm rơm cho mình; nhưng vị tu sĩ vì lòng khiêm nhường cứ khẩn khoản đòi lấy chiếc nệm rơm đến mức lão đành phải chiều ý ông: bằng không, ông hẳn đã nằm ngay trên nền gạch.
Sắp xếp xong xuôi, Brotteaux thổi tắt nến, vừa để tiết kiệm vừa để đề phòng.
— Thưa ông, vị tu sĩ nói với lão, tôi hiểu những gì ông làm cho tôi; nhưng than ôi! việc tôi biết ơn ông chẳng đem lại cho ông bao nhiêu ích lợi. Cầu xin Thiên Chúa ghi nhận công đức ấy cho ông! Điều đó sẽ đem lại cho ông một lợi ích vô cùng lớn lao. Nhưng Thiên Chúa không kể đến những gì không được làm vì vinh quang của Người, mà chỉ là nỗ lực của một đức hạnh hoàn toàn tự nhiên. Vì vậy, thưa ông, tôi van ông hãy vì Người mà làm điều ông vốn định làm vì tôi.
— Thưa cha, Brotteaux đáp, xin cha đừng bận tâm và cũng đừng biết ơn tôi. Điều tôi đang làm đây, mà cha đã quá đề cao công đức, tôi không làm vì yêu mến cha: bởi rốt cuộc, dù cha là người đáng mến, thưa cha, tôi biết cha quá ít để có thể yêu cha. Tôi cũng không làm vì yêu nhân loại: bởi tôi không ngây thơ như Don Juan mà tin rằng nhân loại có những quyền của mình; và một thành kiến như thế trong một tinh thần tự do như ông ta khiến tôi buồn lòng. Tôi làm vì lòng vị kỷ vốn khơi nên trong con người mọi hành vi hào hiệp và tận tụy, khiến kẻ ấy nhận ra mình trong mọi người khốn khổ, khiến kẻ ấy thương xót nỗi bất hạnh của chính mình trong nỗi bất hạnh của kẻ khác, và thôi thúc kẻ ấy cứu giúp một người phàm giống mình về bản tính cũng như số phận, đến mức tưởng rằng khi cứu người kia, mình đang cứu chính mình. Tôi còn làm vì nhàn rỗi: bởi cuộc đời nhạt nhẽo đến nỗi người ta phải tìm cách khuây khỏa bằng bất cứ giá nào, và việc thiện là một trò tiêu khiển khá nhạt mà ta tự dành cho mình khi thiếu những thú vui đậm đà hơn; tôi làm vì kiêu hãnh và để chiếm phần hơn đối với cha; sau hết, tôi làm vì lòng trung thành với học thuyết của mình, và để cho cha thấy một người vô thần có thể làm được những gì.
— Xin ông đừng tự gièm pha mình, thưa ông, Cha Longuemare đáp. Tôi đã nhận được từ Thiên Chúa nhiều ân sủng hơn những gì Người ban cho ông cho đến giờ phút này; nhưng tôi kém ông, và về đức hạnh tự nhiên, tôi thua ông rất xa. Tuy vậy, xin cho phép tôi cũng được chiếm một phần hơn đối với ông. Vì không biết tôi, ông không thể yêu tôi. Còn tôi, thưa ông, dù không biết ông, vẫn yêu ông hơn chính mình: Thiên Chúa truyền cho tôi như vậy.
Nói xong, Cha Longuemare quỳ xuống nền gạch, đọc kinh rồi nằm dài trên chiếc nệm rơm và thanh thản ngủ thiếp đi.