Thần linh khát máu — Chương 13
Chương 13 / 29 · Bài review Thần linh khát máu
Évariste Gamelin ngồi tại Tòa án lần thứ hai. Trước khi phiên xử khai mạc, chàng cùng các đồng sự trong bồi thẩm đoàn bàn luận về những tin tức đưa đến sáng hôm ấy. Có những tin chưa chắc chắn hoặc sai lạc; nhưng những gì có thể tin được đã đủ khủng khiếp: quân đội liên minh chiếm giữ mọi ngả đường, đồng loạt tiến quân; Vendée thắng thế, Lyon nổi dậy, Toulon bị trao vào tay quân Anh, và chúng đang đổ bộ mười bốn nghìn người xuống đó.
Đối với các vị thẩm phán ấy, đó vừa là chuyện nhà vừa là những biến cố liên quan đến toàn thế giới. Biết chắc mình sẽ chết nếu tổ quốc diệt vong, họ coi sự cứu nguy chung là việc riêng của chính mình. Và quyền lợi của quốc gia, hòa làm một với quyền lợi của họ, chi phối tình cảm, đam mê và hành vi của họ.
Ngay tại ghế ngồi, Gamelin nhận được một lá thư của Trubert, thư ký Ủy ban Phòng thủ; thư báo tin chàng được bổ nhiệm làm ủy viên phụ trách thuốc súng và diêm tiêu.
Anh sẽ lục soát mọi hầm nhà trong khu bộ để lấy ra những chất cần thiết cho việc chế tạo thuốc súng. Có lẽ ngày mai quân thù đã ở trước cửa Paris: đất đai của tổ quốc phải cung cấp cho chúng ta sấm sét để giáng xuống những kẻ xâm lăng. Kèm theo đây, tôi gửi anh một bản chỉ thị của Quốc ước về cách xử lý diêm tiêu. Chào thân ái và huynh đệ.
Đúng lúc ấy, bị cáo được dẫn vào. Đó là một trong những viên tướng bại trận cuối cùng mà Quốc ước giao cho Tòa án xét xử, và cũng là kẻ vô danh nhất. Vừa trông thấy ông ta, Gamelin rùng mình: chàng ngỡ lại nhìn thấy viên quân nhân mà ba tuần trước, khi đứng lẫn trong đám công chúng, chàng đã chứng kiến bị xét xử và đưa lên máy chém. Vẫn con người ấy, với vẻ ngoan cố, đầu óc hẹp hòi; vẫn phiên tòa ấy. Ông ta trả lời bằng một giọng vừa xảo quyệt vừa thô bạo, làm hỏng cả những lời biện giải đắc lực nhất của mình. Những lời bắt bẻ, những lối ngụy biện và những cáo buộc ông ta trút lên đầu cấp dưới khiến người ta quên rằng ông ta đang làm một việc đáng kính: bảo vệ danh dự và tính mạng mình. Trong vụ này, mọi điều đều bất định, đều bị tranh cãi: vị trí các đạo quân, quân số, đạn dược, những mệnh lệnh đã ban, những mệnh lệnh đã nhận, các cuộc chuyển quân; chẳng ai biết gì cả. Không một ai hiểu nổi những chiến dịch rối ren, phi lý, vô mục đích đã dẫn đến thảm họa ấy; từ luật sư bào chữa và chính bị cáo cho tới công tố viên, các thẩm phán và bồi thẩm viên, không ai hiểu hơn ai; và điều kỳ lạ là chẳng ai thú nhận với người khác hay với chính mình rằng mình không hiểu. Các thẩm phán thích thú vạch kế hoạch, luận bàn về chiến thuật và chiến lược; còn bị cáo thì để lộ thiên hướng bẩm sinh thích bắt bẻ vụn vặt.
Người ta tranh cãi không dứt. Và trong suốt những cuộc tranh luận ấy, Gamelin thấy trên những con đường hiểm trở miền Bắc, các xe đạn sa lầy, đại bác lật nhào trong vệt bánh xe; trên khắp mọi nẻo đường, những đoàn quân chiến bại nối nhau rút lui hỗn loạn, trong khi kỵ binh địch từ mọi phía tràn qua các cửa ải bị bỏ ngỏ. Chàng nghe từ đạo quân bị phản bội ấy dâng lên một tiếng thét mênh mông kết tội viên tướng. Khi cuộc tranh luận kết thúc, bóng tối đã tràn ngập phòng xử, và hình Marat mờ nhòa hiện lên như một bóng ma trên đầu vị chủ tọa. Bồi thẩm đoàn được gọi ra phán quyết chia làm hai phe. Bằng một giọng trầm khàn nghẹn lại trong cổ nhưng với âm điệu quả quyết, Gamelin tuyên bố bị cáo phạm tội phản bội nền Cộng hòa; một tiếng rì rầm tán thưởng dâng lên trong đám đông, ve vuốt đức hạnh non trẻ của chàng. Bản án được đọc dưới ánh đuốc nhợt nhạt run rẩy trên đôi thái dương hõm sâu của người bị kết án, nơi những giọt mồ hôi đang rịn ra. Khi bước ra ngoài, trên những bậc thềm nhung nhúc các bà các chị đeo huy hiệu tam sắc, Gamelin nghe người ta thì thầm tên mình, một cái tên mà những kẻ thường xuyên lui tới Tòa án đã bắt đầu biết đến; chàng liền bị các bà đan len vây lấy, họ giơ nắm đấm trước mặt chàng và đòi lấy đầu mụ Áo.
Ngày hôm sau, Évariste phải phán quyết số phận một người đàn bà khốn khổ, góa phụ Meyrion, làm nghề giao bánh mì. Bà đi khắp các phố, đẩy một chiếc xe nhỏ, bên hông đeo một tấm gỗ trắng; mỗi khi giao bánh, bà lại dùng dao khắc lên đó một vạch để ghi sổ. Mỗi ngày bà kiếm được tám xu. Viên phó công tố tỏ ra hung hãn một cách lạ thường đối với người đàn bà khốn khổ ấy, kẻ mà theo lời cáo buộc đã nhiều lần hô: “Đức vua vạn tuế!”, đã nói những lời phản cách mạng tại các nhà bà lui tới giao bánh hằng ngày, và đã nhúng tay vào một âm mưu nhằm giúp người đàn bà Capet trốn thoát. Bị thẩm phán thẩm vấn, bà thừa nhận những hành vi bị quy cho mình; không rõ vì ngây dại hay cuồng tín, bà công khai bày tỏ những tình cảm bảo hoàng hết sức mãnh liệt và tự đẩy mình vào chỗ chết.
Tòa án Cách mạng làm cho nguyên tắc bình đẳng toàn thắng bằng cách nghiêm khắc với phu khuân vác và người hầu gái chẳng kém gì với giới quý tộc và các nhà tài chính. Gamelin không thể hình dung rằng dưới một chế độ của nhân dân, sự thể lại có thể khác đi. Chàng hẳn sẽ cho rằng loại nhân dân ra khỏi cực hình là khinh miệt và xúc phạm họ. Như thế, chẳng khác nào coi họ không xứng đáng được trừng phạt. Nếu chỉ dành riêng cho giới quý tộc, máy chém trong mắt chàng sẽ trở thành một thứ đặc quyền bất công. Gamelin bắt đầu nhìn hình phạt bằng một quan niệm tôn giáo và thần bí, gán cho nó một công năng và những phẩm giá riêng. Chàng cho rằng người ta mắc nợ kẻ phạm tội sự trừng phạt, và tước nó khỏi họ tức là làm thiệt cho họ. Chàng tuyên bố người đàn bà Meyrion có tội và đáng chịu hình phạt tối cao, chỉ tiếc rằng những kẻ cuồng tín đã đẩy bà vào con đường ấy, vốn có tội hơn bà, lại không có mặt để cùng chung số phận.
Hầu như tối nào Évariste cũng đến câu lạc bộ Jacobins, nhóm họp trong nhà nguyện cũ của dòng Đa Minh, thường được dân gian gọi là dòng Jacobin, trên phố Honoré. Hướng ra một khoảng sân có trồng cây Tự do, một cây dương với lá luôn rung động thành tiếng rì rào bất tận, nhà nguyện mang phong cách nghèo nàn và ủ dột, mái ngói nặng nề, phô ra đầu hồi trơ trụi có một cửa sổ tròn mắt bò và một cửa vòm; phía trên cửa là lá cờ mang màu sắc dân tộc, trên chóp cắm chiếc mũ Tự do. Cũng như phái Cordeliers và Feuillants, phái Jacobins đã chiếm lấy nơi ở và tên gọi của những tu sĩ bị giải tán. Gamelin, trước kia vốn chăm dự các buổi họp của phái Cordeliers, không tìm thấy ở Jacobins những đôi guốc gỗ, những chiếc áo carmagnole và tiếng hò hét của phe Danton. Trong câu lạc bộ của Robespierre ngự trị tinh thần thận trọng của giới hành chính và vẻ nghiêm trang của giai cấp tư sản. Từ khi Người bạn của nhân dân không còn nữa, Évariste theo những bài giáo huấn của Maximilien, người có tư tưởng thống trị tại Jacobins rồi từ đó, qua hàng nghìn hội đoàn liên kết, lan khắp nước Pháp. Trong lúc biên bản được đọc, chàng đưa mắt nhìn những bức tường trần trụi và buồn thảm; sau khi từng che chở cho các môn đồ tinh thần của vị đại pháp quan thẩm tra tà giáo, giờ đây chúng chứng kiến cuộc hội họp của những kẻ hăng hái truy xét các tội ác chống tổ quốc.
Tại đó, quyền lực lớn nhất trong Nhà nước ngự trị không chút phô trương và được thi hành bằng lời nói. Nó cai quản đô thành, cai quản toàn cõi, đọc cho Quốc ước viết các sắc lệnh. Những người thợ kiến tạo trật tự mới ấy tôn trọng luật pháp đến mức năm 1791 họ vẫn là những người bảo hoàng, và sau vụ trở về từ Varennes vẫn muốn tiếp tục như thế vì lòng cố chấp gắn bó với Hiến pháp; họ là bạn của trật tự đã được thiết lập, ngay cả sau những cuộc tàn sát ở Champ-de-Mars, không bao giờ làm cách mạng chống lại Cách mạng, và xa lạ với các phong trào quần chúng. Thế nhưng trong tâm hồn u tối và mạnh mẽ, họ nuôi dưỡng một tình yêu tổ quốc đã sinh ra mười bốn đạo quân và dựng lên máy chém. Évariste khâm phục ở họ sự cảnh giác, tinh thần đa nghi, tư tưởng giáo điều, lòng yêu quy củ, nghệ thuật chế ngự và một trí tuệ đế vương.
Đám công chúng ngồi chật phòng chỉ phát ra một tiếng xao động đều đặn và đồng nhất, tựa tán lá của cây Tự do mọc trước ngưỡng cửa.
Hôm ấy, ngày 11 tháng Vendémiaire, một người đàn ông trẻ tuổi, trán vát, mắt sắc, mũi nhọn, cằm nhọn, mặt rỗ và vẻ lạnh lùng, chậm rãi bước lên diễn đàn. Tóc ông phủ phấn trắng như sương giá, ông mặc một chiếc áo xanh bó lấy ngang lưng. Ông có dáng điệu kiểu cách và phong thái chừng mực khiến người này chế giễu rằng ông giống một thầy dạy khiêu vũ, còn người khác thì tôn xưng ông là “Orphée của nước Pháp”. Bằng một giọng trong trẻo, Robespierre đọc một bài diễn văn hùng hồn chống lại những kẻ thù của nền Cộng hòa. Ông dùng những luận chứng siêu hình và khủng khiếp đánh thẳng vào Brissot cùng đồng bọn. Ông nói hồi lâu, dồi dào và nhịp nhàng. Bay lượn trong những tầng trời của triết học, ông phóng sấm sét xuống đầu những kẻ âm mưu đang bò sát mặt đất.
Évariste nghe và hiểu. Cho tới lúc ấy, chàng vẫn kết tội phái Gironde chuẩn bị khôi phục nền quân chủ hoặc đưa phe Orléans đến thắng lợi, đồng thời mưu tính hủy diệt thành phố anh hùng đã giải phóng nước Pháp và một ngày kia sẽ giải phóng toàn thế giới. Giờ đây, qua tiếng nói của bậc hiền triết, chàng khám phá những chân lý cao cả và thuần khiết hơn; chàng lĩnh hội một nền siêu hình học cách mạng, nâng tâm trí mình lên trên những tình thế ngẫu nhiên thô thiển, thoát khỏi sai lầm của giác quan, tiến vào miền của những xác tín tuyệt đối. Tự bản thân sự vật vốn pha tạp và đầy hỗn độn; các sự kiện phức tạp đến mức người ta lạc lối trong đó. Robespierre đơn giản hóa chúng cho chàng, trình bày thiện và ác bằng những công thức giản dị, sáng rõ. Chủ nghĩa liên bang, tính bất khả phân: trong thống nhất và bất khả phân có sự cứu rỗi; trong chủ nghĩa liên bang có sự trầm luân. Gamelin nếm trải niềm vui sâu xa của một tín đồ biết lời nào cứu rỗi và lời nào đẩy người ta xuống vực diệt vong. Từ nay, Tòa án Cách mạng, cũng như các pháp đình Giáo hội thuở trước, sẽ xét xử tội ác tuyệt đối, tội ác của ngôn từ. Và bởi mang một tâm trí tôn giáo, Évariste đón nhận những mặc khải ấy với niềm cuồng nhiệt u tối; trái tim chàng phấn khích và hân hoan khi nghĩ rằng từ nay, để phân biệt tội lỗi với vô tội, chàng đã có một tín điều. Các ngươi đủ thay cho hết thảy, ôi những kho báu của đức tin!
Bậc hiền triết Maximilien còn soi sáng cho chàng về những ý đồ xảo trá của những kẻ muốn san bằng tài sản và chia lại ruộng đất, xóa bỏ giàu sang lẫn nghèo khổ, đem đến cho mọi người một đời vừa đủ và hạnh phúc. Bị những châm ngôn của họ quyến rũ, ban đầu chàng đã tán thành các dự định mà chàng cho là phù hợp với nguyên tắc của một người cộng hòa chân chính. Nhưng qua những bài diễn thuyết tại Jacobins, Robespierre đã vạch rõ cho chàng thấy các mưu đồ của họ và chỉ ra rằng những kẻ có ý định tưởng chừng thuần khiết ấy đang nhằm lật đổ nền Cộng hòa; họ gây kinh động cho người giàu chỉ cốt làm nảy sinh những kẻ thù hùng mạnh và không khoan nhượng chống lại chính quyền hợp pháp. Quả vậy, một khi quyền sở hữu bị đe dọa, toàn thể dân chúng, càng ít của cải lại càng quyến luyến những gì mình có, sẽ đột ngột quay lưng chống lại nền Cộng hòa. Đe dọa quyền lợi tức là âm mưu. Dưới vẻ ngoài chuẩn bị cho hạnh phúc toàn cầu và triều đại của công lý, những kẻ đề xuất bình đẳng và tài sản chung làm mục tiêu xứng đáng với nỗ lực của các công dân chính là những tên phản bội và vô lại còn nguy hiểm hơn các phần tử liên bang.
Nhưng mặc khải lớn lao nhất mà trí tuệ của Robespierre đem đến cho chàng là những tội ác và sự ô nhục của chủ nghĩa vô thần. Gamelin chưa bao giờ phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế; chàng là người theo thần giáo tự nhiên và tin ở một đấng quan phòng dõi theo loài người. Nhưng vì tự thú nhận rằng mình chỉ hình dung hết sức mơ hồ về Đấng Tối cao, lại tha thiết gắn bó với tự do lương tâm, chàng sẵn lòng thừa nhận rằng những người lương thiện có thể noi gương Lamettrie, Boulanger, nam tước d’Holbach, Lalande, Helvétius và công dân Dupuis mà phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, với điều kiện họ xây dựng được một nền đạo đức tự nhiên và tìm thấy ngay trong chính mình nguồn gốc của công lý cùng những quy tắc của đời sống đức hạnh. Chàng thậm chí từng cảm thấy đồng tình với những người vô thần khi thấy họ bị lăng mạ hoặc ngược đãi. Maximilien đã khai mở trí óc và làm sáng mắt chàng. Bằng tài hùng biện đầy đức hạnh, con người vĩ đại ấy đã mặc khải cho chàng bản chất thật sự của chủ nghĩa vô thần, tính chất, ý đồ và hậu quả của nó; ông đã chứng minh cho chàng thấy học thuyết ấy, được hình thành trong các phòng khách và phòng khuê của giới quý tộc, là phát minh xảo quyệt nhất mà kẻ thù của nhân dân từng nghĩ ra để làm nhân dân suy đồi và nô dịch họ; rằng giật khỏi trái tim những kẻ khốn khổ niềm an ủi về một đấng quan phòng ban thưởng, rồi bỏ mặc họ không người dẫn dắt, không gì kiềm chế trước những dục vọng làm con người sa đọa và biến họ thành nô lệ hèn hạ, là một tội ác; và cuối cùng, chủ nghĩa khoái lạc quân chủ của một kẻ như Helvétius tất sẽ dẫn đến vô luân, tàn bạo và mọi thứ tội ác. Từ khi được những bài giáo huấn của một công dân vĩ đại khai trí, chàng căm ghét những người vô thần, nhất là khi họ mang một tâm hồn cởi mở và vui tươi như lão Brotteaux.
Trong những ngày tiếp theo, Évariste liên tiếp phải xét xử một cựu quý tộc bị chứng minh đã hủy hoại ngũ cốc nhằm bỏ đói nhân dân; ba kẻ lưu vong trở về Pháp để kích động nội chiến; hai cô gái của Palais-Égalité; mười bốn kẻ âm mưu người Bretagne, gồm phụ nữ, người già, thiếu niên, chủ nhân và tôi tớ. Tội trạng đã rõ, luật pháp minh định. Trong số những kẻ có tội có một thiếu phụ hai mươi tuổi, được tô điểm bằng mọi vẻ huy hoàng của tuổi xuân dưới bóng cái chết gần kề; nàng thật kiều diễm. Một dải nơ xanh giữ mái tóc vàng, chiếc khăn vải lanh mịn để lộ chiếc cổ trắng ngần và mềm mại.
Évariste luôn luôn biểu quyết tử hình, và tất cả các bị cáo, trừ một người làm vườn già, đều bị đưa lên đoạn đầu đài.
Tuần sau, Évariste cùng khu bộ của chàng quét ngã bốn mươi lăm người đàn ông và mười tám người đàn bà.
Các thẩm phán của Tòa án Cách mạng không phân biệt đàn ông với đàn bà, theo một nguyên tắc cổ xưa ngang với chính công lý. Và nếu chủ tọa Montané, cảm động trước lòng can đảm và vẻ đẹp của Charlotte Corday, đã tìm cách cứu nàng bằng cách làm sai lệch thủ tục tố tụng, để rồi mất chức vì việc ấy, thì phần lớn phụ nữ vẫn bị thẩm vấn không chút ưu đãi, theo quy tắc chung của mọi tòa án. Các bồi thẩm viên sợ họ, ngờ vực mưu mẹo, thói quen giả vờ và những phương tiện quyến rũ của họ. Sánh ngang đàn ông về lòng can đảm, bởi thế họ khiến Tòa án đối xử với mình như đàn ông. Phần đông những người xét xử họ, vốn không quá đa tình hoặc chỉ đa tình vào những lúc riêng, chẳng hề vì họ mà bối rối. Những người ấy kết án hoặc tha bổng các phụ nữ tùy theo lương tâm, thành kiến, lòng sốt sắng và tình yêu nhạt nhẽo hay dữ dội của họ đối với nền Cộng hòa. Hầu như tất cả các nữ bị cáo đều chải tóc cẩn thận và ăn mặc chăm chút hết mức mà hoàn cảnh khốn khổ cho phép. Nhưng trong số họ, người trẻ chẳng có bao nhiêu, người đẹp lại càng ít hơn. Nhà tù và lo âu đã làm họ héo hon; ánh sáng gay gắt trong phòng xử phơi bày vẻ mệt mỏi, nỗi kinh hoàng, những mí mắt tàn úa, làn da nổi gân đỏ cùng đôi môi trắng bệch, mím chặt của họ. Tuy nhiên, chiếc ghế định mệnh đã hơn một lần đón nhận một thiếu phụ trẻ tuổi, xinh đẹp trong vẻ xanh xao, đôi mắt chìm trong một bóng tang thương tựa những tấm màn của khoái lạc. Trước cảnh ấy, có những bồi thẩm viên động lòng hoặc nổi giận; trong miền kín đáo của những giác quan sa đọa, có viên thẩm phán đã dò xét những bí mật riêng tư nhất của sinh vật mà y hình dung vừa sống vừa chết ấy, rồi khuấy động trong mình những hình ảnh dâm dục và đẫm máu để hưởng niềm khoái trá ghê rợn khi giao tấm thân mình thèm muốn cho đao phủ: đó có lẽ là điều người ta nên im đi, nhưng không thể phủ nhận nếu hiểu con người. Évariste Gamelin, một nghệ sĩ lạnh lùng và uyên bác, chỉ thừa nhận vẻ đẹp theo mẫu mực cổ đại, và cái đẹp khơi dậy trong chàng lòng tôn kính nhiều hơn sự xao động. Thị hiếu cổ điển của chàng khắt khe đến mức hiếm khi chàng gặp được một người đàn bà vừa ý; chàng dửng dưng trước nét duyên của một gương mặt xinh đẹp cũng như trước màu sắc của Fragonard và những đường nét của Boucher. Chàng chưa bao giờ biết đến ham muốn ngoài một tình yêu sâu sắc.
Như phần đông các đồng nghiệp ở Tòa án, chàng cho rằng đàn bà nguy hiểm hơn đàn ông. Chàng căm ghét những cựu công nương mà, trong những giấc mộng đầy kinh hãi, chàng hình dung đang cùng Élisabeth và người đàn bà Áo nhai đạn để ám sát những người yêu nước; chàng còn căm ghét tất cả những người đẹp từng là bạn của giới tài chính, các triết gia và văn nhân, mang tội đã hưởng thú vui của thể xác lẫn tinh thần và đã sống vào một thời mà cuộc đời còn dịu ngọt. Chàng căm ghét họ mà không tự thú nhận lòng căm ghét ấy; và mỗi khi phải xét xử một người trong số họ, chàng kết án nàng vì oán hận, nhưng lại tin rằng mình kết án một cách công minh vì nền an nguy chung. Và chính lòng liêm khiết, đức đoan chính nam nhi, sự khôn ngoan lạnh lùng, lòng tận tụy với Nhà nước, tóm lại là những phẩm hạnh của chàng, đã đẩy xuống dưới lưỡi rìu những mái đầu khiến người ta thương cảm.
Nhưng chuyện gì đây, và hiện tượng lạ lùng này có nghĩa gì? Mới đây thôi, người ta còn phải truy tìm những kẻ có tội, cố phát hiện chúng trong chốn ẩn náu và buộc chúng thú nhận tội trạng. Giờ đây, không còn là cuộc săn với cả bầy chó săn đông đảo, không còn là cuộc đuổi bắt một con mồi nhút nhát nữa: từ khắp mọi phía, các nạn nhân tự dâng mình tới. Quý tộc, trinh nữ, binh lính, gái điếm đổ xô đến Tòa án, giằng lấy từ các thẩm phán bản án mà họ thấy tuyên quá chậm, đòi cái chết như một quyền lợi họ nóng lòng được hưởng. Đám đông mà lòng sốt sắng của những kẻ tố giác đã nhồi đầy các nhà tù, và viên công tố cùng bè lũ phải kiệt sức mới lần lượt đưa hết ra trước Tòa án, vẫn chưa đủ: còn phải lo hành hình cả những kẻ không muốn chờ đợi. Và biết bao người khác, còn nóng nảy và kiêu hãnh hơn, không chịu nhường cái chết của mình cho thẩm phán và đao phủ, đã tự tay kết liễu đời mình! Cuồng vọng giết chóc được đáp lại bằng cuồng vọng tìm chết. Kia, trong ngục Conciergerie, có một chàng quân nhân trẻ tuổi, đẹp đẽ, cường tráng và được yêu thương; chàng để lại trong tù một người tình đáng yêu đã nói với chàng: “Hãy sống vì em!” Chàng không muốn sống vì nàng, cũng không vì tình yêu hay vinh quang. Chàng đã dùng bản cáo trạng của mình để châm tẩu thuốc. Vốn là người cộng hòa, bởi tự do thấm qua từng lỗ chân lông, chàng lại tự nhận mình là bảo hoàng để được chết. Tòa án cố tuyên chàng trắng án; nhưng bị cáo mạnh hơn: các thẩm phán và bồi thẩm viên đành phải chịu thua.
Tâm trí Évariste, vốn bất an và câu nệ lương tâm, ngày càng đầy ắp ngờ vực và kinh sợ trước những bài học ở câu lạc bộ Jacobins và cảnh tượng của cuộc đời. Ban đêm, trên đường đến nhà Élodie qua những phố xá tối tăm, chàng ngỡ qua mỗi ô cửa hầm đều trông thấy trong tầng hầm tấm ván in giấy bạc assignat giả; ở cuối cửa hàng trống không của người làm bánh hay người bán tạp hóa, chàng đoán có những kho lương thực bị đầu cơ chất đầy ắp; xuyên qua những ô kính sáng rực của các quán ăn, chàng tưởng như nghe thấy lời bàn bạc của bọn đầu cơ đang chuẩn bị làm đất nước phá sản trong khi nốc cạn những chai vang Beaune hay Chablis; trong những ngõ hẻm hôi hám, chàng thấy những gái điếm sẵn sàng giẫm nát phù hiệu quốc gia giữa tiếng hoan hô của đám thanh niên ăn diện; khắp nơi chàng đều nhìn thấy những kẻ âm mưu và phản bội. Và chàng nghĩ: “Hỡi nền Cộng hòa! Trước ngần ấy kẻ thù bí mật hoặc công khai, người chỉ còn một cứu tinh. Hỡi máy chém thiêng liêng, hãy cứu lấy tổ quốc!…”
Élodie đợi chàng trong căn phòng nhỏ màu xanh, phía trên hiệu Thần Ái tình họa sĩ. Để báo cho chàng biết có thể vào, nàng đặt chiếc bình tưới nhỏ màu xanh lục lên bậu cửa sổ, cạnh chậu hoa cẩm chướng. Giờ đây chàng khiến nàng kinh hãi, hiện ra trước mắt nàng như một quái vật: nàng sợ chàng và nàng tôn thờ chàng. Suốt đêm, siết lấy nhau trong cơn mê cuồng, người tình khát máu và cô gái ham mê lạc thú lặng lẽ trao nhau những nụ hôn dữ dội.