Thần linh khát máu — Chương 3

Chương 3 / 29 · Bài review Thần linh khát máu

Chiều hôm ấy, Évariste đến nhà công dân Jean Blaise, nhà buôn tranh khắc, đồng thời bán hộp, đồ bìa và đủ loại trò chơi, ở phố Honoré, đối diện nhà thờ Oratoire, gần trạm xe thư tín, hiệu Thần Ái tình họa sĩ. Cửa hàng mở ở tầng trệt một ngôi nhà đã sáu mươi năm tuổi, qua một ô cửa lớn có vòm cuốn, trên đỉnh vòm chạm một gương mặt đeo sừng. Phần bán nguyệt của ô cửa ấy được phủ bằng một bức sơn dầu vẽ cảnh “Người xứ Sicilia hay Thần Ái tình họa sĩ”, theo một bố cục của Boucher, do cha Jean Blaise cho đặt vào năm 1770, từ bấy đến nay đã bị nắng mưa làm phai mờ. Hai bên cửa ra vào là hai ô cửa tương tự, mỗi ô có đầu một nữ thần rừng chạm ở đỉnh vòm, lắp những tấm kính lớn nhất có thể tìm được, bày trước mắt khách qua đường các tranh khắc đang thịnh hành cùng những tác phẩm mới nhất của nghệ thuật khắc màu. Hôm ấy, người ta thấy ở đó những cảnh tình tứ được Boilly thể hiện với một vẻ duyên dáng hơi khô khan, như Những bài học về tình yêu vợ chồng và Những kháng cự dịu dàng, khiến phái Jacobin phẫn nộ và bị những người thuần thành tố cáo trước Hội Nghệ thuật; bức Cuộc dạo chơi nơi công cộng của Debucourt, với một chàng công tử mặc quần màu hoàng yến nằm ườn trên ba chiếc ghế; những bức vẽ ngựa của Carle Vernet trẻ tuổi; những khí cầu; bức Virginie tắm và những hình nhân phỏng theo nghệ thuật cổ đại.

Trong dòng công dân cuồn cuộn qua trước cửa hàng, chính những người áo quần rách rưới nhất lại dừng lâu nhất trước hai ô kính trưng bày đẹp đẽ ấy; họ dễ bị cuốn khỏi nỗi lo thường nhật, thèm khát hình ảnh và thiết tha được hưởng, ít ra bằng đôi mắt, phần của mình trong những của cải trên đời; họ há miệng thán phục, trong khi bọn quý tộc chỉ liếc qua, cau mày rồi bước tiếp.

Ngay từ xa, vừa trông thấy ngôi nhà, Évariste đã ngước mắt lên một trong những cửa sổ phía trên cửa hàng, cửa sổ bên trái, nơi có một chậu cẩm chướng đỏ đặt sau ban công sắt trang trí hình vỏ sò. Cửa sổ ấy lấy ánh sáng cho phòng Élodie, con gái Jean Blaise. Nhà buôn tranh khắc cùng người con duy nhất ở tầng một ngôi nhà.

Évariste dừng lại một lát trước hiệu Thần Ái tình họa sĩ như để lấy hơi, rồi xoay tay nắm cửa. Chàng gặp công dân Élodie; nàng vừa bán mấy bức tranh khắc, gồm hai tác phẩm của Fragonard con và Naigeon được lựa chọn kỹ giữa rất nhiều bức khác, và trước khi cất vào két số giấy bạc assignat vừa nhận, nàng lần lượt giơ từng tờ lên giữa đôi mắt đẹp và ánh sáng để xem xét những đường dây ngang, vân dọc cùng hình chìm. Nàng lo lắng, vì giấy giả lưu hành nhiều chẳng kém giấy thật, gây phương hại lớn cho việc buôn bán. Cũng như xưa kia những kẻ giả mạo chữ ký nhà vua, bọn làm giả tiền tệ quốc gia bị xử tử; vậy mà người ta vẫn tìm thấy bản khắc in assignat trong mọi hầm nhà; người Thụy Sĩ đưa vào hàng triệu tờ assignat giả; từng xấp bị vứt lại trong các quán trọ; mỗi ngày người Anh lại đổ lên bờ biển nước ta từng kiện lớn, hòng làm mất uy tín nền Cộng hòa và đẩy những người yêu nước vào cảnh khốn cùng. Élodie sợ nhận phải giấy giả, nhưng còn sợ hơn nữa việc đem nó lưu hành rồi bị coi là đồng lõa của Pitt; tuy vậy, nàng vẫn tin vào vận may của mình và chắc rằng trong bất cứ tình thế nào nàng cũng sẽ thoát được.

Évariste nhìn nàng bằng vẻ u tối biểu lộ tình yêu hơn mọi nụ cười. Nàng nhìn lại chàng với một nét bĩu môi hơi giễu cợt khiến đôi mắt đen xếch lên; vẻ mặt ấy bắt nguồn từ chỗ nàng biết mình được yêu, không hề phiền lòng vì điều đó, lại biết nó sẽ chọc giận người đang yêu, kích thích chàng than trách và khiến chàng thổ lộ nếu chưa từng thổ lộ, mà Évariste chính là trong trường hợp ấy.

Cất những tờ assignat vào két xong, nàng lấy từ giỏ may một chiếc khăn choàng trắng đang thêu dở rồi bắt tay làm tiếp. Nàng vừa chăm chỉ vừa làm duyên; và bởi theo bản năng, nàng đưa kim vừa để tô điểm cho mình vừa để làm vui lòng người khác, nên cách nàng thêu thay đổi tùy theo người đang ngắm nàng: nàng thêu uể oải trước những người nàng muốn truyền sang một nỗi rã rời êm dịu; nàng thêu thất thường trước những người nàng thích trêu cho hơi tuyệt vọng. Với Évariste, nàng thêu thật cẩn thận, vì nàng muốn nuôi dưỡng trong chàng một tình cảm nghiêm túc.

Élodie không còn trẻ lắm, cũng không thật xinh đẹp. Thoạt nhìn, người ta có thể thấy nàng xấu. Da nàng ngăm màu ô-liu; dưới chiếc khăn trắng lớn buộc hờ quanh đầu, những lọn tóc ánh xanh sẫm thoát ra, còn đôi mắt rực lửa như hun đen cả hốc mắt. Trong khuôn mặt tròn, gò má nhô cao, tươi cười, mũi hơi tẹt, vừa mộc mạc vừa nhục cảm ấy, người họa sĩ nhận ra gương mặt của thần đồng nội Borghèse, mà chàng từng chiêm ngưỡng vẻ tinh quái thần diệu trên một pho tượng đúc. Một lớp ria nhỏ làm đôi môi nồng cháy của nàng thêm đậm nét. Bộ ngực dường như căng đầy âu yếm nâng chiếc khăn choàng ngực bắt chéo theo thời trang năm ấy. Vòng eo mềm mại, đôi chân lanh lẹ, toàn thân rắn chắc của nàng chuyển động với một vẻ duyên dáng hoang dã và mê hoặc. Ánh mắt, hơi thở, những rung động của da thịt, tất cả ở nàng đều đòi hỏi một trái tim và hứa hẹn tình yêu. Đứng sau quầy hàng, nàng gợi hình ảnh một nữ thần vũ điệu, một nàng hầu rượu của thần Bacchus trên sân khấu Opéra, đã trút bỏ tấm da linh miêu, cây trượng và những vòng thường xuân, rồi nhờ phép màu được kìm giữ, che giấu trong dáng vẻ khiêm nhường của một bà nội trợ trong tranh Chardin.

— Cha tôi không có nhà, nàng nói với người họa sĩ; anh hãy đợi ông một lát: ông sắp về rồi.

Đôi bàn tay nhỏ rám nâu thoăn thoắt đưa kim qua lớp vải lanh mỏng.

— Ông Gamelin thấy mẫu này có vừa ý không?

Gamelin không biết giả vờ. Và tình yêu, khi thắp bùng lòng can đảm của chàng, cũng khiến sự thẳng thắn trong chàng dâng cao.

— Công dân thêu rất khéo, nhưng nếu công dân muốn nghe lời thật, thì mẫu người ta vẽ cho công dân chưa đủ giản dị, chưa đủ thuần khiết, và vẫn còn mang dấu vết của thị hiếu kiểu cách đã ngự trị quá lâu ở nước Pháp trong nghệ thuật trang trí vải vóc, đồ đạc và vách gỗ; những chiếc nơ, những vòng hoa này gợi lại cái phong cách nhỏ nhặt, tầm thường từng được sủng ái dưới thời bạo chúa. Thị hiếu đang hồi sinh. Than ôi! Chúng ta đã lạc đường quá xa. Dưới thời Louis XV ô nhục, nghệ thuật trang trí nhuốm một vẻ Tàu. Người ta làm những chiếc tủ bụng phệ, tay nắm uốn éo nom lố bịch, chỉ đáng ném vào lửa để sưởi ấm những người yêu nước; chỉ có sự giản dị mới đẹp. Phải trở về với cổ đại. David vẽ kiểu giường và ghế bành theo các bình Etrusca và những bức họa ở Herculanum.

— Tôi đã thấy những kiểu giường và ghế bành ấy, Élodie nói, đẹp lắm! Chẳng bao lâu nữa người ta sẽ không chuộng thứ nào khác. Cũng như anh, tôi tôn thờ nghệ thuật cổ đại.

— Vậy thì, công dân ạ, Évariste nói tiếp, nếu công dân trang trí chiếc khăn choàng này bằng một dải hoa văn Hy Lạp, những lá thường xuân, những con rắn hoặc những mũi tên đan chéo, nó hẳn sẽ xứng đáng với một thiếu nữ Sparta… và với công dân. Tuy nhiên, công dân vẫn có thể giữ mẫu này, miễn là giản lược nó và đưa nó trở về với đường thẳng.

Nàng hỏi chàng cần bỏ đi những gì.

Chàng cúi xuống chiếc khăn choàng: má chàng khẽ chạm những lọn tóc của Élodie. Tay họ gặp nhau trên lớp vải lanh mỏng, hơi thở hòa lẫn. Trong giây phút ấy, Évariste nếm trải một niềm vui vô hạn; nhưng khi cảm thấy đôi môi Élodie ở sát môi mình, chàng sợ đã xúc phạm thiếu nữ nên đột ngột lùi lại.

Công dân Blaise yêu Évariste Gamelin. Nàng thấy chàng thật cao đẹp với đôi mắt lớn rực lửa, gương mặt trái xoan thanh tú, nước da xanh xao, mái tóc đen dày rẽ trên trán rồi đổ thành từng làn xuống vai, dáng điệu trang nghiêm, vẻ lạnh lùng, cách tiếp người nghiêm khắc và lời nói cứng cỏi không hề biết ve vuốt. Và vì yêu chàng, nàng gán cho chàng một thiên tài nghệ thuật kiêu hãnh, một ngày kia sẽ bừng nở thành những kiệt tác và làm rạng danh chàng; vì thế nàng lại càng yêu chàng hơn. Công dân Blaise không sùng bái đức trinh bạch của đàn ông; đạo lý của nàng không bị xúc phạm khi một người đàn ông chiều theo đam mê, sở thích và ham muốn của mình. Nàng yêu Évariste, một người thanh khiết; nàng không yêu chàng vì chàng thanh khiết, nhưng thấy đức tính ấy có lợi ở chỗ nó khiến nàng chẳng phải ghen tuông, nghi ngờ hay lo sợ tình địch.

Tuy nhiên, trong khoảnh khắc ấy, nàng thấy chàng hơi quá dè dặt. Nếu Aricie của Racine, người yêu Hippolyte, từng khâm phục đức hạnh khắc nghiệt của người anh hùng trẻ tuổi, thì cũng là với hy vọng chiến thắng được nó; và nàng hẳn chẳng bao lâu sẽ than phiền về một nếp sống nghiêm khắc mà chàng không chịu làm dịu đi vì nàng. Bởi vậy, ngay khi có dịp, Élodie gần như đã thổ lộ, để buộc chàng cũng phải tự mình thổ lộ. Noi gương nàng Aricie dịu dàng ấy, công dân Blaise không phải hoàn toàn không tin rằng trong tình yêu, người đàn bà có bổn phận tiến bước trước. “Những người yêu tha thiết nhất,” nàng tự nhủ, “lại là những người nhút nhát nhất; họ cần được giúp đỡ và khuyến khích. Vả lại, họ ngây thơ đến nỗi một người đàn bà có thể đi nửa đường, thậm chí xa hơn, mà họ vẫn không nhận ra, miễn sao nàng khéo dành cho họ cái vẻ bề ngoài của một cuộc tiến công táo bạo và vinh quang của kẻ chinh phục.” Điều khiến nàng yên tâm về kết cuộc của chuyện này là nàng biết chắc chắn — và quả thực không thể nghi ngờ gì về điều ấy — rằng trước khi được Cách mạng nâng lên thành một bậc anh hùng, Évariste đã từng yêu một người đàn bà theo cách rất đỗi phàm trần, một sinh vật nhỏ bé khiêm nhường: bà gác cổng của Học viện.

Élodie, vốn chẳng phải một cô gái ngây thơ, hình dung được nhiều kiểu tình yêu khác nhau. Tình cảm Évariste khơi dậy trong nàng sâu sắc đến mức nàng nghĩ tới việc gắn bó cả đời với chàng. Nàng hoàn toàn sẵn lòng kết hôn với chàng, nhưng đoán rằng cha mình sẽ không tán thành việc cô con gái duy nhất kết duyên với một nghệ sĩ vô danh và nghèo túng. Gamelin chẳng có gì; còn nhà buôn tranh khắc thì điều động những khoản tiền lớn. Hiệu Thần Ái tình họa sĩ đem lại cho ông nhiều lợi nhuận, việc đầu cơ còn đem lại nhiều hơn; ông lại hùn vốn với một nhà cung ứng chuyên giao cho kỵ binh Cộng hòa những đôi ủng bện bằng bấc và yến mạch nhúng nước. Tóm lại, con trai một người thợ làm dao ở phố Saint-Dominique chỉ là một nhân vật nhỏ bé bên cạnh nhà xuất bản tranh khắc nổi tiếng khắp châu Âu, có họ hàng với các gia đình Blaizot, Basan và Didot, lại giao du tại nhà các công dân Saint-Pierre và Florian. Không phải vì là một cô con gái vâng lời mà nàng coi sự chấp thuận của cha là điều cần thiết cho việc thành gia thất. Người cha góa vợ từ sớm, tính tình tham lợi và nhẹ dạ, ham mê đàn bà, say sưa làm ăn, chưa bao giờ chăm nom nàng; ông để nàng lớn lên tự do, không lời khuyên bảo, không tình thân ái, chỉ cốt không biết chứ chẳng hề cốt trông nom cách ăn ở của cô con gái mà bằng con mắt sành sỏi, ông đánh giá cao khí chất nồng nhiệt và sức quyến rũ còn mạnh mẽ hơn nhiều một gương mặt xinh đẹp. Quá hào phóng để bo bo giữ mình, quá thông minh để sa ngã, khôn ngoan ngay trong những phút điên rồ, niềm ham thích yêu đương chưa bao giờ khiến nàng quên những phép tắc xã hội. Cha nàng vô cùng biết ơn nàng về sự thận trọng ấy; và vì nàng thừa hưởng ở ông óc buôn bán cùng sở thích kinh doanh, ông không bận tâm đến những lý do bí ẩn khiến một cô gái đã quá tuổi cập kê vẫn tránh né hôn nhân và ở lại trong nhà, nơi nàng đáng giá bằng một quản gia cùng bốn người làm công. Ở tuổi hai mươi bảy, nàng thấy mình đã đủ tuổi đời và kinh nghiệm để tự định đoạt cuộc sống, chẳng cảm thấy cần xin lời khuyên hay tuân theo ý muốn của một người cha còn trẻ, dễ dãi và đãng trí. Nhưng để nàng lấy Gamelin, ông Blaise phải gây dựng cho chàng rể nghèo một địa vị, cho chàng dự phần vào cửa hiệu, bảo đảm công việc cho chàng như ông vẫn làm với nhiều nghệ sĩ khác, tóm lại, bằng cách này hay cách khác, tạo cho chàng một nguồn sinh kế; mà điều ấy, nàng cho rằng người này không thể nào đề nghị, người kia không thể nào chấp nhận, bởi giữa hai người đàn ông có quá ít thiện cảm với nhau.

Khó khăn ấy khiến Élodie vừa dịu dàng vừa sáng suốt phải bối rối. Nàng không hề kinh sợ khi nghĩ tới việc kết hợp với người mình yêu bằng những mối dây bí mật và chỉ lấy đấng sáng tạo thiên nhiên làm chứng cho lời thề chung thủy của hai người. Triết lý của nàng không coi một sự kết hợp như thế là đáng trách; cuộc sống độc lập hiện tại khiến nó trở thành khả dĩ, còn tính tình lương thiện và đức hạnh của Évariste sẽ đem lại cho nó một sức bền đáng yên tâm. Nhưng Gamelin đã rất chật vật mới nuôi nổi bản thân và duy trì cuộc sống cho bà mẹ già: trong một cuộc đời eo hẹp đến thế, dường như chẳng còn chỗ cho tình yêu, ngay cả khi nó được giản lược đến mức đơn sơ của tự nhiên. Hơn nữa, Évariste vẫn chưa bày tỏ tình cảm, cũng chưa cho nàng biết ý định của mình. Công dân Blaise tin rằng chẳng bao lâu nữa nàng sẽ buộc được chàng làm điều ấy.

Nàng đồng thời ngừng cả dòng suy tưởng lẫn mũi kim:

— Công dân Évariste, nàng nói, chiếc khăn choàng này chỉ làm tôi vừa ý nếu chính anh cũng vừa ý. Xin anh vẽ cho tôi một mẫu. Trong khi chờ đợi, tôi sẽ noi theo Pénélope mà tháo hết những gì đã thêu trong lúc anh vắng mặt.

Chàng đáp với một niềm hăng say u tối:

— Tôi xin nhận lời, công dân. Tôi sẽ vẽ cho công dân thanh gươm của Harmodius: một lưỡi kiếm giữa vòng hoa.

Rồi rút bút chì ra, chàng phác những thanh kiếm và những đóa hoa theo phong cách tiết chế, thuần khiết mà chàng yêu thích. Đồng thời, chàng giảng giải những quan niệm của mình.

— Những người Pháp đã được tái sinh, chàng nói, phải khước từ mọi di sản của cảnh nô lệ: thị hiếu tồi, hình thức tồi, đường nét tồi. Watteau, Boucher, Fragonard làm việc cho bạo chúa và nô lệ. Trong tác phẩm của họ, không có lấy một chút cảm thức nào về phong cách cao quý hay đường nét thuần khiết; tuyệt nhiên không có thiên nhiên, cũng chẳng có sự thật. Chỉ toàn mặt nạ, búp bê, giẻ lụa và những trò nhại nhố. Hậu thế sẽ khinh miệt các tác phẩm phù phiếm ấy. Một trăm năm nữa, tất cả tranh của Watteau sẽ bị vứt quên, khinh rẻ trong các gác xép; vào năm 1893, những học trò hội họa sẽ phủ các bản phác thảo của họ lên tranh vải của Boucher. David đã mở đường: ông tiến gần nghệ thuật cổ đại; nhưng vẫn chưa đủ giản dị, đủ hùng vĩ, đủ thuần khiết. Các nghệ sĩ của chúng ta còn phải học biết bao điều bí mật từ những dải phù điêu ở Herculanum, những phù điêu thấp La Mã và các bình Etrusca.

Chàng nói hồi lâu về vẻ đẹp cổ đại, rồi trở lại với Fragonard, người mà chàng căm ghét không gì dập tắt nổi:

— Công dân có biết ông ta không?

Élodie gật đầu.

— Công dân cũng biết lão Greuze hiền lành, kẻ quả thực đã đủ lố bịch với chiếc áo đỏ thắm và thanh kiếm của mình. Nhưng đứng cạnh Fragonard, lão còn có vẻ như một hiền triết Hy Lạp. Ít lâu trước, tôi đã gặp lão già khốn kiếp ấy lon ton dưới những mái vòm của Palais-Égalité, đầu rắc phấn, điệu bộ hào hoa, nhún nhảy, dâm đãng, gớm ghiếc. Trước cảnh tượng ấy, tôi đã ước rằng nếu Apollon không ra tay thì một người bạn nghệ thuật lực lưỡng nào đó sẽ treo lão lên cây và lột da lão như Marsyas, làm tấm gương muôn đời cho những họa sĩ tồi.

Élodie nhìn chàng bằng đôi mắt vui tươi và chan chứa nhục cảm:

— Ông Gamelin, ông biết căm ghét như thế, liệu có nên tin rằng ông cũng biết yê…

— Anh đấy à, Gamelin? một giọng nam cao cất lên; đó là giọng công dân Blaise vừa trở vào cửa hàng, ủng kêu cót két, đồ trang sức leng keng, vạt áo tung bay, đầu đội một chiếc mũ đen khổng lồ có hai chóp vành rủ xuống tận vai.

Élodie cầm giỏ may lên phòng mình.

— Thế nào, Gamelin! công dân Blaise hỏi, anh có mang đến cho tôi thứ gì mới không?

— Có lẽ vậy, người họa sĩ đáp.

Rồi chàng trình bày ý tưởng của mình:

— Những quân bài của chúng ta trái ngược một cách chướng mắt với phong hóa hiện thời. Những danh xưng bồi và vua làm chói tai người yêu nước. Tôi đã nghĩ ra và thực hiện một bộ bài cách mạng mới, trong đó vua, đầm, bồi được thay bằng các quân Tự do, Bình đẳng, Bác ái; các quân át, viền quanh bằng những bó quyền trượng, được gọi là Luật pháp… Người ta sẽ xướng: Tự do chuồn, Bình đẳng bích, Bác ái rô, Luật pháp cơ… Tôi cho rằng những quân bài này được vẽ khá đường bệ; tôi định nhờ Desmahis khắc lõm rồi xin bằng sáng chế.

Vừa nói, người nghệ sĩ vừa lấy trong bìa đựng tranh ra mấy hình đã tô màu nước xong, đưa cho nhà buôn tranh khắc.

Công dân Blaise không chịu cầm lấy, ngoảnh mặt đi.

— Chú em ạ, hãy mang thứ ấy đến Quốc ước, người ta sẽ ban cho chú vinh dự tại phiên họp. Nhưng đừng mong kiếm được một xu từ phát minh mới này, bởi nó chẳng mới mẻ gì. Chú dậy muộn quá rồi. Bộ bài cách mạng của chú là bộ thứ ba người ta đem đến cho tôi. Tuần trước, anh bạn Dugourc của chú đã chào tôi một bộ bài piquet gồm bốn quân Thần, bốn quân Tự do, bốn quân Bình đẳng. Người ta còn đề nghị một bộ khác có những bậc hiền triết, những đấng anh hùng, Caton, Rousseau, Annibal, còn ai nữa thì trời biết!… Mà những quân bài ấy hơn bài của chú, anh bạn ạ, ở chỗ chúng được vẽ thô kệch và khắc gỗ bằng dao nhíp. Chú hiểu con người mới ít làm sao, khi tin rằng các con bạc sẽ dùng những quân bài vẽ theo phong cách David và khắc theo lối Bartolozzi! Lại còn là một ảo tưởng kỳ quặc nữa, khi cho rằng phải bày vẽ đến thế mới khiến những bộ bài cũ phù hợp với tư tưởng hiện thời. Những người sans-culotte chân chính tự sửa tính phản cách mạng của chúng bằng cách xướng: “Tên bạo chúa!” hoặc giản dị hơn: “Con lợn béo!” Họ dùng những quân bài cáu bẩn của mình và chẳng bao giờ mua bộ khác. Nơi tiêu thụ nhiều bài nhất là các sòng bạc ở Palais-Égalité: tôi khuyên chú đến đó chào bán cho bọn chia bài và các tay chơi lớn những quân Tự do, Bình đẳng, những quân… chú gọi là gì nhỉ?… những quân Luật pháp cơ của chú… rồi trở về kể tôi nghe họ đã tiếp chú ra sao!

Công dân Blaise ngồi lên quầy, lấy ngón tay búng những vụn thuốc lá bám trên chiếc quần nankin, rồi nhìn Gamelin với vẻ thương hại hiền hòa:

— Cho phép tôi khuyên chú một lời, công dân họa sĩ: nếu muốn kiếm sống, hãy bỏ những quân bài yêu nước ấy đi, bỏ những biểu tượng cách mạng, những Hercules, những con thủy quái, những nữ thần Cuồng nộ truy đuổi tội ác, những thần Tự do của chú đi, mà vẽ cho tôi những cô gái xinh đẹp. Lòng hăng hái tự cải tạo của các công dân sẽ nguội dần theo thời gian, còn đàn ông thì bao giờ cũng yêu đàn bà. Hãy vẽ cho tôi những người đàn bà hồng hào, chân nhỏ, tay nhỏ. Và hãy ghi vào đầu rằng chẳng còn ai quan tâm đến Cách mạng nữa, người ta cũng không muốn nghe nhắc đến nó nữa đâu.

Nghe đến đó, Évariste Gamelin bật dựng lên:

— Sao! Không muốn nghe nhắc đến Cách mạng nữa!… Nhưng việc thiết lập tự do, những chiến thắng của quân đội ta, sự trừng phạt những tên bạo chúa, chẳng phải là những biến cố sẽ khiến hậu thế xa xôi nhất phải kinh ngạc hay sao? Làm sao chúng ta có thể không xúc động trước những điều ấy?… Sao! Giáo phái của Jésus sans-culotte đã tồn tại gần mười tám thế kỷ, mà sự thờ phụng Tự do lại bị bãi bỏ khi mới hiện hữu chưa đầy bốn năm!

Nhưng Jean Blaise nói với vẻ bề trên:

— Chú sống trong mộng; còn tôi, tôi sống giữa cuộc đời. Tin tôi đi, anh bạn, Cách mạng khiến người ta chán ngấy: nó kéo dài quá lâu. Năm năm nhiệt thành, năm năm ôm hôn, tàn sát, diễn thuyết, hát Marseillaise, rung chuông báo động, treo cổ bọn quý tộc lên cột đèn, rước đầu người trên mũi giáo, đàn bà cưỡi trên đại bác, cây Tự do đội mũ đỏ, thiếu nữ và người già mặc áo trắng bị lôi đi trên những cỗ xe kết hoa; rồi tù đày, máy chém, khẩu phần, áp phích, huy hiệu ba màu, chùm lông, gươm giáo, điệu carmagnole — thế là dài lắm rồi! Vả lại, người ta bắt đầu chẳng còn hiểu gì nữa. Chúng tôi đã thấy quá nhiều những công dân vĩ đại mà các chú đưa lên Capitole chỉ để sau đó xô họ xuống mỏm đá Tarpéienne: Necker, Mirabeau, La Fayette, Bailly, Pétion, Manuel và biết bao người khác. Ai dám chắc các chú không dành cùng một số phận cho những vị anh hùng mới của mình?… Chẳng ai còn biết nữa.

— Hãy nói tên họ đi, công dân Blaise, hãy nói tên những vị anh hùng mà chúng tôi đang chuẩn bị đem hiến tế! Gamelin nói bằng một giọng khiến nhà buôn tranh khắc phải trở lại dè chừng.

— Tôi là người cộng hòa và yêu nước, ông ta đáp, tay đặt lên ngực. Tôi cũng cộng hòa như anh, cũng yêu nước như anh, công dân Évariste Gamelin. Tôi không nghi ngờ tinh thần công dân của anh, cũng tuyệt nhiên không buộc anh tội tráo trở. Nhưng anh nên biết rằng tinh thần công dân và lòng tận tụy của tôi đối với việc chung đã được chứng thực bằng nhiều hành động. Nguyên tắc của tôi là thế này: tôi đặt lòng tin vào mọi cá nhân có khả năng phụng sự quốc gia. Trước những người được tiếng nói của nhân dân chỉ định nhận lấy vinh dự đầy hiểm nguy của quyền lập pháp, như Marat, như Robespierre, tôi nghiêng mình kính phục; tôi sẵn sàng giúp họ trong phạm vi khả năng yếu ớt của mình và đem đến cho họ sự cộng tác khiêm nhường của một công dân tốt. Các ủy ban có thể chứng nhận lòng sốt sắng và tận tụy của tôi. Cùng với những người yêu nước chân chính, tôi đã cung cấp yến mạch và cỏ khô cho đội kỵ binh anh dũng của ta, giày dép cho binh sĩ ta. Ngay hôm nay, tôi còn cho chuyển từ Vernon sáu mươi con bò đến đạo quân miền Nam, qua một vùng đầy rẫy thổ phỉ và bị bọn tay sai của Pitt cùng Condé khuấy đảo. Tôi không nói; tôi hành động.

Gamelin bình thản xếp những bức màu nước vào bìa, buộc dây lại rồi kẹp dưới cánh tay.

— Thật là một điều mâu thuẫn kỳ lạ, chàng nghiến răng nói, khi giúp binh sĩ ta mang khắp thế giới nền tự do mà chính mình lại phản bội ngay trong nhà, bằng cách gieo rắc hoang mang và lo ngại vào lòng những người bảo vệ nó… Chào công dân Blaise.

Trước khi rẽ vào con ngõ chạy dọc theo Oratoire, Gamelin, lòng trĩu nặng yêu thương và giận dữ, ngoảnh lại nhìn những đóa cẩm chướng đỏ nở trên bậu cửa sổ.

Chàng không tuyệt vọng về sự cứu nguy của tổ quốc. Trước những lời lẽ phản cách mạng của Jean Blaise, chàng đem niềm tin cách mạng của mình ra đối chọi. Tuy nhiên, chàng vẫn phải thừa nhận rằng nhà buôn kia không phải hoàn toàn vô lý khi cho rằng từ nay dân Paris đã thờ ơ với thời cuộc. Than ôi! Có một điều quá đỗi chắc chắn: lòng nhiệt thành thuở ban đầu đã nhường chỗ cho sự lãnh đạm chung; người ta sẽ không còn thấy lại những đám đông lớn đồng tâm nhất trí của năm Tám mươi chín, không còn thấy lại hàng triệu tâm hồn hòa điệu chen chúc quanh bàn thờ Liên bang năm Chín mươi. Thì đã sao! Những công dân tốt sẽ càng tăng thêm lòng sốt sắng và sự táo bạo, sẽ đánh thức nhân dân đang ngủ mê bằng cách buộc họ chọn lấy tự do hoặc cái chết.

Gamelin nghĩ như vậy, và hình bóng Élodie nâng đỡ lòng can đảm của chàng.

Ra đến bến sông, chàng thấy mặt trời hạ xuống chân trời dưới những khối mây nặng nề tựa các ngọn núi dung nham rực cháy; những mái nhà trong thành phố ngập trong ánh vàng; các ô kính cửa sổ lóe lên như chớp. Và Gamelin hình dung những Titan đang dùng tàn tích rực lửa của các thế giới cũ để rèn nên Dicé, thành trì bằng đồng.

Không có lấy một mẩu bánh mì cho mẹ cũng như cho mình, chàng mơ được ngồi vào chiếc bàn không đầu mút sẽ mời cả vũ trụ dự tiệc, nơi nhân loại đã được tái sinh sẽ vào ngồi. Trong khi chờ đợi, chàng tự thuyết phục rằng tổ quốc, như một người mẹ hiền, sẽ nuôi nấng đứa con trung thành. Gồng mình chống lại sự khinh miệt của nhà buôn tranh khắc, chàng cố khơi dậy trong lòng niềm tin rằng ý tưởng về một bộ bài cách mạng của mình vừa mới mẻ vừa hay, và với những bức màu nước vẽ rất đạt ấy, chàng đang kẹp cả một gia tài dưới cánh tay. “Desmahis sẽ khắc chúng, chàng nghĩ. Chúng ta sẽ tự xuất bản bộ bài yêu nước mới, và chắc chắn trong một tháng sẽ bán được mười nghìn bộ, mỗi bộ hai mươi sol.”

Nóng lòng thực hiện dự định ấy, chàng rảo bước về phía quai de la Ferraille, nơi Desmahis trọ trên cửa hiệu của người thợ kính.

Muốn vào nhà phải đi qua cửa hiệu. Bà thợ kính báo cho Gamelin biết công dân Desmahis không có nhà; điều ấy chẳng thể khiến người họa sĩ ngạc nhiên bao nhiêu, bởi chàng biết bạn mình tính tình phiêu lãng, phóng túng, và vẫn lấy làm lạ rằng với sự chuyên cần ít ỏi đến thế, anh ta lại có thể khắc được nhiều và đẹp đến vậy. Gamelin quyết định chờ một lát. Vợ người thợ kính mời chàng ngồi. Bà ta có vẻ ủ ê và than phiền công việc làm ăn sa sút, mặc dù người ta vẫn nói Cách mạng đập vỡ cửa kính nên đã làm giàu cho thợ kính.

Trời sập tối; từ bỏ ý định chờ bạn, Gamelin cáo biệt bà thợ kính. Khi đi qua Pont-Neuf, chàng thấy từ quai des Morfondus tiến ra một đội vệ binh quốc gia cưỡi ngựa, vừa xua người qua đường dạt sang hai bên, vừa cầm đuốc, gươm va loảng xoảng, hộ tống một chiếc xe bò chậm chạp kéo đến máy chém một người không ai biết tên, một kẻ thuộc chế độ cũ, người đầu tiên bị tòa án cách mạng mới kết án. Qua những chiếc mũ của vệ binh, người ta chỉ trông thấy ông ta lờ mờ, ngồi với hai tay trói quặt sau lưng, đầu trần lắc lư, mặt ngoảnh về phía đuôi xe. Đao phủ đứng bên cạnh, tựa vào thành xe. Những người qua đường dừng lại, bảo nhau rằng đó hẳn là một kẻ làm cho dân chúng chết đói nào đó, rồi thản nhiên nhìn. Gamelin tiến lại gần và nhận ra Desmahis giữa đám người xem; anh ta đang cố len qua đám đông để băng ngang đoàn áp giải. Chàng gọi và đặt tay lên vai anh; Desmahis ngoảnh đầu lại. Đó là một thanh niên đẹp trai, cường tráng. Trước kia, ở học viện, người ta vẫn nói anh mang cái đầu của Bacchus trên thân thể Hercules. Bạn bè gọi anh là “Barbaroux”, vì anh giống vị đại biểu nhân dân ấy.

— Đi với tôi, Gamelin bảo, tôi có một việc quan trọng cần nói với anh.

— Buông tôi ra! Desmahis đáp gắt.

Rồi anh ta lẩm bẩm mấy tiếng không rõ, mắt rình thời cơ phóng đi:

— Tôi đang đi theo một người đàn bà đẹp như thần, đội mũ rơm, một cô thợ làm đồ thời trang, tóc vàng xõa xuống lưng; cái xe khốn kiếp này đã ngăn cách tôi với nàng… Nàng đã đi qua phía trước, giờ hẳn tới đầu cầu bên kia rồi!

Gamelin cố nắm áo giữ anh lại, thề rằng việc này rất quan trọng.

Nhưng Desmahis đã luồn qua giữa ngựa, vệ binh, gươm và đuốc, tiếp tục đuổi theo cô thợ làm đồ thời trang.