Thần linh khát máu — Chương 19
Chương 19 / 29 · Bài review Thần linh khát máu
Trong khi cha Longuemare và cô gái Athénaïs bị thẩm vấn tại khu bộ, Brotteaux được hai hiến binh áp giải đến Luxembourg, nhưng người gác cổng từ chối nhận ông, viện lẽ không còn chỗ. Viên cựu thầu thuế sau đó bị đưa tới Conciergerie và dẫn vào phòng lục sự, một gian khá nhỏ, chia đôi bằng vách kính. Trong lúc viên lục sự ghi tên ông vào sổ giam, qua những ô kính, Brotteaux trông thấy hai người, mỗi người nằm trên một tấm nệm tồi tàn, bất động như chết, mắt nhìn trân trân mà dường như chẳng thấy gì. Đĩa, chai, bánh mì và thịt thừa vương đầy trên sàn quanh họ. Đó là những người bị kết án tử hình đang chờ xe tù.
Nguyên chủ ấp Ilettes bị dẫn vào một hầm giam, nơi dưới ánh đèn lồng, ông thấp thoáng thấy hai hình người nằm dài, một dữ tợn, tàn tật, gớm ghiếc, người kia thanh tú và hiền hòa. Hai người tù nhường cho ông một ít rơm mục đầy chấy rận, để ông khỏi phải nằm trên nền đất vấy phân. Brotteaux buông mình xuống một chiếc ghế dài, giữa bóng tối hôi hám, tựa đầu vào tường, câm lặng, bất động. Nỗi đau khổ của ông ghê gớm đến mức, nếu còn sức, ông đã đập vỡ đầu mình vào tường. Ông không thở nổi. Mắt ông mờ đi; một tiếng ù kéo dài, yên tĩnh như sự im lặng, tràn ngập đôi tai; ông cảm thấy toàn thể con người mình đắm trong một cõi hư vô tuyệt diệu. Trong một giây khắc không gì sánh được, tất cả đối với ông đều là hòa điệu, ánh sáng thanh bình, hương thơm và êm dịu. Rồi ông thôi hiện hữu.
Khi tỉnh lại, ý nghĩ đầu tiên chiếm lấy tâm trí ông là tiếc nuối cơn ngất vừa qua; và vẫn là một triết gia ngay giữa cơn mê dại của tuyệt vọng, ông nghĩ rằng mình phải sa xuống tận đáy hầm ngục, trong lúc chờ máy chém, mới được nếm trải cảm giác khoái lạc mãnh liệt nhất mà giác quan ông từng biết. Ông cố làm mình mất tri giác lần nữa nhưng không thành; trái lại, dần dần ông cảm thấy không khí ô uế trong ngục, cùng với hơi ấm của sự sống, đem vào phổi ông ý thức về cảnh khốn cùng không sao chịu nổi.
Trong khi ấy, hai người bạn tù coi sự im lặng của ông là một lời khinh miệt tàn nhẫn. Brotteaux vốn dễ giao du, bèn cố thỏa mãn lòng tò mò của họ; nhưng khi biết ông thuộc hạng người mà thiên hạ gọi là “tù chính trị”, một trong những kẻ chỉ phạm cái tội nhẹ tênh bằng lời nói hay tư tưởng, họ chẳng dành cho ông chút kính trọng hay thiện cảm nào. Những hành vi bị quy cho hai người tù ấy có phần chắc chắn hơn: người lớn tuổi là một kẻ sát nhân, người kia làm tiền assignat giả. Cả hai đều biết thích nghi với tình cảnh của mình, thậm chí còn tìm thấy trong đó vài điều thỏa mãn. Brotteaux chợt nghĩ rằng ngay trên đầu mình, mọi thứ đều là chuyển động, tiếng động, ánh sáng và sự sống; rằng những cô hàng xinh xắn ở Palais đang mỉm cười sau các quầy nước hoa và đồ kim chỉ với khách qua đường sung sướng, tự do; và ý nghĩ ấy càng làm ông tuyệt vọng.
Đêm xuống, không ai nhận thấy giữa bóng tối và sự im lặng của hầm giam, song vẫn nặng nề và thê lương. Một chân duỗi trên ghế, lưng tựa vào tường, Brotteaux thiếp đi. Ông thấy mình ngồi dưới chân một cây dẻ gai rậm lá, nơi chim chóc đang ca hót; mặt trời lặn phủ lên dòng sông những ngọn lửa lỏng, còn viền mây nhuộm màu tía. Đêm trôi qua. Một cơn sốt dữ dội thiêu đốt ông, và ông ghé miệng vào bình, uống ngấu nghiến thứ nước chỉ khiến bệnh tình thêm nặng.
Hôm sau, viên cai ngục mang xúp đến hứa sẽ chuyển Brotteaux sang phòng trả tiền ngay khi có chỗ, miễn là ông chịu phí tổn; mà việc ấy hẳn chẳng phải đợi lâu. Quả nhiên, ngày kế tiếp nữa, hắn mời viên cựu thầu thuế ra khỏi hầm giam. Mỗi bậc thang bước lên, Brotteaux lại cảm thấy sức lực và sự sống trở về trong mình; và khi nhìn thấy trên nền gạch đỏ của một gian phòng, một chiếc giường dây phủ tấm chăn len tồi tàn hiện ra trước mắt, ông đã khóc vì vui sướng. Chiếc giường thếp vàng có đôi bồ câu mổ yêu nhau, mà thuở trước ông từng đặt làm cho cô vũ nữ xinh đẹp nhất Nhà hát Opéra, cũng chưa từng khiến ông thấy dễ chịu đến thế, hay hứa hẹn những lạc thú như thế.
Chiếc giường dây ấy nằm trong một phòng lớn khá sạch sẽ, có thêm mười bảy chiếc khác, ngăn cách nhau bằng những tấm ván cao. Đám người ở đây gồm các cựu quý tộc, thương nhân, chủ ngân hàng và thợ thủ công, không làm viên cựu thầu thuế khó chịu, bởi ông thích nghi được với đủ hạng người. Ông nhận thấy những người này, cũng như mình, bị tước đoạt mọi thú vui và đứng trước nguy cơ chết dưới tay đao phủ, vẫn tỏ ra vui vẻ và đặc biệt ham thích đùa cợt. Vốn không mấy sẵn lòng khâm phục loài người, ông cho rằng tâm trạng vui vẻ ấy bắt nguồn từ đầu óc nông nổi, khiến họ không thể chăm chú suy xét tình cảnh của mình. Và ông càng tin như thế khi nhận thấy những người thông minh nhất trong số họ đều buồn bã sâu xa. Chẳng bao lâu ông hiểu rằng phần lớn bọn họ tìm trong rượu vang và rượu mạnh một niềm vui mà ngay từ nguồn đã mang tính hung hăng, đôi khi hơi điên loạn. Không phải tất cả đều có lòng can đảm; nhưng ai nấy đều phô ra vẻ can đảm. Brotteaux không lấy làm lạ: ông biết người ta sẵn lòng thú nhận sự tàn nhẫn, cơn giận dữ, thậm chí cả thói tham lam, nhưng không bao giờ thú nhận sự hèn nhát, bởi lời thú nhận ấy sẽ đẩy họ vào hiểm họa chết người, giữa các bộ lạc man rợ cũng như trong một xã hội văn minh. Bởi thế, ông nghĩ, mọi dân tộc đều là dân tộc anh hùng, và mọi đạo quân đều chỉ gồm toàn những người dũng cảm.
Còn hơn cả rượu vang và rượu mạnh, tiếng vũ khí và chìa khóa, tiếng ổ khóa nghiến ken két, tiếng lính gác gọi nhau, tiếng chân các công dân giậm rầm rập trước cửa Tòa án làm những người tù say sưa, khơi dậy trong họ nỗi u uất, cơn mê sảng hoặc cuồng nộ. Có người dùng dao cạo cứa cổ, có người lao mình qua cửa sổ.
Brotteaux ở khu phòng trả tiền được ba ngày thì nghe người giữ chìa khóa cho biết cha Longuemare đang mục rữa trên đống rơm thối đầy chấy rận, chung với bọn trộm cướp và sát nhân. Ông thu xếp cho cha được chuyển vào khu phòng trả tiền, ngay trong căn phòng mình ở, nơi vừa bỏ trống một giường. Vì đã nhận trả tiền thay cho vị tu sĩ, viên cựu thầu thuế, vốn chẳng mang theo bao nhiêu của cải, bèn nghĩ cách vẽ chân dung, mỗi bức lấy một écu. Qua trung gian một viên cai ngục, ông kiếm được những khung nhỏ màu đen để lồng các món đồ xinh xắn kết bằng tóc mà ông làm khá khéo tay. Những vật ấy được đặc biệt ưa chuộng trong một tập hợp những con người đang nghĩ đến việc để lại kỷ vật.
Cha Longuemare vẫn giữ tinh thần và tâm trí cao ngạo. Trong khi chờ bị đưa ra trước Tòa án Cách mạng, cha chuẩn bị lời biện hộ. Không tách vụ án của mình khỏi sự nghiệp của Giáo hội, cha dự định trình bày với các thẩm phán những rối loạn và tai tiếng mà Hiến pháp Dân sự của giới giáo sĩ đã gây ra cho Hiền thê của Chúa Giê-su Ki-tô; cha toan miêu tả Trưởng nữ của Giáo hội đang tiến hành một cuộc chiến báng bổ chống lại giáo hoàng; hàng giáo sĩ Pháp bị tước đoạt, cưỡng bức, bị đặt một cách ô nhục dưới quyền người thế tục; các tu sĩ dòng, đội quân chân chính của Chúa Ki-tô, bị cướp bóc và xua tan. Cha viện dẫn thánh Grégoire Cả và thánh Irénée, đưa ra vô số điều khoản giáo luật cùng nguyên cả những đoạn dài trong các sắc lệnh giáo hoàng.
Suốt ngày, cha ngồi dưới chân giường, đặt giấy trên đầu gối mà hí hoáy viết, nhúng những mẩu bút lông đã mòn sát đến ngạnh vào mực, vào bồ hóng, vào bã cà phê; phủ kín bằng một thứ chữ không sao đọc nổi đủ loại giấy gói nến, giấy bao hàng, báo cũ, lá lót bìa sách, thư cũ, hóa đơn cũ, quân bài; rồi còn tính sẽ dùng cả áo sơ-mi sau khi hồ cứng. Cha chất tờ nọ lên tờ kia, và vừa chỉ vào đống chữ bôi bác không thể giải mã ấy vừa nói:
— Khi ra trước các thẩm phán, ta sẽ khiến họ ngập trong ánh sáng.
Một hôm, hài lòng nhìn bản biện hộ không ngừng dày thêm và nghĩ đến những vị pháp quan mà cha nóng lòng muốn làm cho cứng họng, cha kêu lên:
— Ta chẳng muốn ở vào địa vị của họ đâu!
Những người tù mà số phận tập hợp trong phòng giam ấy hoặc theo phái bảo hoàng, hoặc theo phái liên bang; trong số họ thậm chí còn có một người Jacobin. Họ bất đồng về cách điều hành quốc sự, nhưng không ai còn giữ chút tín ngưỡng Ki-tô giáo nào. Những người phái Feuillant, phái lập hiến và phái Gironde, cũng như Brotteaux, đều cho rằng Đức Chúa chẳng tốt lành gì đối với bản thân họ, nhưng lại rất tốt cho dân chúng. Những người Jacobin đặt vào chỗ Jehovah một vị thần Jacobin, để khiến chủ nghĩa Jacobin từ trên cao giáng xuống thế gian; nhưng cả phe này lẫn phe kia đều không thể hình dung có người lại phi lý đến mức tin vào bất kỳ tôn giáo mặc khải nào. Bởi vậy, thấy cha Longuemare không phải người thiếu trí khôn, họ cho cha là một kẻ gian trá. Hẳn để chuẩn bị cho cuộc tử đạo, cha tuyên xưng đức tin trong mọi dịp; và cha càng tỏ ra thành thực, người ta càng thấy cha giống một kẻ mạo danh.
Brotteaux có đứng ra bảo đảm cho lòng thành của vị tu sĩ cũng vô ích; chính Brotteaux cũng bị coi là chỉ tin một phần những điều mình nói. Những tư tưởng của ông quá khác thường nên không thể không có vẻ làm bộ, và chẳng bao giờ hoàn toàn vừa ý một ai. Ông nói về Jean-Jacques như nói về một tên đểu giả tầm thường. Trái lại, ông xếp Voltaire vào hàng những con người thần thánh, tuy vẫn không đặt ngang với Helvétius khả ái, với Diderot và nam tước d’Holbach. Theo ông, thiên tài vĩ đại nhất thế kỷ là Boulanger. Ông cũng đánh giá rất cao nhà thiên văn Lalande và Dupuis, tác giả một thiên Khảo luận về nguồn gốc các chòm sao. Những người có trí tuệ trong phòng bày ra hàng nghìn trò đùa nhằm vào vị tu sĩ dòng Barnabite tội nghiệp, nhưng cha chẳng bao giờ nhận thấy: sự ngây thơ của cha làm hỏng mọi cái bẫy.
Để xua những nỗi lo đang gặm nhấm mình và thoát khỏi sự hành hạ của cảnh nhàn rỗi, những người tù chơi cờ đam, đánh bài và chơi trictrac. Không ai được phép giữ nhạc cụ. Sau bữa tối, họ ca hát, ngâm thơ. Trường ca Trinh nữ của Voltaire đem lại đôi chút vui tươi cho tâm hồn những kẻ bất hạnh ấy, và họ nghe mãi không chán những đoạn hay. Nhưng vì không sao xua được ý nghĩ khủng khiếp cắm giữa lòng mình, đôi khi họ cố biến chính nó thành một trò tiêu khiển; và trong căn phòng mười tám giường, trước khi ngủ, họ chơi trò Tòa án Cách mạng. Vai được phân chia tùy sở thích và tài năng. Người đóng thẩm phán và công tố viên; người khác đóng bị cáo hoặc nhân chứng; những người khác nữa đóng đao phủ và phụ tá. Các phiên xử bao giờ cũng kết thúc bằng việc hành hình những người bị kết án: họ bị đặt nằm trên giường, cổ kê dưới một tấm ván. Sau đó sân khấu được chuyển xuống địa ngục. Những người nhanh nhẹn nhất trong bọn quấn mình trong khăn trải giường để làm hồn ma. Rồi một luật sư trẻ quê Bordeaux tên Dubosc, người nhỏ thó, da đen, chột mắt, gù lưng, chân thọt, hiện thân đích thực của Quỷ què, đầu mọc đủ sừng, đến lôi chân cha Longuemare khỏi giường, báo rằng cha đã bị kết án chịu lửa đời đời và vĩnh viễn đọa đày vì đã biến đấng sáng tạo vũ trụ thành một hữu thể đố kỵ, ngu xuẩn và độc ác, kẻ thù của niềm vui và tình yêu.
— Ha! Ha! Ha! — con quỷ ấy gào lên ghê rợn. — Lão thầy tu kia, ngươi đã dạy rằng Thượng đế thích thú nhìn các tạo vật của mình mòn mỏi trong sám hối và khước từ những ân huệ quý giá nhất của Người. Đồ lừa đảo, đạo đức giả, mộ đạo rởm, hãy ngồi trên đinh và ăn vỏ trứng cho đến đời đời!
Cha Longuemare chỉ đáp rằng trong lời lẽ ấy, nhà triết học đã lộ ra dưới lớp quỷ; và con quỷ hèn mọn nhất dưới địa ngục cũng sẽ nói ít điều ngu xuẩn hơn, bởi nó ít nhiều đã biết mùi thần học và chắc chắn không dốt nát bằng một nhà bách khoa.
Nhưng khi viên luật sư phái Gironde gọi cha là tu sĩ Capucin, cha đỏ bừng mặt vì giận và bảo rằng một người không phân biệt nổi tu sĩ Barnabite với tu sĩ Franciscan thì có con ruồi rơi vào sữa cũng chẳng nhìn ra.
Tòa án Cách mạng vét cạn các nhà tù mà các ủy ban không ngừng lấp đầy: trong ba tháng, số người ở phòng mười tám giường đã thay đổi đến một nửa. Cha Longuemare mất con quỷ nhỏ của mình. Luật sư Dubosc bị đưa ra trước Tòa án Cách mạng, bị kết án tử hình vì là phần tử liên bang và âm mưu chống lại sự thống nhất của nền Cộng hòa. Rời phòng xử, cũng như mọi người bị kết án khác, anh lại đi qua một hành lang xuyên giữa nhà tù và mở ra căn phòng mà suốt ba tháng anh đã làm cho rộn rã bằng niềm vui của mình. Khi từ biệt các bạn tù, anh vẫn giữ giọng nhẹ nhàng và vẻ vui tươi quen thuộc.
— Xin cha thứ lỗi cho tôi — anh nói với cha Longuemare — vì đã lôi chân cha khỏi giường. Tôi sẽ không tái phạm nữa đâu.
Rồi quay sang Brotteaux già:
— Vĩnh biệt, tôi đi trước ông vào cõi hư vô. Tôi vui lòng hoàn trả cho tự nhiên những nguyên tố cấu thành nên mình, chỉ mong từ nay bà ta sử dụng chúng tốt hơn, bởi phải thú nhận rằng với tôi, bà ta đã làm hỏng quá thể.
Rồi anh đi xuống phòng lục sự, để lại Brotteaux đau buồn và cha Longuemare run rẩy, mặt xanh như tàu lá, chết nhiều hơn sống khi thấy kẻ vô đạo vẫn cười bên bờ vực thẳm.
Khi tháng Germinal đem những ngày quang đãng trở lại, Brotteaux, vốn là người ham lạc thú, mỗi ngày xuống sân mấy lần. Khoảnh sân ấy trông sang khu phụ nữ, gần vòi nước nơi các nữ tù đến giặt quần áo vào buổi sáng. Một hàng song sắt ngăn cách hai khu; nhưng các thanh sắt không khít đến mức cản được những bàn tay nắm lấy nhau và những đôi môi tìm đến nhau. Dưới màn đêm khoan dung, các cặp tình nhân chen chúc ở đó. Khi ấy Brotteaux kín đáo lánh vào cầu thang, ngồi trên một bậc, rút từ túi chiếc áo dài màu bọ chét cuốn Lucretius nhỏ của mình, rồi dưới ánh đèn lồng đọc vài lời răn nghiêm khắc mà an ủi: “Sic ubi non erimus… Khi chúng ta không còn sống nữa, sẽ chẳng có gì làm chúng ta xúc động được, ngay cả khi trời, đất và biển hòa lẫn những mảnh vụn của mình…” Nhưng trong khi hưởng thụ sự minh triết cao vời ấy, Brotteaux vẫn thèm muốn sự điên rồ của tu sĩ Barnabite, cái điên rồ đã che khuất vũ trụ khỏi mắt cha.
Từ tháng này sang tháng khác, nỗi kinh hoàng càng lớn dần. Mỗi đêm, những viên cai ngục say rượu, theo sau là đàn chó giữ nhà, đi từ phòng giam này sang phòng giam khác, mang theo các bản cáo trạng, gào lên những cái tên bị chúng đọc méo mó, đánh thức tù nhân, và cứ hai mươi nạn nhân được chỉ định lại khiến hai trăm người kinh hãi. Qua những hành lang đầy bóng tối nhuốm máu ấy, mỗi ngày có hai mươi, ba mươi, năm mươi người bị kết án lặng lẽ đi qua, không một tiếng than: người già, phụ nữ, thiếu niên, khác nhau đến thế về địa vị, tính tình và tâm tư, khiến người ta tự hỏi phải chăng họ đã được chọn bằng cách rút thăm.
Và người ta vẫn đánh bài, uống rượu Bourgogne, vạch dự định, hẹn hò ban đêm bên hàng song sắt. Đám người, gần như đã hoàn toàn thay mới, giờ đây phần lớn gồm những kẻ “quá khích” và “cuồng nộ”. Tuy nhiên, phòng mười tám giường vẫn là nơi trú ngụ của vẻ lịch thiệp và phong thái thanh nhã: ngoài hai người mới bị đưa vào, vừa chuyển từ Luxembourg đến Conciergerie, bị tình nghi là “chim mồi”, tức gián điệp — các công dân Navette và Bellier — trong phòng chỉ có những người tử tế, tin cậy lẫn nhau. Họ nâng chén ca tụng những chiến thắng của nền Cộng hòa. Ở đó có khá nhiều thi sĩ, như vẫn thấy trong mọi cuộc tụ họp của những người nhàn rỗi. Những người tài hoa nhất làm thơ tụng ca chiến thắng của đạo quân sông Rhin rồi ngâm lên bằng giọng hùng hồn. Họ được hoan nghênh vang dội. Chỉ riêng Brotteaux ca ngợi hờ hững cả những người chiến thắng lẫn các thi nhân của họ.
— Từ thời Homère đến nay, các thi sĩ vẫn mắc một thói cuồng thật kỳ quặc là ca tụng quân nhân — một hôm ông nói. — Chiến tranh chẳng phải nghệ thuật, và chỉ có ngẫu nhiên định đoạt số phận các trận đánh. Trong hai viên tướng đối địch, cả hai đều ngu xuẩn, tất phải có một kẻ chiến thắng. Cứ chờ xem, một ngày kia, một trong những kẻ đeo gươm mà các vị tôn làm thần ấy sẽ nuốt chửng tất cả các vị, như con sếu trong truyện ngụ ngôn nuốt lũ ếch. Bấy giờ hắn mới thật là thần! Bởi thần linh được nhận ra ở lòng thèm khát.
Brotteaux chưa bao giờ xúc động trước vinh quang binh nghiệp. Ông chẳng hề vui mừng trước những chiến thắng của nền Cộng hòa, vốn đã được ông tiên liệu. Ông không ưa chế độ mới đang nhờ thắng lợi mà thêm vững mạnh. Ông bất mãn. Chỉ chừng ấy thôi cũng quá đủ để người ta bất mãn rồi.
Một buổi sáng, có tin các ủy viên của Ủy ban An ninh Toàn quốc sẽ lục soát chỗ ở của tù nhân, tịch thu tiền giấy assignat, đồ vàng bạc, dao, kéo; rằng những cuộc khám xét như thế đã được tiến hành ở Luxembourg và người ta đã lấy đi thư từ, giấy má, sách vở.
Bấy giờ ai nấy đều vắt óc tìm một nơi kín đáo để giấu những gì quý giá nhất. Cha Longuemare ôm từng bó hồ sơ biện hộ đem nhét vào một máng xối; Brotteaux vùi cuốn Lucrèce của mình vào tro trong lò sưởi.
Khi các ủy viên, cổ đeo dải băng tam sắc, đến thi hành việc tịch thu, họ hầu như chỉ tìm thấy những gì người ta xét là nên để lại cho họ. Sau khi họ đi, cha Longuemare chạy đến máng xối, thu nhặt từ hồ sơ biện hộ của mình những gì nước và gió còn chừa lại. Brotteaux lấy cuốn Lucrèce đen nhẻm bồ hóng ra khỏi lò sưởi.
“Hãy tận hưởng giờ phút hiện tại,” ông thầm nghĩ, “bởi qua một vài dấu hiệu, ta đoán rằng từ nay thời gian dành cho chúng ta đã bị định liệu rất ngặt nghèo.”
Một đêm Prairial dịu dàng, trong khi phía trên sân tù, vầng trăng phô đôi sừng bạc giữa nền trời nhợt nhạt, lão thầu thuế, theo lệ thường, đang đọc Lucrèce trên một bậc cầu thang đá thì nghe có tiếng gọi mình, một giọng đàn bà, một giọng êm ái mà ông không nhận ra. Ông bước xuống sân và thấy sau song sắt một bóng người cũng xa lạ với ông như giọng nói kia, nhưng những đường nét mơ hồ, quyến rũ của nàng lại gợi ông nhớ đến tất cả những người đàn bà mình từng yêu. Ánh trời tắm nàng trong sắc xanh và bạc. Brotteaux chợt nhận ra nữ diễn viên xinh đẹp ở phố Feydeau, Rose Thévenin.
— Con cũng ở đây ư! Niềm vui được gặp con nơi này thật đau đớn đối với ta. Con vào đây từ bao giờ, và vì sao?
— Từ hôm qua.
Rồi nàng nói thêm, giọng rất khẽ:
— Người ta tố cáo tôi là phần tử bảo hoàng. Họ buộc tội tôi âm mưu giải thoát hoàng hậu. Biết ông ở đây, tôi lập tức tìm cách gặp ông. Xin nghe tôi, bạn thân của tôi… ông cho phép tôi gọi ông như thế chứ?… Tôi quen biết những người có chức vị; tôi biết mình còn được cảm tình ngay trong Ủy ban Cứu quốc. Tôi sẽ nhờ bạn hữu vận động: họ sẽ giải thoát tôi, rồi đến lượt tôi sẽ giải thoát ông.
Nhưng Brotteaux cất giọng khẩn thiết:
— Vì tất cả những gì con yêu quý, con ơi, đừng làm gì cả! Đừng viết thư, đừng cầu cạnh; đừng xin xỏ bất cứ ai điều gì, ta van con, hãy khiến người ta quên con đi.
Thấy nàng dường như chưa thấu hết lời mình, ông càng van nài hơn nữa:
— Hãy im lặng, Rose, hãy khiến người ta quên con đi: đó là con đường sống. Mọi điều bạn hữu con toan làm chỉ khiến cái chết của con đến sớm hơn. Hãy kéo dài thời gian. Chỉ cần ít thôi, rất ít, ta hy vọng thế, là con sẽ được cứu… Nhất là đừng tìm cách lay động các thẩm phán, các bồi thẩm, một kẻ như Gamelin. Họ không phải con người, họ là những vật vô tri: người ta không thể giãi bày với vật vô tri. Hãy khiến người ta quên con đi. Nếu con nghe lời ta, bạn của ta, ta sẽ chết sung sướng vì đã cứu được mạng con.
Nàng đáp:
— Tôi sẽ nghe lời ông… Xin đừng nói đến cái chết.
Ông nhún vai:
— Đời ta đã hết rồi, con ạ. Con hãy sống và được hạnh phúc.
Nàng nắm lấy hai bàn tay ông, đặt lên ngực mình:
— Xin nghe tôi, bạn thân của tôi… tôi chỉ mới gặp ông một ngày, vậy mà ông không hề là người xa lạ đối với tôi. Và nếu điều tôi sắp nói có thể níu ông lại với cuộc đời, xin ông hãy tin: đối với ông, tôi sẽ là… bất cứ điều gì ông muốn tôi trở thành.
Rồi họ hôn nhau trên môi qua song sắt.