Thần linh khát máu — Chương 4
Chương 4 / 29 · Bài review Thần linh khát máu
Lúc ấy là mười giờ sáng; nắng tháng tư chan hòa trên những tán lá non. Sau cơn giông đêm, không khí nhẹ nhõm, dịu dàng tuyệt diệu. Cách những quãng dài, một kỵ sĩ đi qua lối dạo Veuves, phá tan sự im lặng của chốn vắng vẻ. Bên lối đi rợp bóng, sát túp lều Nàng Đẹp Lille, Évariste ngồi trên một ghế gỗ đợi Élodie. Từ ngày những ngón tay họ chạm nhau trên tấm voan mịn của chiếc khăn choàng, hơi thở họ hòa quyện, chàng không trở lại cửa hiệu Thần Ái tình họa sĩ nữa. Suốt một tuần, tính khắc kỷ kiêu hãnh và sự nhút nhát ngày càng trở nên khó khuất phục đã giữ chàng xa Élodie. Chàng viết cho nàng một lá thư nghiêm nghị, u tối, nồng cháy, trong đó chàng kể những điều trách cứ công dân Blaise, nhưng giấu kín tình yêu, che đậy nỗi đau, tuyên bố quyết ý không trở lại cửa hàng tranh khắc, và tỏ ra kiên quyết với ý định ấy hơn mức một người tình có thể tán thành.
Vốn có tính khí trái ngược, Élodie, bao giờ cũng sẵn lòng bảo vệ cái thuộc về mình, lập tức nghĩ cách giành lại người bạn. Thoạt đầu, nàng định đến gặp chàng tại nhà, trong xưởng vẽ ở quảng trường Thionville. Nhưng biết chàng có tính u sầu, qua lá thư đoán rằng lòng chàng đang phẫn uất, lại sợ chàng gộp cả cha lẫn con gái vào cùng một mối oán hờn và cố tình không gặp nàng nữa, nàng cho rằng tốt hơn hết là hẹn chàng một cuộc gặp đượm tình và lãng mạn mà chàng không thể lẩn tránh, nơi nàng có đủ thì giờ để thuyết phục và làm vui lòng chàng, nơi cảnh cô tịch sẽ đồng lõa với nàng để mê hoặc và khuất phục chàng.
Thời ấy, trong mọi khu vườn kiểu Anh và trên mọi lối dạo thời thượng đều có những túp lều do các kiến trúc sư uyên bác dựng nên để chiều theo thị hiếu thôn dã của dân thành thị. Túp lều Nàng Đẹp Lille, do một người bán nước giải khát thuê, tựa vẻ nghèo khó giả tạo của nó vào những phế tích được mô phỏng khéo léo theo một ngọn tháp cổ, nhằm kết hợp vẻ duyên dáng đồng quê với nỗi u hoài của cảnh hoang tàn. Và dường như một túp lều cùng một ngọn tháp đổ vẫn chưa đủ làm rung động những tâm hồn đa cảm, người bán nước còn dựng dưới một cây liễu một ngôi mộ: một cây cột đội chiếc bình tro, mang dòng chữ: “Cléonice gửi Azor thủy chung của nàng.” Lều tranh, phế tích, mồ mả: trước ngày diệt vong, giới quý tộc đã dựng trong những khu vườn cha truyền con nối các biểu tượng của nghèo khó, tiêu vong và cái chết ấy. Còn giờ đây, những thị dân yêu nước lại thích uống, nhảy múa và yêu đương trong những túp lều giả, dưới bóng những tu viện giả vờ đổ nát và giữa những ngôi mộ giả; bởi cả hai hạng người đều yêu thiên nhiên, đều là môn đồ của Jean-Jacques, và đều có những trái tim đa cảm, đầy tinh thần triết lý.
Đến chỗ hẹn trước giờ đã định, Évariste ngồi chờ và đo thời gian bằng nhịp tim mình như bằng quả lắc đồng hồ. Một đội tuần tra đi qua, áp giải mấy tù nhân. Mười phút sau, một phụ nữ mặc toàn màu hồng, tay cầm bó hoa theo đúng tục lệ, cùng một kỵ sĩ đội mũ ba sừng, mặc áo đỏ, áo gi-lê và quần ống túm sọc, lẻn vào túp lều. Cả hai giống những khách phong lưu thời cựu chế đến nỗi người ta buộc phải tin, cùng với công dân Blaise, rằng ở con người có những bản tính mà các cuộc cách mạng không sao thay đổi nổi.
Một lát sau, từ Rueil hoặc Saint-Cloud tới, một bà già đeo ở cánh tay chiếc hộp hình trụ sơn màu sặc sỡ, đến ngồi trên chiếc ghế nơi Gamelin đang chờ. Bà đặt chiếc hộp trước mặt; trên nắp có một cây kim dùng để rút thăm. Bởi người đàn bà khốn khổ ấy đem trò may rủi đến cho trẻ nhỏ trong các khu vườn. Bà là người bán thứ bánh gọi là “vui thú”, đem một cái tên mới đặt cho một món bánh cổ xưa; bởi hoặc cái tên lâu đời “bánh lễ” gợi lên ý niệm khó chịu về lễ vật và tô thuế, hoặc người ta đã tùy hứng chán cái tên ấy, nên bấy giờ “bánh lễ” được gọi là “bánh vui thú”.
Bà già lấy một góc tạp dề lau mồ hôi trên trán rồi than vãn với trời xanh, trách Thượng đế bất công vì bắt các tạo vật của Người phải sống một đời cơ cực. Chồng bà trông coi một quán rượu nhỏ bên bờ sông ở Saint-Cloud, còn ngày nào bà cũng lên Champs-Élysées, lắc chiếc mõ và rao: “Bánh vui thú đây, thưa các bà!” Vậy mà bằng ngần ấy công việc, hai người vẫn không kiếm đủ để sống qua tuổi già.
Thấy chàng trai trên ghế có vẻ sẵn lòng thương cảm, bà kể lể dông dài nguyên do mọi nỗi khổ của mình. Chính nền cộng hòa, trong khi tước đoạt người giàu, đã giật miếng bánh khỏi miệng người nghèo. Và chẳng thể hy vọng tình hình sẽ khá hơn. Trái lại, qua nhiều điềm báo, bà biết mọi sự chỉ có thể ngày một tệ đi. Ở Nanterre, một người đàn bà đã sinh ra đứa trẻ mang đầu rắn lục; sét đánh xuống nhà thờ Rueil, làm chảy tan cây thánh giá trên tháp chuông; người ta đã trông thấy một con ma sói trong rừng Chaville. Những kẻ che mặt đang đầu độc các nguồn nước và tung vào không khí những thứ bột gây bệnh…
Évariste trông thấy Élodie bước xuống xe. Chàng chạy đến với nàng. Đôi mắt người thiếu phụ sáng long lanh dưới bóng trong mờ của chiếc mũ rơm; đôi môi đỏ như những đóa cẩm chướng nàng cầm trong tay đang mỉm cười. Một chiếc khăn lụa đen vắt chéo trước ngực, thắt nút sau lưng. Chiếc váy vàng để lộ những chuyển động nhanh nhẹn của đầu gối và đôi chân mang giày đế thấp. Đường hông gần như hoàn toàn phô ra, bởi Cách mạng đã giải phóng vòng eo của các nữ công dân; tuy nhiên, tà váy vẫn còn phồng phía dưới thắt lưng, che giấu hình thể bằng cách phóng đại nó và phủ lên thực tại một hình ảnh khuếch trương.
Chàng muốn nói nhưng không tìm được lời, rồi tự trách mình vì vẻ lúng túng ấy, trong khi Élodie lại thích nó hơn cả một lời đón tiếp ngọt ngào nhất. Nàng cũng để ý và coi là điềm tốt việc chàng thắt cà vạt cầu kỳ hơn thường lệ. Nàng đưa tay cho chàng.
— Tôi muốn gặp anh, nàng nói, muốn trò chuyện với anh. Tôi không trả lời thư anh vì nó khiến tôi phật ý; tôi không nhận ra anh trong đó. Lá thư ấy hẳn sẽ đáng mến hơn nếu tự nhiên hơn. Sẽ là bất công với tính cách và trí tuệ của anh nếu tin rằng anh không muốn trở lại Thần Ái tình họa sĩ chỉ vì ở đó anh đã có một cuộc tranh cãi nhẹ về chính trị với một người lớn tuổi hơn anh nhiều. Anh cứ tin rằng khi trở lại nhà tôi, anh hoàn toàn không phải lo cha tôi sẽ tiếp đón anh lạnh nhạt. Anh chưa hiểu ông đâu: ông không nhớ mình đã nói gì với anh, cũng chẳng nhớ anh đã đáp lại thế nào. Tôi không dám quả quyết giữa hai người có mối thiện cảm lớn lao; nhưng ông không để bụng. Tôi nói thẳng với anh, ông chẳng bận tâm đến anh bao nhiêu… mà đến tôi cũng vậy. Ông chỉ nghĩ tới công việc và những thú vui của mình.
Nàng đi về phía những lùm cây quanh túp lều; chàng theo sau với đôi chút miễn cưỡng, vì biết nơi ấy là chỗ hẹn hò của những cuộc tình mua bán và những âu yếm chóng tàn. Nàng chọn chiếc bàn kín đáo nhất.
— Tôi có biết bao điều muốn nói với anh, Évariste! Tình bạn có những quyền của nó: anh cho phép tôi sử dụng những quyền ấy chứ? Tôi sẽ nói nhiều về anh… và một chút về tôi, nếu anh bằng lòng.
Người bán nước mang đến một bình nước và mấy chiếc cốc; nàng tự tay rót mời chàng như một người nội trợ đảm đang. Rồi nàng kể về tuổi thơ, nói đến vẻ đẹp của mẹ mình, điều nàng thích ca tụng vì lòng hiếu thảo và cũng như nguồn gốc sắc đẹp của chính nàng; nàng tán dương sức khỏe cường tráng của ông bà, bởi nàng tự hào về dòng máu tư sản. Nàng kể rằng sau khi mất người mẹ đáng yêu ấy vào năm mười sáu tuổi, nàng đã sống không tình âu yếm, không nơi nương tựa. Nàng tự họa mình đúng như bản tính: sôi nổi, nhạy cảm, can đảm; rồi nói thêm:
— Évariste, tuổi trẻ của tôi quá u sầu và cô độc, nên tôi không thể không biết quý trọng một trái tim như trái tim anh; và tôi báo trước với anh rằng tôi sẽ không tự nguyện từ bỏ, mà không cố sức giữ lấy, một mối đồng cảm tôi từng nghĩ mình có thể tin cậy và vốn rất quý giá đối với tôi.
Évariste âu yếm nhìn nàng:
— Có thể nào, Élodie, tôi lại không hoàn toàn xa lạ với lòng em? Tôi có thể tin rằng?…
Chàng dừng lại, sợ nói quá nhiều và như thế sẽ lợi dụng một tình bạn đầy tin cậy.
Nàng đưa cho chàng bàn tay nhỏ nhắn, đoan chính, nhô ra một nửa khỏi ống tay áo dài bó sát viền đăng ten. Ngực nàng phập phồng theo những tiếng thở dài.
— Évariste, anh cứ gán cho tôi mọi tình cảm mà anh muốn tôi dành cho anh, và anh sẽ không lầm về những gì trái tim tôi hướng tới.
— Élodie, Élodie, những lời em vừa nói, em có còn nhắc lại khi biết rằng…
Chàng ngập ngừng.
Nàng cụp mắt.
Chàng hạ giọng nói nốt:
— … rằng tôi yêu em không?
Nghe những lời cuối ấy, nàng đỏ mặt vì sung sướng. Và trong khi đôi mắt nàng bất giác biểu lộ một niềm hoan lạc dịu dàng, một nụ cười khôi hài lại nhếch một bên khóe môi. Nàng nghĩ:
“Chàng tưởng mình là người ngỏ lời trước kia đấy!… Có lẽ chàng còn sợ làm ta giận nữa!…”
Rồi nàng dịu dàng nói với chàng:
— Thế anh không nhận ra rằng em yêu anh sao, bạn yêu dấu?
Họ tưởng trên đời chỉ còn có hai người. Trong cơn ngây ngất, Évariste ngước mắt lên vòm trời lấp lánh ánh sáng và sắc xanh:
— Em nhìn xem: trời cao đang dõi theo chúng ta! Trời đáng tôn thờ và nhân từ như em, người yêu dấu; trời có ánh rạng ngời, vẻ dịu dàng và nụ cười của em.
Chàng cảm thấy mình hòa làm một với toàn thể thiên nhiên, lôi cuốn thiên nhiên cùng chung niềm vui và vinh quang của mình. Trước mắt chàng, để mừng lễ đính ước, những chùm hoa dẻ ngựa rực lên như những chân đèn, những ngọn đuốc khổng lồ của hàng dương bừng cháy.
Chàng hân hoan vì sức mạnh và tầm vóc của mình. Còn nàng, dịu dàng hơn, cũng tinh tế hơn, mềm mại và dễ uốn hơn, giành lấy ưu thế của sự yếu đuối; vừa chinh phục được chàng, nàng liền phục tùng chàng. Giờ đây, sau khi đã đặt chàng dưới quyền chi phối của mình, nàng thừa nhận nơi chàng người chủ, người anh hùng, vị thần; nàng khao khát được vâng lời, được ngưỡng mộ và hiến dâng. Dưới bóng lùm cây, chàng trao nàng một nụ hôn dài, nồng cháy khiến nàng ngửa đầu ra sau; và trong vòng tay Évariste, nàng cảm thấy toàn thân mình tan chảy như sáp.
Họ còn trò chuyện rất lâu về chính mình, quên cả vũ trụ. Évariste phần nhiều diễn đạt những ý tưởng mơ hồ và thanh khiết khiến Élodie ngây ngất. Élodie nói những điều dịu dàng, thiết thực và cụ thể. Rồi khi thấy không thể nán lại lâu hơn nữa, nàng quả quyết đứng lên, trao cho người yêu ba đóa cẩm chướng đỏ đã nở bên cửa sổ mình, và nhẹ nhàng bước lên chiếc xe mui trần đã đưa nàng tới. Đó là một cỗ xe thuê sơn vàng, bánh rất cao, bản thân nó cũng như người đánh xe quả thật chẳng có gì khác thường. Nhưng Gamelin không đi xe thuê, và những người quanh chàng cũng hiếm khi dùng đến. Trông thấy nàng ở trên đôi bánh xe lớn lao nhanh ấy, tim chàng thắt lại và một linh cảm đau đớn ập đến: trong một thứ ảo giác hoàn toàn thuộc về tâm trí, chàng tưởng con ngựa thuê đang mang Élodie vượt khỏi những thực tại và thời gian hiện tại, hướng về một thành phố giàu sang, vui vẻ, đến những dinh thự xa hoa và khoái lạc mà chàng sẽ không bao giờ bước chân vào.
Cỗ xe khuất bóng. Nỗi bối rối của Évariste tan đi; nhưng trong chàng vẫn còn một nỗi lo âu âm ỉ, và chàng cảm thấy mình sẽ không bao giờ sống lại những giờ phút âu yếm và quên lãng vừa qua.
Chàng đi qua Champs-Élysées, nơi những phụ nữ mặc váy sáng màu ngồi trên ghế gỗ khâu vá hoặc thêu thùa, trong khi con cái họ chơi dưới hàng cây. Một người bán bánh vui thú, mang chiếc thùng hình cái trống, khiến chàng nhớ tới bà bán bánh trên lối dạo Veuves, và chàng có cảm tưởng giữa hai lần gặp ấy, cả một thời đại của đời mình đã trôi qua. Chàng băng qua quảng trường Cách mạng. Trong vườn Tuileries, chàng nghe từ xa dội tới tiếng gầm mênh mông của những ngày trọng đại, những tiếng nói đồng thanh mà kẻ thù của Cách mạng quả quyết đã câm bặt vĩnh viễn. Chàng rảo bước giữa tiếng hò reo mỗi lúc một lớn, đến phố Honoré và thấy con phố phủ kín một đám đông đàn ông, đàn bà đang hô: “Nền Cộng hòa muôn năm! Tự do muôn năm!” Trên những bức tường vườn, các cửa sổ, ban công và mái nhà đầy những người xem vẫy mũ, vẫy khăn. Đi đầu là một người lính công binh mở đường cho đoàn rước; giữa vòng vây của viên chức đô thị, vệ binh quốc gia, pháo thủ, hiến binh và kỵ binh nhẹ, một người đàn ông nước da vàng bủng đang chậm rãi tiến đi trên đầu các công dân, trán đội vòng lá sồi, thân bọc trong chiếc áo dài xanh lục cũ có cổ viền lông chồn trắng. Phụ nữ ném hoa về phía ông. Ông đưa ánh mắt sắc nhọn từ đôi mắt vàng nhìn khắp chung quanh, như thể giữa đám đông cuồng nhiệt ấy vẫn còn tìm những kẻ thù của nhân dân để tố giác, những tên phản bội để trừng trị. Khi ông đi ngang qua, Gamelin để đầu trần, hòa tiếng mình vào trăm nghìn tiếng hô lớn:
— Marat muôn năm!
Người chiến thắng tiến vào phòng họp Quốc ước như Định mệnh. Trong khi đám đông chậm rãi tản đi, Gamelin ngồi trên một trụ đá ở phố Honoré, lấy tay ghìm nhịp tim mình. Cảnh tượng vừa chứng kiến khiến chàng tràn ngập một niềm xúc động cao cả và lòng nhiệt thành cháy bỏng.
Chàng tôn kính, yêu quý Marat, người dù đau ốm, huyết quản bừng lửa, thân thể bị những vết loét gặm nhấm, vẫn dốc nốt chút sức tàn phục vụ nền Cộng hòa; người trong căn nhà nghèo luôn rộng cửa đón mọi người, đã dang tay tiếp chàng, nhiệt thành nói với chàng về lợi ích chung, đôi khi hỏi chàng về những mưu đồ của bọn ác nhân. Chàng khâm phục việc kẻ thù của người công chính, trong khi âm mưu hủy diệt ông, lại chuẩn bị cho cuộc khải hoàn của ông; chàng chúc tụng Tòa án Cách mạng vì khi tuyên trắng án cho người Bạn của Nhân dân, tòa đã trả lại cho Quốc ước nhà lập pháp nhiệt thành và thuần khiết nhất. Trước mắt chàng lại hiện ra cái đầu nung đốt bởi cơn sốt, đội vòng hoa công dân; gương mặt mang dấu ấn của niềm kiêu hãnh đức hạnh và tình yêu không chút xót thương; khuôn mặt tàn tạ, rã rời mà đầy uy lực; cái miệng co quắp; lồng ngực rộng; con người hấp hối mà cường tráng ấy, từ trên cỗ xe sống của cuộc khải hoàn, dường như đang nói với đồng bào: “Hãy noi gương tôi, yêu nước cho đến chết.”
Phố xá đã vắng tanh, màn đêm phủ bóng lên tất cả; người thắp đèn đi qua với chiếc đèn xách, còn Gamelin thì thầm:
— Cho đến chết!…