Thần linh khát máu — Chương 18

Chương 18 / 29 · Bài review Thần linh khát máu

Nữ công dân Gamelin quý mến lão Brotteaux và coi ông là người vừa khả ái nhất, vừa đáng kính nhất trong tất cả những ai bà từng được gần gũi. Khi ông bị bắt, bà đã không đến từ biệt, vì sợ như thế là thách thức nhà chức trách, và trong cảnh thấp hèn của mình, bà coi sự hèn nhát là một bổn phận. Nhưng biến cố ấy đã giáng cho bà một đòn mà bà không sao gượng dậy nổi.

Bà không ăn uống được, lại than tiếc rằng mình mất ngon đúng vào lúc rốt cuộc đã có đủ thức ăn để thỏa lòng. Bà vẫn khâm phục con trai; nhưng không còn dám nghĩ đến những công việc khủng khiếp chàng đang làm, và tự mừng mình chỉ là một người đàn bà dốt nát, nên khỏi phải phán xét chàng.

Người mẹ tội nghiệp tìm thấy dưới đáy một chiếc rương cũ một tràng hạt; bà không biết dùng cho đúng cách, nhưng vẫn lần chuỗi bằng những ngón tay run rẩy. Đã sống đến tuổi già mà không hành đạo, giờ đây bà trở nên sùng tín: suốt ngày, bên góc lò sưởi, bà cầu Chúa cứu rỗi con mình và ông Brotteaux nhân hậu. Élodie thường đến thăm bà: hai người không dám nhìn nhau, ngồi bên nhau mà nói vu vơ những chuyện chẳng đâu vào đâu.

Một ngày tháng Pluviôse, tuyết rơi từng bông lớn làm tối sầm bầu trời và dập tắt mọi tiếng động của thành phố, nữ công dân Gamelin đang ở nhà một mình thì nghe tiếng gõ cửa. Bà giật nảy người: đã mấy tháng nay, tiếng động nhỏ nhất cũng khiến bà rùng mình. Bà mở cửa. Một chàng trai chừng mười tám, đôi mươi bước vào, đầu vẫn đội mũ. Người ấy mặc chiếc áo choàng màu xanh ve chai, ba tầng cổ áo phủ kín ngực và thắt lưng, đi đôi ủng lật cổ kiểu Anh. Mái tóc nâu hạt dẻ buông thành lọn xuống vai. Người ấy tiến ra giữa xưởng, như để hứng lấy tất cả ánh sáng xuyên qua tuyết mà mái kính rọi vào, rồi đứng yên lặng bất động trong giây lát.

Cuối cùng, trong khi nữ công dân Gamelin còn nhìn người ấy sững sờ:

— Mẹ không nhận ra con gái mẹ sao?...

Bà lão chắp hai tay lại:

— Julie!... Con đấy ư... Lạy Chúa, sao có thể thế được!...

— Vâng, chính con đây! Mẹ ôm con đi.

Bà góa Gamelin ôm chặt con gái vào lòng, để một giọt lệ rơi xuống cổ áo choàng. Rồi bà lo lắng hỏi:

— Con ở Paris ư!...

— Ôi! Mẹ ơi, giá mà con đến đây một mình!... Còn con thì trong bộ áo này, chẳng ai nhận ra đâu.

Quả thật, chiếc áo choàng che khuất dáng người nàng, khiến nàng không khác gì nhiều chàng trai rất trẻ cũng để tóc dài, rẽ thành hai mảng như nàng. Những đường nét thanh tú, duyên dáng trên khuôn mặt rám nắng, hốc hác vì mệt nhọc và chai cứng bởi lo âu, mang một vẻ táo bạo, nam nhi. Nàng mảnh khảnh, đôi chân dài thẳng, cử chỉ tự nhiên; chỉ có giọng nói trong trẻo là có thể làm nàng lộ diện.

Mẹ hỏi nàng có đói không. Nàng đáp rằng mình rất sẵn lòng ăn; và khi được dọn cho bánh mì, rượu vang cùng giăm-bông, nàng chống một khuỷu tay lên bàn mà ăn, vừa đẹp đẽ vừa háu đói như Cérès trong túp lều của bà lão Baubô.

Rồi, miệng vẫn còn kề chén:

— Mẹ có biết bao giờ anh con về không? Con đến để nói chuyện với anh ấy.

Người mẹ hiền nhìn con gái với vẻ bối rối, không trả lời.

— Con phải gặp anh ấy. Sáng nay chồng con đã bị bắt và bị giải đến Luxembourg.

Nàng gọi Fortuné de Chassagne là “chồng”; chàng vốn là một quý tộc và sĩ quan của trung đoàn Bouillé dưới chế độ cũ. Chàng đã yêu nàng khi nàng còn làm thợ may đồ trang sức ở phố Lombards, rồi đưa nàng sang Anh, nơi chàng lưu vong sau ngày 10 tháng Tám. Chàng là tình nhân của nàng; nhưng trước mặt mẹ, nàng thấy gọi chàng là chồng thì đứng đắn hơn. Và nàng tự nhủ rằng cảnh khốn cùng đã thực sự kết duyên cho họ, rằng tai họa chính là một lễ ban bí tích.

Đã hơn một lần, hai người cùng qua đêm trên ghế đá trong các công viên ở London, và nhặt những mẩu bánh mì dưới gầm bàn các quán rượu tại Piccadilly.

Mẹ nàng vẫn không đáp, chỉ nhìn nàng bằng đôi mắt ảm đạm.

— Mẹ không nghe con nói sao? Thời gian gấp lắm, con phải gặp Évariste ngay: chỉ có anh ấy mới cứu được Fortuné.

— Julie, người mẹ đáp, tốt hơn hết là con đừng nói chuyện với anh con.

— Sao? Mẹ nói gì thế?

— Mẹ nói rằng tốt hơn hết là con đừng nhắc ông de Chassagne với anh con.

— Nhưng mẹ ơi, con buộc phải nói!

— Con ạ, Évariste không tha thứ cho ông de Chassagne vì đã đưa con đi. Con biết nó từng nói về ông ấy giận dữ thế nào, gọi ông ấy bằng những tên gì rồi đấy.

— Vâng, anh ấy gọi Fortuné là kẻ làm hư hỏng con, Julie nhún vai, bật ra một tiếng cười khẽ sắc lạnh.

— Con ạ, nó đã bị xúc phạm đến tận xương tủy. Évariste tự buộc mình không nói đến ông de Chassagne nữa. Suốt hai năm nay, nó không hề hé một lời về ông ấy cũng như về con. Nhưng tình cảm của nó chẳng hề thay đổi; con biết tính nó rồi: nó không tha thứ cho hai con đâu.

— Nhưng mẹ ơi, Fortuné đã cưới con rồi mà... ở London...

Người mẹ tội nghiệp ngước mắt, giơ hai tay lên:

— Chỉ cần Fortuné là một tên quý tộc, một kẻ lưu vong, cũng đủ để Évariste coi cậu ấy như kẻ thù.

— Mẹ trả lời con đi. Mẹ nghĩ rằng nếu con xin anh ấy đến gặp công tố viên và Ủy ban An ninh Toàn quốc, làm những việc cần thiết để cứu Fortuné, anh ấy sẽ không chịu sao?... Nhưng mẹ ơi, nếu từ chối thì anh ấy là một con quái vật!

— Con ạ, anh con là người lương thiện và là một đứa con có hiếu. Nhưng đừng xin nó, ôi! đừng xin nó quan tâm đến ông de Chassagne... Hãy nghe mẹ, Julie. Nó không thổ lộ với mẹ những điều nó nghĩ, mà hẳn mẹ cũng không đủ sức hiểu... nhưng nó là thẩm phán; nó có những nguyên tắc của nó; nó hành động theo lương tâm. Đừng xin nó điều gì cả, Julie.

— Con thấy bây giờ mẹ đã hiểu anh ấy rồi. Mẹ biết anh ấy lạnh lùng, vô cảm, độc ác, chỉ có tham vọng và thói hư danh. Thế mà mẹ vẫn luôn yêu anh ấy hơn con. Hồi ba mẹ con ta còn sống chung, mẹ cứ đem anh ấy ra làm gương cho con. Dáng điệu kiểu cách và giọng nói nghiêm trang của anh ấy khiến mẹ kính nể: mẹ thấy ở anh ấy đủ mọi đức hạnh. Còn con, mẹ luôn luôn chê trách, gán cho con đủ mọi thói xấu, chỉ vì con thẳng tính và thích trèo cây. Mẹ chưa bao giờ chịu nổi con. Mẹ chỉ yêu anh ấy. Này! Con căm Évariste của mẹ: anh ấy là đồ đạo đức giả.

— Im đi, Julie: mẹ đã là một người mẹ tốt với con cũng như với nó. Mẹ đã cho con học một nghề. Không phải tại mẹ mà con không giữ được mình là một cô gái đoan chính và lấy chồng xứng với thân phận. Mẹ từng yêu con tha thiết và giờ vẫn yêu con. Mẹ tha thứ cho con và yêu con. Nhưng đừng nói xấu Évariste. Nó là đứa con có hiếu. Nó luôn chăm nom mẹ. Khi con bỏ mẹ đi, con ạ, khi con vứt bỏ nghề nghiệp và cửa hàng để đến sống với ông de Chassagne, nếu không có nó thì mẹ sẽ ra sao? Mẹ đã chết vì nghèo đói rồi.

— Mẹ đừng nói thế: mẹ biết rõ Fortuné và con sẽ hết lòng chăm sóc mẹ, nếu mẹ không quay lưng lại với chúng con vì bị Évariste xúi giục. Mẹ để con yên đi! Anh ấy không thể làm nổi một việc tốt; anh ấy vờ chăm sóc mẹ chỉ để khiến con thành kẻ đáng ghét trong mắt mẹ. Anh ấy mà yêu mẹ ư?... Anh ấy có khả năng yêu ai sao? Anh ấy chẳng có trái tim cũng chẳng có trí tuệ. Anh ấy không có một chút tài năng nào, không một chút nào. Muốn vẽ tranh, người ta phải có một tâm hồn dịu dàng hơn anh ấy.

Nàng đưa mắt nhìn khắp những bức tranh trong xưởng, vẫn thấy chúng y nguyên như ngày nàng ra đi.

— Tâm hồn anh ấy đấy! Anh ấy đã đặt nó lên những tấm toan kia, lạnh lẽo và tối tăm. Chàng Oreste của anh ấy, chàng Oreste mắt đần độn, miệng nham hiểm, trông như một kẻ bị đóng cọc ấy, chính là toàn bộ con người anh ấy... Nhưng mẹ ơi, mẹ vẫn không hiểu gì sao? Con không thể để Fortuné trong tù. Mẹ biết bọn Jacobin, bọn ái quốc, cả bè lũ của Évariste rồi đấy. Chúng sẽ giết chàng. Mẹ ơi, mẹ yêu quý của con, mẹ bé bỏng của con, con không muốn người ta giết chàng. Con yêu chàng! Con yêu chàng! Chàng đã đối với con tốt biết bao, và chúng con đã cùng nhau khổ sở biết bao! Mẹ xem, chiếc áo choàng này là của chàng. Con không còn lấy một chiếc áo lót. Một người bạn của Fortuné cho con mượn chiếc áo vét, và con làm thuê cho một người bán nước giải khát ở Douvres, trong khi chàng làm việc tại một hiệu cắt tóc. Chúng con biết rõ trở về Pháp là đem mạng sống ra đánh cược; nhưng người ta hỏi chúng con có muốn đến Paris để thi hành một sứ mệnh quan trọng không... Chúng con nhận lời; dẫu là một sứ mệnh cho quỷ dữ, chúng con cũng nhận. Người ta trả tiền hành trình và trao cho chúng con một hối phiếu lĩnh tiền tại một chủ ngân hàng ở Paris. Khi đến nơi, chúng con thấy văn phòng đóng cửa: chủ ngân hàng ấy đang ở trong tù và sắp bị chém đầu. Chúng con không có lấy một đồng liard đỏ. Tất cả những người cùng phe mà chúng con có thể tìm đến đều đã trốn chạy hoặc bị cầm tù. Không một cánh cửa nào để gõ. Chúng con ngủ trong một chuồng ngựa ở phố Femme-sans-tête. Một người đánh giày nhân hậu, cũng ngủ trên rơm cùng chúng con, cho người yêu của con mượn một thùng đồ nghề, một chiếc bàn chải và một hộp xi gần cạn. Suốt mười lăm ngày, Fortuné kiếm sống cho chàng và cho con bằng nghề đánh giày ở quảng trường Grève. Nhưng hôm thứ Hai, một thành viên Công xã Paris đặt chân lên thùng và bảo chàng đánh đôi ủng của hắn. Đó là một tên đồ tể cũ, ngày trước từng bị Fortuné đá vào mông vì bán thịt thiếu cân. Khi Fortuné ngẩng đầu lên đòi hai xu tiền công, tên khốn nhận ra chàng, gọi chàng là kẻ quý tộc và dọa sẽ cho bắt. Đám đông tụ lại; trong đó có những người tử tế và vài tên vô lại hò hét: “Giết tên lưu vong!” rồi gọi hiến binh đến.

Lúc ấy, con đang mang súp đến cho Fortuné. Con thấy người ta giải chàng về khu bộ rồi giam trong nhà thờ Saint-Jean. Con muốn ôm chàng: người ta xô con ra. Con đã qua đêm như một con chó trên một bậc thềm nhà thờ... Sáng nay, người ta đã giải chàng đi...

Julie không thể nói hết; những tiếng nức nở làm nàng nghẹn lại.

Nàng ném mũ xuống sàn rồi quỳ dưới chân mẹ:

— Sáng nay, người ta đã giải chàng đến nhà tù Luxembourg. Mẹ ơi, mẹ ơi, hãy giúp con cứu chàng; xin mẹ thương lấy con gái mẹ!

Đầm đìa nước mắt, nàng vạch áo choàng ra, như muốn khiến mẹ nhận ra rõ hơn ở nàng cả người tình lẫn đứa con gái; rồi nàng cầm hai tay mẹ, áp lên đôi vú đang phập phồng.

— Con gái yêu của mẹ, Julie của mẹ, Julie của mẹ! bà góa Gamelin thổn thức.

Bà áp khuôn mặt ướt lệ vào đôi má người thiếu phụ.

Trong giây lát, hai người lặng im. Người mẹ tội nghiệp cố nghĩ cách giúp con gái, còn Julie dò xét ánh nhìn trong đôi mắt đẫm lệ ấy.

“Có lẽ, mẹ Évariste nghĩ, có lẽ nếu ta nói với nó, nó sẽ xiêu lòng. Nó vốn tốt bụng, dịu dàng. Nếu chính trị không làm nó chai cứng, nếu nó không chịu ảnh hưởng của bọn Jacobin, nó đã chẳng có những sự nghiêm khắc khiến ta sợ hãi, bởi ta không hiểu nổi.”

Bà nâng đầu Julie trong hai bàn tay:

— Nghe mẹ, con gái. Mẹ sẽ nói với Évariste. Mẹ sẽ chuẩn bị cho nó gặp con, nghe con nói. Trông thấy con bất ngờ có thể khiến nó nổi giận, và mẹ e phản ứng đầu tiên của nó... Vả lại, mẹ biết nó: bộ áo này sẽ làm nó chướng mắt; nó rất nghiêm khắc trong mọi điều liên quan đến phong hóa và lễ nghi. Chính mẹ cũng hơi sửng sốt khi thấy Julie của mẹ ăn mặc như con trai.

— Ôi! Mẹ ơi, cảnh lưu vong và những rối loạn khủng khiếp trong vương quốc đã khiến chuyện cải trang như thế này trở nên rất thường. Người ta làm vậy để kiếm nghề sinh sống, để khỏi bị nhận diện, hoặc để cho diện mạo phù hợp với một tấm hộ chiếu hay giấy chứng nhận mượn của người khác. Ở London, con từng thấy cậu Girey nhỏ bé mặc đồ con gái, trông chẳng khác gì một cô gái rất xinh; mà mẹ cũng phải công nhận lối cải trang ấy còn dễ gây điều tiếng hơn của con.

— Đứa con tội nghiệp của mẹ, trước mặt mẹ, con chẳng cần thanh minh về chuyện này hay bất cứ chuyện gì khác. Mẹ là mẹ con: đối với mẹ, con sẽ mãi mãi vô tội. Mẹ sẽ nói với Évariste, mẹ sẽ bảo...

Bà ngừng lại. Bà cảm nhận được con trai mình là người thế nào; bà cảm nhận được, nhưng không muốn tin, không muốn biết.

— Nó là người tốt. Vì mẹ... vì con, nó sẽ làm điều mẹ yêu cầu.

Và hai người đàn bà, mệt mỏi vô cùng, cùng im tiếng. Julie thiếp ngủ, đầu gối lên nơi nàng từng nằm khi còn thơ ấu. Trong khi ấy, tràng hạt trong tay, người mẹ đau khổ khóc trước những tai họa bà cảm thấy đang lặng lẽ kéo đến, giữa sự yên tĩnh của ngày tuyết rơi, khi tất cả đều nín lặng: bước chân, bánh xe, bầu trời.

Bỗng nhiên, bằng thính giác tinh nhạy vì lo âu, bà nghe tiếng con trai đang lên cầu thang.

— Évariste!... bà nói. Trốn đi.

Rồi bà đẩy con gái vào phòng mình.

— Hôm nay mẹ thấy trong người thế nào, mẹ hiền của con?

Évariste treo mũ lên mắc áo, thay chiếc áo xanh bằng áo làm việc rồi ngồi xuống trước giá vẽ. Mấy ngày nay, chàng đang phác bằng than hình nữ thần Chiến thắng đặt vòng nguyệt quế lên trán một người lính hy sinh vì tổ quốc. Chàng hẳn đã thể hiện đề tài ấy với tất cả nhiệt tình, nhưng Tòa án nuốt trọn mọi ngày của chàng, chiếm hết tâm hồn chàng, và bàn tay lâu ngày không vẽ đã trở nên nặng nề, biếng nhác.

Chàng khe khẽ ngân nga bài Ça ira.

— Con hát đấy à, con ơi, công dân Gamelin nói; lòng con đang vui.

— Chúng ta phải vui mừng, thưa mẹ: có những tin tốt lành. Vendée đã bị đè bẹp, quân Áo đã thua trận; đạo quân sông Rhin đã chọc thủng phòng tuyến Lautern và Wissembourg. Ngày mà nền Cộng hòa chiến thắng tỏ lòng khoan dung đã gần kề. Nhưng tại sao sự táo tợn của bọn âm mưu lại lớn lên theo sức mạnh của nền Cộng hòa, tại sao lũ phản bội lại cố công đánh lén Tổ quốc trong bóng tối, giữa lúc Tổ quốc giáng sét xuống những kẻ thù công khai tiến đánh mình?

Công dân Gamelin vừa đan một chiếc bít tất vừa nhìn con trai qua phía trên cặp kính.

— Berzélius, người mẫu già của con, đã đến đòi mười livre con còn nợ ông ấy: mẹ đã trả rồi. Con bé Joséphine bị đau bụng vì ăn quá nhiều mứt mà bác thợ mộc cho nó. Mẹ đã sắc nước thuốc cho nó… Desmahis đến tìm con; không gặp con, cậu ấy tiếc lắm. Cậu ấy muốn khắc một đề tài do con sáng tác. Cậu ấy cho rằng con có tài lớn. Chàng trai tốt bụng ấy đã xem những bản phác thảo của con và hết lời thán phục.

— Khi hòa bình được lập lại và âm mưu bị bóp nghẹt, người họa sĩ nói, con sẽ vẽ tiếp bức Oreste. Con không có thói tự tâng bốc mình; nhưng trong đó có một cái đầu xứng đáng với David.

Chàng vạch một đường uy nghiêm, tạo nên cánh tay của nữ thần Chiến thắng.

— Nàng đang đưa ra những cành cọ, chàng nói. Nhưng sẽ đẹp hơn nếu chính đôi cánh tay nàng là những cành cọ.

— Évariste!

— Mẹ?…

— Mẹ nhận được tin… con đoán xem là của ai…

— Con không biết…

— Của Julie… chị con… Nó không được hạnh phúc.

— Nếu chị ấy được hạnh phúc thì thật là một điều ô nhục.

— Đừng nói thế, con ơi: nó là chị con. Julie không phải người xấu; nó có những tình cảm tốt đẹp, được cảnh bất hạnh vun bồi. Nó thương con. Mẹ có thể cam đoan với con, Évariste, rằng nó khao khát một cuộc đời cần lao, gương mẫu, và chỉ nghĩ đến chuyện trở về gần người thân. Không có gì ngăn con gặp lại nó. Nó đã kết hôn với Fortuné Chassagne.

— Chị ấy viết thư cho nhà ta sao?

— Không.

— Vậy làm sao mẹ biết tin chị ấy?

— Không phải qua thư, con ạ; mà là…

Chàng đứng phắt dậy, ngắt lời bà bằng một giọng khủng khiếp:

— Mẹ im đi! Đừng nói với con rằng cả hai người họ đã trở về Pháp… nếu họ nhất định phải chết, thì ít ra cũng đừng để họ chết bởi tay con. Vì họ, vì mẹ, vì con, hãy để con không biết rằng họ đang ở Paris… Đừng buộc con phải biết; nếu không…

— Con muốn nói gì vậy, con ơi? Con định, con dám làm thế sao?…

— Mẹ, xin hãy nghe con: nếu con biết chị Julie của con đang ở trong căn phòng này… (chàng trỏ tay vào cánh cửa đóng kín), con sẽ lập tức đi tố giác chị ấy với Ủy ban Giám sát của khu bộ.

Người mẹ đáng thương, mặt trắng như chiếc mũ vải của bà, buông rơi mớ len đan khỏi đôi tay run rẩy và thở dài, bằng một giọng còn yếu hơn tiếng thì thầm khẽ nhất:

“Ta không muốn tin, nhưng giờ ta thấy rõ rồi: nó là một con quái vật…”

Cũng tái nhợt như bà, mép sùi bọt, Évariste bỏ chạy và lao đi tìm bên Élodie sự quên lãng, giấc ngủ, hương vị báo trước ngọt ngào của cõi hư vô.