Thần linh khát máu — Chương 6
Chương 6 / 29 · Bài review Thần linh khát máu
Mười giờ sáng. Không một hơi gió; ấy là tháng Bảy nóng nhất mà người ta từng biết. Trong phố Jérusalem chật hẹp, chừng một trăm công dân thuộc khu bộ xếp hàng trước cửa hiệu bánh mì, dưới sự giám sát của bốn vệ binh quốc gia đang buông súng nghỉ và hút tẩu.
Quốc ước đã ban hành mức giá tối đa: lập tức ngũ cốc và bột mì biến mất. Như dân Israel trong sa mạc, người Paris phải thức dậy từ trước rạng đông nếu muốn có cái ăn. Tất cả những người ấy, đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ, chen chúc sát vào nhau dưới một bầu trời như chì nung, hun nóng những thứ thối rữa dưới rãnh và làm nồng thêm mùi mồ hôi, cáu bẩn, cứ xô đẩy, gọi nhau, nhìn nhau bằng đủ mọi tình cảm mà con người có thể dành cho đồng loại: ác cảm, ghê tởm, chú ý, ham muốn, thờ ơ. Kinh nghiệm đau đớn đã dạy họ rằng bánh mì không đủ cho tất cả mọi người; bởi vậy, những kẻ đến sau tìm cách lách lên trước; ai bị mất chỗ thì kêu ca, nổi giận và uổng công viện đến quyền lợi bị chà đạp của mình. Đàn bà hùng hổ dùng khuỷu tay và hông để giữ chỗ hoặc giành một chỗ khá hơn. Khi đám đông ép chặt đến nghẹt thở, những tiếng kêu lại nổi lên: “Đừng đẩy!” Và ai nấy đều thanh minh rằng chính mình mới là người bị đẩy.
Để tránh những cảnh hỗn loạn hằng ngày ấy, các ủy viên do khu bộ cử ra đã nghĩ cách buộc một sợi dây vào cửa hiệu bánh mì, để mỗi người nắm lấy theo đúng thứ tự của mình; nhưng những bàn tay quá gần nhau gặp nhau trên sợi dây rồi tranh giành. Ai đã buông ra thì không sao nắm lại được. Những kẻ bất mãn hoặc thích đùa lại cắt dây, nên cuối cùng người ta đành bỏ cách ấy.
Trong hàng người ấy, người ta ngạt thở, tưởng mình sắp chết, rồi lại pha trò, buông lời tục tĩu, chửi rủa bọn quý tộc và phần tử liên bang, thủ phạm của mọi tai họa. Hễ có con chó nào đi qua, những kẻ tinh nghịch liền gọi nó là Pitt. Đôi khi vang lên một cái tát nảy lửa do bàn tay một nữ công dân giáng vào má một tên hỗn xược, trong khi một cô hầu trẻ bị người bên cạnh ép sát, mắt lim dim, miệng hé mở, khe khẽ thở dài. Trước bất cứ lời nói, cử chỉ hay dáng điệu nào có thể khơi dậy tính ưa tục tĩu của người Pháp khả ái, một bọn trai trẻ phóng đãng lại đồng thanh hát bài Ça ira, bất chấp lời phản đối của một đảng viên Jacobin già, phẫn nộ vì người ta đem những lối ám chỉ nhơ bẩn làm ô uế một điệp khúc biểu lộ niềm tin cộng hòa vào tương lai công lý và hạnh phúc.
Một người dán cáo thị, kẹp thang dưới nách, đến dán lên bức tường đối diện hiệu bánh mì một thông cáo của Công xã Paris về việc phân phối thịt theo khẩu phần. Người qua đường dừng lại đọc tờ giấy còn nhầy nhụa hồ. Một mụ bán bắp cải, cõng sọt trên lưng đi ngang qua, cất giọng ồm ồm khản đặc:
— Bò ngon đi hết cả rồi! Ta đành cạo ruột mình mà ăn vậy.
Bỗng một luồng xú khí nóng hầm hập từ cống bốc lên, khiến nhiều người buồn nôn; một phụ nữ ngất xỉu, được chuyền tay tới hai vệ binh quốc gia, rồi họ khiêng bà ra một máy bơm nước cách đó vài bước. Mọi người bịt mũi; tiếng xôn xao gầm gừ nổi lên; những lời đầy lo âu, kinh hãi chuyền từ miệng nọ sang miệng kia. Người ta tự hỏi đó là con vật nào bị chôn ở đấy, hay thuốc độc do kẻ gian ác bỏ xuống, hoặc rất có thể là một nạn nhân trong những cuộc tàn sát tháng Chín, một nhà quý tộc hay một linh mục, bị bỏ quên dưới hầm nhà nào gần đó.
— Ở đây cũng có người bị vứt xuống à?
— Chỗ nào mà chẳng có!
— Chắc là một trong những người ở Châtelet. Hôm mồng Hai, tôi đã thấy ba trăm xác chất đống trên Pont au Change.
Dân Paris sợ sự báo thù của những kẻ thuộc chế độ cũ, chết rồi mà vẫn đầu độc họ.
Évariste Gamelin đến xếp hàng: anh muốn tránh cho người mẹ già nỗi nhọc nhằn phải đứng đợi lâu. Người hàng xóm của anh, công dân Brotteaux, đi cùng, vẻ điềm tĩnh, tươi cười, cuốn Lucrèce nằm trong chiếc túi há miệng của cái áo đuôi tôm màu nâu bọ chét.
Ông già hiền hậu ca ngợi cảnh tượng ấy như một bức tranh sinh hoạt dân gian xứng đáng với ngọn bút của một Téniers thời hiện đại.
— Những phu khuân vác và mấy mụ đàn bà này, ông nói, thú vị hơn người Hy Lạp và La Mã mà các họa sĩ ngày nay mê chuộng. Riêng tôi, tôi vẫn thích phong cách Flanders.
Điều ông không nhắc lại, vì khôn ngoan và biết giữ ý, là thuở trước ông từng sở hữu một phòng tranh Hà Lan mà chỉ bộ sưu tập của ông De Choiseul mới sánh nổi về số lượng và sự tuyển chọn tác phẩm.
— Chỉ nghệ thuật cổ đại và những gì bắt nguồn từ nó mới đẹp, chàng họa sĩ đáp; nhưng tôi công nhận rằng những cảnh sinh hoạt của Téniers, Steen hay Ostade còn hơn các thứ diêm dúa của Watteau, Boucher hay Van Loo: ở đó con người bị làm cho xấu xí, nhưng không bị hạ thấp như dưới ngọn bút của một Baudouin hay một Fragonard.
Một người rao báo đi qua, cất tiếng:
— Bản tin Tòa án Cách mạng đây!… Danh sách những người bị kết án đây!
— Một Tòa án Cách mạng là chưa đủ, Gamelin nói. Phải có một tòa tại mỗi thành phố… Tôi nói gì thế? Tại mỗi xã, mỗi tổng. Tất cả những người chủ gia đình, tất cả công dân đều phải tự mình đứng lên làm quan tòa. Khi dân tộc đang ở dưới họng đại bác của quân thù và mũi dao của bọn phản bội, khoan dung chính là giết mẹ. Sao! Lyon, Marseille, Bordeaux nổi dậy, Corse làm loạn, Vendée bốc cháy, Mayence và Valenciennes rơi vào tay liên quân, phản bội khắp thôn quê, thành thị, doanh trại, phản bội ngồi trên ghế Quốc ước, phản bội cầm bản đồ trong tay, ngồi giữa hội đồng quân sự của các tướng lĩnh chúng ta!… Hãy để máy chém cứu lấy tổ quốc!
— Tôi không có điều gì căn bản để phản đối máy chém, Brotteaux già đáp. Tự nhiên, người thầy duy nhất và người giáo dưỡng duy nhất của tôi, quả thực không hề báo cho tôi biết rằng mạng sống một con người có chút giá trị nào; trái lại, bằng đủ mọi cách, tự nhiên dạy rằng nó hoàn toàn vô giá trị. Mục đích duy nhất của mọi sinh vật dường như là trở thành mồi ăn cho những sinh vật khác, mà chính chúng cũng dành cho cùng một kết cục. Giết chóc là một quyền tự nhiên: vì vậy án tử hình là chính đáng, với điều kiện người ta không thi hành nó nhân danh đức hạnh hay công lý, mà vì nhu cầu hoặc để thu lấy một lợi ích nào đó. Tuy nhiên, hẳn tôi có những bản năng hư hỏng, bởi tôi ghê sợ cảnh máu chảy; đó là một thói đồi bại mà toàn bộ triết học của tôi đến nay vẫn chưa sửa chữa nổi.
— Những người cộng hòa, Évariste nói tiếp, đều nhân đạo và giàu lòng trắc ẩn. Chỉ có bọn chuyên chế mới chủ trương rằng án tử hình là một thuộc tính tất yếu của quyền lực. Một ngày kia, nhân dân có chủ quyền sẽ bãi bỏ nó. Robespierre đã chống lại nó, và cùng với ông là tất cả những người yêu nước; đạo luật xóa bỏ án tử hình ban hành sớm ngày nào hay ngày ấy. Nhưng đạo luật ấy chỉ nên được áp dụng sau khi kẻ thù cuối cùng của nền Cộng hòa đã bỏ mạng dưới lưỡi gươm pháp luật.
Lúc này, sau lưng Gamelin và Brotteaux đã có thêm những người đến muộn, trong số đó là mấy phụ nữ thuộc khu bộ; đáng chú ý có một người đàn bà đan len cao lớn, xinh đẹp, đội khăn trùm nhỏ, đi guốc gỗ, đeo thanh kiếm chéo vai; một cô gái tóc vàng xinh xắn, đầu tóc rối bù, chiếc khăn cổ nhàu nhĩ; và một bà mẹ trẻ gầy gò, xanh xao, đang cho một đứa bé quặt quẹo bú.
Đứa bé không còn tìm được giọt sữa nào nên khóc, nhưng tiếng khóc yếu ớt và bị những cơn nức nở chặn nghẹn. Nó nhỏ bé đến thảm thương, nước da tái nhợt, xám xịt, đôi mắt sưng đỏ; người mẹ nhìn con với vẻ chăm chút đau đớn.
— Nó còn bé lắm, Gamelin nói, quay lại nhìn đứa trẻ khốn khổ đang rên rỉ sát sau lưng mình giữa đám người đến sau chen chúc ngột ngạt.
— Cháu được sáu tháng rồi, đứa con tội nghiệp của tôi!… Cha cháu đang ở ngoài mặt trận: anh ấy thuộc đội quân đã đánh lui quân Áo ở Condé. Anh ấy tên Dumonteil (Michel), vốn làm thư ký cho một hiệu buôn vải. Anh ấy đăng lính trên một cái bục người ta dựng trước tòa thị chính. Người bạn đời tội nghiệp của tôi muốn bảo vệ tổ quốc và nhân thể được biết đó biết đây… Anh viết thư bảo tôi hãy kiên nhẫn. Nhưng ông bảo tôi nuôi Paul thế nào đây… (cháu tên là Paul)… khi chính tôi còn không nuôi nổi mình?
— Ôi chao! cô gái tóc vàng xinh xắn kêu lên, chúng ta còn phải đứng đây một giờ nữa, rồi tối nay lại phải làm đúng nghi thức này trước cửa hiệu tạp hóa. Muốn có ba quả trứng và một phần tư livre bơ cũng phải liều mạng.
— Bơ ư, nữ công dân Dumonteil thở dài, đã ba tháng nay tôi chưa trông thấy nó!
Thế rồi cả dàn đồng ca phụ nữ than vãn về sự khan hiếm và đắt đỏ của thực phẩm, nguyền rủa bọn lưu vong và đòi đưa lên máy chém những ủy viên khu bộ đã đổi gà mái béo và bánh mì bốn livre cho những mụ đàn bà trắc nết để lấy những ân huệ nhục nhã. Người ta truyền nhau những câu chuyện đáng sợ về bò bị dìm chết dưới sông Seine, những bao bột mì đổ xuống cống, những ổ bánh mì ném vào hố xí… Chính bọn gây nạn đói bảo hoàng, bọn theo Roland, bọn theo Brissot, đang ráo riết tiêu diệt nhân dân Paris.
Bỗng cô gái tóc vàng với chiếc khăn cổ nhàu nhĩ kêu rú lên như thể váy mình bén lửa; cô giũ váy dữ dội, lộn tung các túi và la rằng túi tiền của mình đã bị đánh cắp.
Nghe tin có vụ trộm ấy, đám dân thường lập tức sôi lên vì phẫn nộ; chính những người từng cướp phá các dinh thự ở ngoại ô Saint-Germain và tràn vào điện Tuileries mà không lấy đi một vật gì, những thợ thủ công và các bà nội trợ sẵn lòng đốt trụi lâu đài Versailles nhưng sẽ tự coi mình ô nhục nếu lấy trộm ở đó một cây kim. Bọn trai trẻ phóng đãng buông vài câu đùa ác ý về tai nạn của cô gái đẹp, nhưng lập tức bị tiếng phẫn nộ chung át mất. Người ta đã bàn đến chuyện treo tên trộm lên cột đèn. Một cuộc điều tra ồn ào và thiên vị bắt đầu. Người đàn bà đan len cao lớn chỉ tay vào một ông già bị ngờ là thầy tu đã hoàn tục, thề rằng chính “lão Capucin” gây ra vụ ấy. Đám đông lập tức tin ngay và gào thét đòi giết.
Ông già vừa bị tố cáo dữ dội trước sự trừng phạt của quần chúng đang đứng hết sức nhún nhường trước công dân Brotteaux. Quả thực, ông mang đủ dáng vẻ của một tu sĩ thuộc chế độ cũ. Vẻ mặt ông khá đáng kính, tuy bị biến đổi bởi nỗi hoảng hốt mà sự hung bạo của đám đông gây ra cho con người khốn khổ ấy và bởi ký ức vẫn còn sống động về những ngày tháng Chín. Nỗi sợ hiện trên gương mặt khiến ông trở thành đáng ngờ trong mắt dân chúng, vốn dễ tin rằng chỉ kẻ có tội mới sợ những phán quyết của họ, như thể sự vội vã thiếu suy xét khi họ đưa ra những phán quyết ấy lại không đủ khiến cả người vô tội nhất cũng phải kinh hoàng.
Brotteaux từng tự đặt cho mình một nguyên tắc là không bao giờ chống lại tình cảm của quần chúng, nhất là khi nó tỏ ra phi lý và hung dữ, “bởi khi ấy, ông nói, tiếng dân chính là tiếng Chúa”. Nhưng Brotteaux vốn không nhất quán: ông tuyên bố rằng người này, dù có phải tu sĩ Capucin hay không, cũng không thể lấy trộm của nữ công dân kia, vì ông ta chưa hề đến gần cô một giây phút nào.
Đám đông kết luận rằng kẻ bênh vực tên trộm chính là đồng phạm của hắn, và lúc này người ta đã bàn đến việc nghiêm trị cả hai tên gian; đến khi Gamelin đứng ra bảo chứng cho Brotteaux, những người sáng suốt nhất cũng đề nghị giải cả anh cùng hai người kia về khu bộ.
Nhưng cô gái xinh đẹp bỗng vui mừng kêu lên rằng cô đã tìm thấy túi tiền. Lập tức cô bị tiếng la ó trùm kín và bị dọa sẽ lột váy đánh đòn giữa công chúng như một nữ tu.
— Thưa ông, tu sĩ nói với Brotteaux, tôi cảm ơn ông đã đứng ra bênh vực tôi. Tên tôi chẳng quan trọng gì, nhưng tôi có bổn phận phải nói cho ông biết: tôi tên là Louis de Longuemare. Quả thực tôi là tu sĩ dòng; nhưng không phải tu sĩ Capucin như những phụ nữ kia đã nói. Hoàn toàn không phải: tôi là giáo sĩ dòng Barnabite, một dòng đã dâng hiến cho Giáo hội vô số nhà thần học và thánh nhân. Truy nguyên nguồn gốc của dòng tới thánh Charles Borromée thôi vẫn chưa đủ: phải coi thánh tông đồ Paul là vị sáng lập đích thực, vì dòng mang chữ lồng tên ngài trên huy hiệu. Tôi buộc phải rời tu viện, nay đã trở thành trụ sở Khu bộ Pont-Neuf, và khoác y phục thế tục.
— Thưa cha, Brotteaux nói, vừa xem xét bộ áo quần rách rưới của ông de Longuemare, y phục của cha chứng tỏ khá rõ rằng cha chưa hề chối bỏ bậc tu hành: nhìn cha, người ta sẽ tưởng cha cải cách dòng tu hơn là rời bỏ nó. Vậy mà cha lại tự nguyện phơi mình, dưới dáng vẻ khắc khổ ấy, trước những lời lăng nhục của một đám dân vô đạo.
— Nhưng tôi không thể, tu sĩ đáp, mặc áo xanh như một vũ công được!
— Thưa cha, những điều tôi nói về y phục của cha là để bày tỏ lòng kính trọng đối với phẩm cách của cha và cảnh báo cha về những hiểm nguy đang đe dọa.
— Thưa ông, trái lại, ông nên khuyến khích tôi tuyên xưng đức tin mới phải. Bởi tôi vốn đã quá dễ sợ nguy hiểm. Tôi đã cởi bỏ tu phục, thưa ông, mà đó cũng là một cách phản đạo; ít ra tôi những muốn không phải rời ngôi nhà nơi suốt bao năm Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng của một đời sống bình yên và ẩn dật. Tôi được phép ở lại đó và giữ căn phòng tu của mình, trong khi người ta biến nhà thờ cùng hành lang tu viện thành một thứ tòa thị chính nhỏ mà họ gọi là khu bộ. Tôi đã thấy, thưa ông, chính mắt tôi đã thấy người ta lấy búa đập bỏ những biểu tượng của chân lý thiêng liêng; tôi đã thấy tên thánh tông đồ Paul bị thay bằng một chiếc mũ khổ sai. Đôi khi tôi còn dự những cuộc hội họp kín của khu bộ và nghe người ta phát biểu những điều sai lầm đáng kinh ngạc. Cuối cùng tôi rời khỏi nơi ở đã bị xúc phạm ấy, đến sống bằng khoản trợ cấp một trăm pistole mà Quốc hội cấp cho tôi, trong một chuồng ngựa có đàn ngựa đã bị trưng dụng để phục vụ quân đội. Tại đó, tôi hành lễ trước một số tín hữu; họ đến để làm chứng cho sự trường tồn của Giáo hội Đức Jesus-Christ.
— Còn tôi, thưa cha, người kia đáp, nếu cha muốn biết, tôi tên là Brotteaux và thuở trước từng làm nghề thầu thuế.
— Thưa ông, cha Longuemare đáp, qua tấm gương của thánh Matthieu, tôi đã biết rằng người ta có thể mong đợi một lời tốt lành từ một người thu thuế.
— Thưa cha, cha thật quá tử tế.
— Công dân Brotteaux, Gamelin nói, hãy khâm phục dân chúng hiền lành này, những người còn đói công lý hơn đói bánh mì: ai nấy ở đây đều sẵn sàng bỏ chỗ của mình để trừng trị tên trộm. Những người đàn ông, đàn bà nghèo khổ đến thế, phải chịu bao thiếu thốn đến thế, lại có một đức liêm chính nghiêm khắc và không thể dung thứ một hành vi bất lương.
— Phải công nhận, Brotteaux đáp, rằng trong cơn hăm hở treo cổ tên trộm, đám người này hẳn đã cho vị tu sĩ hiền lành kia, người bênh vực ông và cả người bênh vực người bênh vực ông một trận nên thân. Chính lòng tham của họ và tình yêu ích kỷ họ dành cho tài sản mình đã thúc đẩy họ làm thế: tên trộm, khi động đến một người trong bọn họ, là đe dọa tất cả; trừng phạt hắn tức là họ tự bảo vệ mình… Vả lại, phần đông những phu phen và bà nội trợ này có lẽ đều thật thà và biết tôn trọng tài sản của người khác. Những tình cảm ấy đã được cha mẹ nhồi vào họ từ thuở nhỏ bằng những trận đòn mông đủ nặng, khiến đức hạnh nhập vào họ qua đít.
Gamelin không giấu lão Brotteaux rằng những lời lẽ như thế, theo anh, thật không xứng với một nhà triết học.
— Đức hạnh, anh nói, vốn tự nhiên có trong con người: Thượng đế đã đặt mầm mống của nó vào lòng người trần.
Lão Brotteaux là người vô thần và tìm thấy trong thuyết vô thần của mình một nguồn khoái lạc dồi dào.
— Tôi thấy, công dân Gamelin ạ, rằng đối với chuyện dưới đất, anh là người cách mạng, nhưng đối với chuyện trên trời, anh lại là kẻ bảo thủ, thậm chí phản động. Robespierre và Marat cũng chẳng khác gì anh. Và tôi lấy làm lạ rằng người Pháp, không còn chịu đựng một ông vua trần thế, lại cứ khăng khăng giữ lấy một ông vua bất tử, bạo ngược và hung tàn hơn nhiều. Bởi ngục Bastille, thậm chí cả Phòng Hỏa hình, nào có nghĩa gì so với địa ngục? Loài người phỏng theo các bạo chúa của mình mà tạo ra các vị thần; còn các anh, vứt bỏ nguyên bản mà lại giữ lấy bản sao!
— Ôi! Công dân! Gamelin kêu lên, ông không hổ thẹn khi nói những lời ấy sao? Và ông có thể nào đánh đồng những thần linh u ám do ngu dốt và sợ hãi tạo nên với Đấng Sáng tạo thiên nhiên? Niềm tin vào một Thượng đế nhân từ là điều thiết yếu đối với đạo đức. Đấng Tối cao là nguồn cội của mọi đức hạnh, và không tin Thượng đế thì không thể là người cộng hòa. Robespierre hiểu rõ điều ấy, nên đã cho dời khỏi hội trường phái Jacobin bức tượng bán thân của triết gia Helvétius, kẻ có tội đã khiến người Pháp nghiêng về vòng nô lệ bằng cách truyền dạy thuyết vô thần… Ít nhất tôi hy vọng, công dân Brotteaux, rằng khi nền Cộng hòa thiết lập sự thờ phụng Lý trí, ông sẽ không khước từ gia nhập một tôn giáo sáng suốt đến thế.
— Tôi yêu lý trí, nhưng không cuồng tín nó, Brotteaux đáp. Lý trí dẫn đường và soi sáng chúng ta; khi các anh biến nó thành thần linh, nó sẽ làm các anh mù quáng và xui khiến các anh phạm tội ác.
Và Brotteaux tiếp tục luận bàn, chân dầm dưới rãnh nước, cũng như thuở trước lão từng làm trong một chiếc ghế bành thếp vàng của nam tước d’Holbach, những chiếc ghế mà theo cách nói của lão, từng làm nền móng cho triết học tự nhiên:
— Jean-Jacques Rousseau, lão nói, vốn tỏ ra có đôi chút tài năng, nhất là về âm nhạc, là một gã đê tiện cứ quả quyết rằng đạo đức của mình bắt nguồn từ tự nhiên, trong khi thật ra lại rút từ những giáo điều của Calvin. Tự nhiên dạy chúng ta ăn thịt lẫn nhau và nêu gương cho chúng ta về mọi tội ác, mọi thói hư mà trạng thái xã hội sửa chữa hoặc che giấu. Ta phải yêu đức hạnh; nhưng cũng nên biết rằng nó chỉ là một phương kế do con người nghĩ ra để cùng chung sống cho yên ổn. Cái mà chúng ta gọi là đạo đức chẳng qua là một cuộc chống cự tuyệt vọng của đồng loại chúng ta trước trật tự phổ quát, tức sự tranh đấu, chém giết và trò chơi mù quáng của những sức mạnh đối nghịch. Nó tự hủy diệt mình, và càng suy nghĩ, tôi càng tin rằng vũ trụ đã hóa điên. Các nhà thần học và triết học, khi coi Thượng đế là tác giả của tự nhiên và kiến trúc sư của vũ trụ, đã khiến Người hiện ra phi lý và độc ác. Họ bảo Người nhân từ vì họ sợ Người, nhưng buộc phải thú nhận rằng Người hành động một cách tàn khốc. Họ gán cho Người một tâm địa hiểm độc hiếm thấy ngay cả ở con người. Và chính nhờ thế mà họ khiến Người được tôn thờ trên mặt đất. Bởi giống nòi khốn khổ của chúng ta sẽ chẳng thờ phụng những vị thần công minh và nhân ái mà nó không có gì phải sợ; nó cũng chẳng giữ lòng biết ơn vô ích đối với những ân huệ của các vị ấy. Không có luyện ngục và địa ngục, Đức Chúa nhân từ chỉ là một đấng đáng thương.
— Thưa ông, Cha Longuemare nói, xin đừng bàn về tự nhiên: ông không biết nó là gì đâu.
— Quỷ thần ơi, tôi biết rõ chẳng kém gì cha!
— Ông không thể biết được, bởi ông không có tôn giáo, mà chỉ tôn giáo mới dạy cho ta biết tự nhiên là gì, nó tốt lành ở chỗ nào và đã bị làm cho sa đọa ra sao. Vả lại, ông đừng mong tôi đáp lời: để bác bỏ những sai lầm của ông, Thượng đế chẳng ban cho tôi nhiệt tình trong lời nói cũng chẳng ban sức mạnh trí tuệ. Tôi sợ rằng vì sự bất tài của mình, tôi chỉ đem lại cho ông thêm cơ hội phạm thượng và thêm cớ để chai đá; và khi trong lòng tha thiết muốn giúp ông, kết quả duy nhất tôi gặt được từ lòng bác ái thiếu dè dặt của mình sẽ chỉ là…
Lời ấy bị cắt ngang bởi một tiếng reo vang dậy, khởi lên từ đầu đoàn người rồi truyền cho cả hàng dài những kẻ đói ăn biết rằng hiệu bánh đã mở cửa. Người ta bắt đầu nhích tới, nhưng cực kỳ chậm chạp. Một vệ binh quốc gia đang làm nhiệm vụ cho khách mua vào từng người một. Người thợ bánh, vợ ông ta và người phụ việc được hai ủy viên dân sự giúp bán bánh; họ đeo băng tam tài ở cánh tay trái, kiểm tra xem người mua có thuộc khu bộ hay không và chỉ cấp cho người ấy phần bánh tương ứng với số miệng ăn phải nuôi.
Công dân Brotteaux coi việc tìm kiếm khoái lạc là mục đích duy nhất của đời người: lão cho rằng lý trí và giác quan, những quan tòa duy nhất khi thần linh vắng mặt, không thể quan niệm một mục đích nào khác. Nhưng vì nhận thấy lời lẽ của chàng họa sĩ hơi quá cuồng tín, còn lời lẽ của vị tu sĩ hơi quá thật thà để có thể tìm được nhiều thú vị, con người hiền triết ấy, muốn trong hoàn cảnh hiện thời hành xử đúng theo học thuyết của mình và làm khuây khỏa quãng chờ đợi vẫn còn dài, bèn lấy từ chiếc túi há rộng của áo đuôi tôm màu nâu bọ chét ra cuốn Lucretius, vốn vẫn là nguồn vui quý giá nhất và niềm mãn nguyện đích thực của lão. Bìa da dê đỏ đã sứt góc vì dùng nhiều, và công dân Brotteaux đã thận trọng cạo bỏ huy hiệu, ba đảo nhỏ bằng vàng mà người cha thầu thuế của lão từng mua bằng một món tiền mặt đáng kể. Lão mở sách đúng đoạn nhà thơ triết gia, muốn chữa cho con người khỏi những xao động phù phiếm của ái tình, bắt gặp một người đàn bà giữa vòng tay các nữ tỳ trong tình trạng khiến mọi giác quan của người tình phải ghê sợ. Công dân Brotteaux đọc những câu thơ ấy, tuy vẫn không quên liếc nhìn gáy cổ óng vàng của cô láng giềng xinh xắn, cũng không quên khoan khoái hít mùi làn da ẩm ướt của con bé lem luốc ấy. Nhà thơ Lucretius chỉ có một lẽ khôn ngoan; môn đồ Brotteaux của ông lại có nhiều.
Lão đọc, cứ mỗi khắc lại bước lên hai bước. Bên tai lão, đang vui thích vì những nhịp điệu trầm hùng, phong phú của nàng thơ La Mã, tiếng các bà các chị eo éo than phiền về giá bánh mì, đường, cà phê, nến và xà phòng tăng cao chỉ uổng công dội tới. Cứ thế, lão thanh thản đến được ngưỡng cửa hiệu bánh. Đứng sau lão, Évariste Gamelin nhìn thấy phía trên đầu mình bó lúa vàng trên tấm lưới sắt chắn ô cửa lấy sáng.
Đến lượt mình, anh bước vào cửa hiệu: các giỏ, các ngăn đều trống rỗng; người thợ bánh đưa cho anh mẩu bánh cuối cùng còn lại, chưa đầy hai livre. Évariste trả tiền, và người ta đóng sập tấm lưới sau gót anh, vì sợ đám đông hỗn loạn tràn vào hiệu bánh. Nhưng điều ấy không đáng lo: những con người khốn khổ này, đã được các kẻ áp bức xưa kia và những người giải phóng hôm nay rèn cho thói phục tùng, chỉ cúi đầu, lê bước bỏ đi.
Khi đến góc phố, Gamelin trông thấy nữ công dân Dumonteil ngồi trên một cột mốc, ôm đứa con còn bú trong lòng. Chị ngồi bất động, mặt không còn sắc máu, mắt không lệ, ánh nhìn trống rỗng. Đứa bé hau háu mút ngón tay mẹ. Gamelin đứng trước mặt chị một lát, rụt rè, ngần ngại. Chị dường như không nhìn thấy anh.
Anh lắp bắp vài lời, rồi rút từ túi áo ra con dao gấp cán sừng, cắt ổ bánh làm đôi và đặt một nửa lên đầu gối người mẹ trẻ. Chị ngước nhìn, kinh ngạc; nhưng anh đã khuất sau góc phố.
Về đến nhà, Évariste thấy mẹ ngồi bên cửa sổ, đang mạng bít tất. Anh vui vẻ đặt phần bánh còn lại vào tay bà.
— Mẹ hiền của con, xin mẹ tha lỗi: đứng lâu mỏi chân, lại kiệt sức vì nóng ngoài phố, nên trên đường về nhà, con đã ăn từng miếng một hết nửa khẩu phần của chúng ta. Chỉ còn vừa đủ phần của mẹ.
Rồi anh làm bộ phủi những mẩu bánh vụn trên áo.