Thần linh khát máu — Chương 15

Chương 15 / 29 · Bài review Thần linh khát máu

Phải làm vơi những nhà tù đã chật ních; phải xét xử, xét xử không ngơi không nghỉ. Ngồi sát những bức tường trang hoàng bằng bó gậy và mũ đỏ, cũng như những người tiền nhiệm của họ từng ngồi giữa hoa huệ, các thẩm phán vẫn giữ vẻ nghiêm trang, sự điềm tĩnh khủng khiếp của những quan tòa nhà vua thuở trước. Công tố viên và các phụ tá, kiệt quệ vì mệt nhọc, cháy ruột vì mất ngủ và rượu mạnh, chỉ có thể rũ bỏ cơn rã rời bằng một nỗ lực dữ dội; sức khỏe suy sụp khiến họ mang một vẻ bi thảm. Các bồi thẩm viên, khác nhau về xuất thân và tính tình, người có học, kẻ dốt nát, người hèn nhát hoặc hào hiệp, hiền hòa hoặc hung bạo, giả dối hoặc chân thành, nhưng tất cả, trước hiểm nguy của tổ quốc và nền Cộng hòa, đều cảm thấy hoặc giả vờ cảm thấy cùng những nỗi khắc khoải, cùng bừng cháy một ngọn lửa, tất cả đều trở nên tàn bạo vì đức hạnh hoặc vì sợ hãi, hợp thành một sinh thể duy nhất, một cái đầu duy nhất, ù đặc và cáu giận, một linh hồn duy nhất, một con thú huyền nhiệm, cứ theo sự vận hành tự nhiên của chức năng mình mà sản sinh dồi dào cái chết. Vì đa cảm mà nhân từ hoặc tàn nhẫn, đôi khi bất thần lay động bởi một cơn thương xót, họ vừa khóc vừa tha bổng một bị cáo mà chỉ một giờ trước đó họ có thể đã kết án bằng những lời giễu cợt. Công việc càng tiến triển, họ càng buông mình mãnh liệt hơn theo những thôi thúc của con tim.

Họ xét xử trong cơn sốt và trạng thái mê mệt do lao lực quá độ, dưới những kích động từ bên ngoài và mệnh lệnh của nhân dân tối cao, dưới lời đe dọa của những người sans-culotte và các phụ nữ đan len chen chúc trên khán đài cùng khu vực dành cho công chúng, dựa vào những lời chứng cuồng loạn, những bản luận tội điên cuồng, giữa bầu không khí hôi hám làm đầu óc trì trệ, tai ù, thái dương giật thình thịch và phủ trước mắt một màn máu. Trong công chúng lan truyền những lời đồn mơ hồ rằng có bồi thẩm viên đã bị vàng của các bị cáo mua chuộc. Nhưng trước những lời đồn ấy, toàn thể bồi thẩm đoàn đáp lại bằng những lời phản đối phẫn nộ và những bản án không chút xót thương. Rốt cuộc, họ cũng chỉ là con người, chẳng xấu hơn mà cũng chẳng tốt hơn những người khác. Vô tội, phần nhiều, là một điều may chứ không phải một đức hạnh: bất cứ ai chịu ngồi vào chỗ của họ cũng sẽ hành động như họ và thực hiện những công việc kinh khủng ấy bằng một tâm hồn tầm thường.

Antoinette, người bị chờ đợi bấy lâu, cuối cùng xuất hiện trong chiếc áo dài đen và ngồi xuống chiếc ghế định mệnh, giữa một bản hòa tấu căm thù dữ dội đến nỗi chỉ có sự chắc chắn về kết cục của phiên tòa mới khiến người ta còn tôn trọng các thủ tục. Trước những câu hỏi có thể đoạt mạng, bị cáo khi thì đáp lại theo bản năng tự tồn, khi thì với vẻ kiêu hãnh quen thuộc, và một lần, nhờ sự đê tiện của một kẻ buộc tội mình, với vẻ uy nghiêm của một người mẹ. Các nhân chứng được phép thóa mạ và vu khống mà thôi; bên biện hộ lạnh cứng vì kinh hãi. Tòa án, cố ép mình xét xử theo đúng thể thức, chờ cho mọi chuyện kết thúc để ném đầu người đàn bà Áo cho châu Âu.

Ba ngày sau khi Marie-Antoinette bị hành quyết, Gamelin được gọi đến bên công dân Fortuné Trubert, đang hấp hối cách văn phòng quân sự nơi ông đã vắt kiệt đời mình ba mươi bước chân, trên một chiếc giường dây trong phòng tu của một tu sĩ dòng Barnabite nào đó đã bị trục xuất. Đầu ông tái nhợt, lún sâu vào gối. Đôi mắt đã không còn trông thấy xoay hai con ngươi đục như thủy tinh về phía Évariste; bàn tay khô quắt nắm lấy tay người bạn và siết lại với một sức mạnh không ngờ. Trong hai ngày, ông đã ba lần nôn ra máu. Ông cố nói; giọng ban đầu nghẹn đục và yếu như tiếng thì thầm, rồi dần vang lên, lớn hẳn:

— Wattignies! Wattignies!… Jourdan đã đánh bật quân địch khỏi doanh trại… giải vây Maubeuge… Ta đã chiếm lại Marchiennes. Ça ira… Ça ira…

Và ông mỉm cười.

Đó không phải những cơn mê của người bệnh; đó là một cái nhìn sáng suốt vào thực tại, lúc này đang soi rạng bộ óc mà bóng tối vĩnh hằng dần phủ xuống. Từ nay, cuộc xâm lăng dường như đã bị chặn đứng: các tướng lĩnh, bị khủng bố làm cho khiếp đảm, nhận ra rằng chẳng còn việc gì tốt hơn để làm ngoài chiến thắng. Điều mà những cuộc đăng lính tình nguyện không đem lại được, tức một đạo quân đông đảo và có kỷ luật, thì lệnh trưng binh đã đem lại. Chỉ cần thêm một nỗ lực nữa, nền Cộng hòa sẽ được cứu.

Sau nửa giờ chìm trong trạng thái mê lịm, gương mặt Fortuné Trubert, đã bị cái chết khoét sâu, bỗng hồi tỉnh, hai bàn tay ông nhấc lên.

Ông chỉ cho bạn mình món đồ duy nhất trong phòng, một chiếc bàn giấy nhỏ bằng gỗ óc chó.

Rồi bằng giọng thở dốc, yếu ớt nhưng vẫn do một trí óc minh mẫn điều khiển, ông nói:

— Bạn tôi, như Eudamidas, tôi để lại cho anh những món nợ của mình: ba trăm hai mươi livre, anh sẽ tìm thấy sổ kê… trong quyển vở đỏ kia… Vĩnh biệt, Gamelin. Đừng ngủ quên. Hãy chăm lo bảo vệ nền Cộng hòa. Ça ira.

Bóng đêm buông xuống phòng tu. Người ta nghe tiếng thở nghẹn của người hấp hối và tiếng hai bàn tay ông cào lên tấm vải trải giường.

Đến nửa đêm, ông thốt ra những lời rời rạc:

— Thêm diêm tiêu nữa… Hãy cho giao súng… Sức khỏe ư? rất tốt… Hạ những quả chuông kia xuống…

Ông tắt thở lúc năm giờ sáng.

Theo lệnh của khu bộ, thi hài ông được quàn trong gian giữa của nhà thờ dòng Barnabite trước kia, dưới chân bàn thờ Tổ quốc, trên một chiếc giường dã chiến, thân mình phủ cờ tam tài và trán đội vòng lá sồi.

Mười hai cụ già khoác áo toga La Mã, tay cầm nhành cọ, cùng mười hai thiếu nữ buông dài những tấm voan và mang hoa, đứng quanh linh sàng. Dưới chân người chết, hai đứa trẻ, mỗi đứa cầm một ngọn đuốc chúc xuống. Évariste nhận ra một trong hai đứa là Joséphine, con gái bà gác cổng nhà mình; vẻ nghiêm trang trẻ thơ cùng sắc đẹp duyên dáng của nó khiến chàng nhớ đến những tiểu thần của tình yêu và cái chết mà người La Mã từng tạc trên các quan tài đá.

Đám tang đi tới nghĩa trang Saint-André-des-Arts giữa tiếng hát bài Marseillaise và Ça ira.

Khi đặt nụ hôn vĩnh biệt lên trán Fortuné Trubert, Évariste khóc. Chàng khóc cho chính mình, thèm được như người kia, đã hoàn thành phận sự và giờ đây yên nghỉ.

Trở về nhà, chàng nhận được thông báo mình đã được bầu làm thành viên Đại Hội đồng Công xã Paris. Ra ứng cử từ bốn tháng trước, sau nhiều vòng bỏ phiếu, chàng đã được khoảng ba mươi lá phiếu bầu lên mà không có đối thủ. Người ta không còn đi bỏ phiếu nữa: các khu bộ vắng tanh; người giàu cũng như người nghèo chỉ tìm cách trốn tránh công vụ. Những biến cố lớn lao nhất không còn khơi dậy lòng nhiệt thành hay tính hiếu kỳ; người ta không còn đọc báo, và Évariste tự hỏi trong bảy trăm nghìn dân của kinh thành liệu còn được ba hay bốn nghìn người mang tâm hồn cộng hòa hay không.

Hôm ấy, Hai mươi mốt người ra trước tòa.

Vô tội hay có tội đối với những tai họa và tội ác của nền Cộng hòa, phù phiếm, khinh suất, tham vọng và nông nổi, vừa ôn hòa vừa hung bạo, yếu đuối cả trong lúc khủng bố lẫn khi khoan dung, mau mắn tuyên chiến mà chậm chạp tiến hành chiến tranh, bị lôi ra trước Tòa án theo chính tấm gương họ từng nêu, họ vẫn là tuổi trẻ rực rỡ của Cách mạng; họ từng là vẻ quyến rũ và niềm vinh quang của nó. Vị thẩm phán sắp thẩm vấn họ với một sự thiên vị tinh vi kia; viên công tố mặt tái nhợt đang ngồi trước chiếc bàn nhỏ sửa soạn cái chết và sự ô nhục cho họ; những bồi thẩm viên lát nữa sẽ tìm cách bóp nghẹt lời biện hộ của họ; công chúng trên khán đài đang trút xuống họ những lời lăng mạ và tiếng la ó — thẩm phán, bồi thẩm viên, dân chúng — tất cả mới đây còn từng hoan nghênh tài hùng biện, ca tụng tài năng và đức hạnh của họ. Nhưng giờ đây không ai còn nhớ nữa.

Ngày trước, Évariste từng tôn Vergniaud làm thần, coi Brissot như lời sấm truyền. Chàng không còn nhớ nữa; và nếu trong ký ức vẫn sót lại chút dấu vết nào của niềm ngưỡng mộ xưa kia, thì chỉ là để chàng hiểu rằng những con quái vật ấy đã quyến rũ được cả những công dân ưu tú nhất.

Sau phiên tòa, khi trở về nhà, Gamelin nghe thấy những tiếng kêu xé lòng. Đó là bé Joséphine đang bị mẹ đánh đòn vì đã chơi ngoài quảng trường với lũ trẻ hư và làm bẩn chiếc áo dài trắng đẹp đẽ người ta mặc cho nó trong lễ tang công dân Trubert.