Thần linh khát máu — Chương 7

Chương 7 / 29 · Bài review Thần linh khát máu

Dùng một lối nói rất xưa, nữ công dân góa phụ Gamelin đã báo trước: “Cứ ăn mãi hạt dẻ thế này, rồi chúng ta sẽ hóa thành hạt dẻ mất.” Hôm ấy, ngày 13 tháng Bảy, bà và con trai đã dùng bữa trưa bằng một món cháo hạt dẻ. Khi họ vừa ăn xong bữa cơm khắc khổ ấy, một quý bà đẩy cửa bước vào, tức thì làm căn xưởng tràn ngập vẻ rực rỡ và hương thơm của mình. Évariste nhận ra nữ công dân Rochemaure. Tưởng bà nhầm cửa và đang tìm công dân Brotteaux, người bạn thuở trước, chàng đã định chỉ cho bà căn gác xép của con người thuộc chế độ cũ ấy, hoặc gọi Brotteaux xuống để một phụ nữ sang trọng khỏi phải trèo chiếc thang kiểu nhà xay bột; nhưng ngay từ đầu đã thấy rõ người bà cần gặp chính là công dân Évariste Gamelin, bởi bà tuyên bố rất vui mừng được gặp chàng và xin tự nhận là người phục vụ chàng.

Họ không hoàn toàn xa lạ với nhau: họ từng gặp nhau nhiều lần trong xưởng của David, trên khán đài của hội nghị, tại câu lạc bộ Jacobin, ở hiệu ăn Vénua; bà đã để ý đến chàng vì vẻ đẹp, tuổi trẻ và dáng vẻ đáng quan tâm của chàng.

Đội chiếc mũ kết đầy dải băng như một cây sáo giấy và cắm lông tua tủa như mũ của một đại biểu đi công cán, nữ công dân Rochemaure mang tóc giả, tô son điểm phấn, dán nốt ruồi giả, xức đẫm hương xạ, dưới ngần ấy trang sức làn da vẫn còn tươi trẻ: những kiểu cách thời trang quá tay ấy phơi bày sự cuống quýt muốn sống và cơn sốt của những ngày khủng khiếp với tương lai bất định. Chiếc áo thân trên có ve rộng, vạt lớn, sáng choang những chiếc cúc thép khổng lồ, mang màu đỏ máu; mà bà lại đồng thời có vẻ vừa quý tộc vừa cách mạng đến nỗi không thể biết bà đang mang màu của nạn nhân hay màu của đao phủ. Một quân nhân trẻ tuổi thuộc binh chủng long kỵ đi cùng bà.

Tay cầm cây gậy dài bằng xà cừ, cao lớn, xinh đẹp, đẫy đà, bộ ngực nở nang, bà đi một vòng quanh xưởng, đưa chiếc kính kẹp mắt bằng vàng có hai nhánh lên gần đôi mắt xám để xem các bức họa của người nghệ sĩ, vừa mỉm cười vừa thốt lời tán thưởng, sẵn lòng khâm phục vì vẻ đẹp của họa sĩ, và tâng bốc để được tâng bốc lại.

— Bức tranh thật cao quý và cảm động này vẽ một người phụ nữ dịu dàng, xinh đẹp bên một chàng trai đau ốm, là cảnh gì vậy? — nữ công dân hỏi.

Gamelin đáp rằng đó là Oreste được em gái Électre săn sóc, và nếu có thể hoàn thành thì có lẽ đây sẽ là tác phẩm ít dở nhất của chàng.

— Đề tài, — chàng nói thêm, — được lấy từ vở Oreste của Euripide. Tôi từng đọc trong một bản dịch đã khá cũ của bi kịch ấy một cảnh khiến tôi vô cùng thán phục: cảnh Électre trẻ tuổi đỡ em trai dậy trên giường bệnh, lau bọt mép làm bẩn miệng chàng, gạt khỏi mắt chàng những lọn tóc che khuất tầm nhìn và xin người em yêu quý lắng nghe điều nàng sắp nói trong lúc các Nữ thần Báo oán im tiếng… Đọc đi đọc lại bản dịch ấy, tôi cảm thấy như có một màn sương che mờ những hình nét Hy Lạp mà mình không sao xua tan được. Tôi hình dung nguyên tác phải rắn rỏi hơn và có một âm điệu khác. Vì hết sức mong muốn hiểu thật chính xác, tôi đến nhờ ông Gail, bấy giờ giảng dạy tiếng Hy Lạp tại Collège de France — ấy là vào năm 91 — giải nghĩa cảnh ấy cho tôi từng chữ một. Ông giảng đúng như tôi yêu cầu, và tôi nhận ra người xưa giản dị và thân mật hơn chúng ta vẫn tưởng rất nhiều. Chẳng hạn, Électre nói với Oreste: “Em yêu quý, giấc ngủ của em đã khiến chị vui biết bao! Em có muốn chị giúp ngồi dậy không?” Và Oreste đáp: “Có, hãy giúp em, đỡ lấy em, và lau những vệt bọt còn dính quanh miệng và mắt em. Hãy áp ngực chị vào ngực em và gạt mớ tóc rối khỏi mặt em: vì nó che mắt em…” Tràn đầy thứ thi ca trẻ trung, sinh động ấy, những lời lẽ hồn nhiên mà mạnh mẽ ấy, tôi đã phác bức tranh nữ công dân đang thấy đây.

Người họa sĩ vốn thường rất dè dặt khi nói về tác phẩm của mình, vậy mà lần này lại thao thao bất tuyệt. Được khích lệ bởi một dấu hiệu của nữ công dân Rochemaure khi bà nhấc kính kẹp mắt lên, chàng nói tiếp:

— Hennequin đã diễn tả những cơn cuồng nộ của Oreste bằng bút pháp bậc thầy. Nhưng Oreste trong nỗi buồn còn khiến chúng ta xúc động hơn trong cơn điên loạn. Số phận chàng thật lạ lùng biết bao! Chính vì lòng hiếu thảo, vì tuân theo những mệnh lệnh thiêng liêng mà chàng đã phạm tội ác ấy, một tội ác các Thần linh phải xá miễn nhưng loài người sẽ không bao giờ tha thứ. Để báo phục nền công lý bị xúc phạm, chàng đã chối bỏ tình tự nhiên, trở nên phi nhân, tự xé nát ruột gan mình. Chàng vẫn kiêu hãnh dưới sức nặng của hành vi vừa khủng khiếp vừa đức hạnh ấy… Đó là điều tôi muốn thể hiện trong nhóm hai chị em này.

Chàng bước lại gần bức tranh và ngắm nó với vẻ mãn nguyện.

— Một vài phần, — chàng nói, — đã gần như hoàn tất; chẳng hạn đầu và cánh tay của Oreste.

— Quả là một đoạn tuyệt tác… Mà Oreste giống anh đấy, công dân Gamelin.

— Bà thấy thế sao? — người họa sĩ hỏi, nở một nụ cười nghiêm nghị.

Bà ngồi xuống chiếc ghế Gamelin đưa mời. Chàng long kỵ trẻ tuổi đứng bên cạnh, đặt tay lên lưng chiếc ghế bà đang ngồi. Chỉ thế cũng đủ thấy Cách mạng đã hoàn thành, bởi dưới chế độ cũ, một người đàn ông khi ở chốn giao tế sẽ không bao giờ chạm dù chỉ một ngón tay vào chiếc ghế của một quý bà; nền giáo dục đã rèn cho người ấy quen với những bó buộc, đôi khi khá nghiệt ngã, của phép lịch thiệp, hơn nữa còn khiến người ấy tin rằng sự dè giữ ngoài xã hội đem lại một giá trị đặc biệt cho phút buông mình trong kín đáo, và muốn đánh mất lòng kính trọng thì trước hết phải có nó.

Louise Masché de Rochemaure, con gái một viên phó quản đội săn của nhà vua, góa phụ của một viên biện lý và trong hai mươi năm là người tình chung thủy của nhà tài chính Brotteaux des Ilettes, đã tán thành những nguyên tắc mới. Tháng Bảy năm 1790, người ta từng thấy bà cuốc đất ở Champ de Mars. Thiên hướng rõ rệt về phía những thế lực đương quyền đã dễ dàng đưa bà từ phái Feuillant sang phái Gironde rồi phái Núi, trong khi tinh thần hòa giải, niềm say mê ôm ghì mọi người và một thiên tài mưu sự nào đó vẫn gắn bà với giới quý tộc cùng bọn phản cách mạng. Bà giao du hết sức rộng rãi, lui tới các quán rượu ngoại ô, nhà hát, hiệu ăn thời thượng, sòng bạc, phòng khách, tòa soạn báo và phòng chờ của các ủy ban. Cách mạng đem đến cho bà những điều mới lạ, trò tiêu khiển, nụ cười, niềm vui, công việc và những cuộc kinh doanh sinh lợi. Vừa dệt nên những mối dan díu chính trị lẫn tình ái, chơi đàn hạc, vẽ phong cảnh, hát tình ca, múa những điệu Hy Lạp, mở tiệc tối, tiếp đón các phụ nữ xinh đẹp như nữ bá tước de Beaufort và nữ diễn viên Descoings, vừa suốt đêm làm cái cho các ván ba mươi mốt và biribi, cho quân đỏ quân đen lăn quay, bà vẫn còn tìm được thì giờ để thương xót bạn bè. Tò mò, năng nổ, hay khuấy đảo, phù phiếm, am hiểu từng con người mà chẳng biết gì về đám đông, xa lạ với những chính kiến mình tán đồng chẳng kém gì với những chính kiến mình buộc phải chối bỏ, hoàn toàn không hiểu những gì đang diễn ra ở nước Pháp, bà tỏ ra xông xáo, táo bạo và đầy gan dạ vì không biết hiểm nguy và vì tin tưởng vô hạn vào quyền lực của sắc đẹp mình.

Người quân nhân đi cùng bà đang ở độ thanh xuân rực rỡ nhất. Một chiếc mũ đồng viền da báo, trên sống mũ trang trí dải lông đỏ thắm, phủ bóng lên gương mặt thiên thần của chàng và buông xuống lưng một bờm tóc dài, dữ dội. Chiếc áo khoác đỏ tựa một tấm áo nịt cố ý không phủ xuống tận thắt lưng để khỏi che mất đường cong thanh nhã của lưng chàng. Chàng đeo bên hông một thanh đại đao, chuôi hình mỏ đại bàng sáng rực. Chiếc quần có yếm màu xanh nhạt ôm sát những bắp thịt thanh tú trên chân, còn những dải dây viền xanh sẫm vẽ thành các đường uốn lượn lộng lẫy trên đùi. Chàng giống một vũ công được một môn đệ của David, chăm chú làm nổi bật hình thể, phục sức cho một vai vừa võ biền vừa tình tứ nào đó trong Achille ở Scyros hoặc Đám cưới của Alexandre.

Gamelin mang máng nhớ đã từng thấy chàng ta. Quả đúng đó là người quân nhân chàng gặp mười lăm ngày trước, đang diễn thuyết trước dân chúng trên hành lang của Théâtre de la Nation.

Nữ công dân Rochemaure giới thiệu chàng ta:

— Công dân Henry, thành viên Ủy ban Cách mạng của khu bộ Nhân quyền.

Bà luôn giữ chàng bên váy mình, vừa như tấm gương phản chiếu tình yêu, vừa như tờ chứng nhận lòng công dân sống động.

Nữ công dân khen ngợi tài năng của Gamelin và hỏi chàng có bằng lòng vẽ một tấm thiếp cho một nữ thương nhân thời trang mà bà quan tâm hay không. Chàng có thể chọn một đề tài thích hợp: chẳng hạn một người phụ nữ thử khăn choàng trước tấm gương đứng, hoặc một cô thợ trẻ kẹp dưới tay chiếc hộp đựng mũ.

Người ta đã nhắc với bà về con trai Fragonard, chàng Ducis trẻ tuổi và cả một người tên Prudhomme như những người đủ khả năng thực hiện một tác phẩm nhỏ thuộc loại ấy; nhưng bà thích tìm đến công dân Évariste Gamelin hơn. Tuy nhiên, về việc đó bà không đi đến một điều gì cụ thể, và ai cũng cảm thấy bà chỉ đưa đơn đặt hàng ấy ra để mở đầu câu chuyện. Quả vậy, bà đến vì một việc hoàn toàn khác. Bà muốn nhờ công dân Gamelin giúp cho một việc: biết chàng quen công dân Marat, bà đến xin chàng đưa mình vào gặp Người bạn của nhân dân, vì bà muốn được trò chuyện với ông.

Gamelin đáp rằng chàng chỉ là một nhân vật quá nhỏ bé để có thể giới thiệu bà với Marat, vả lại bà chẳng cần người dẫn tiến: tuy công việc ngập đầu, Marat không phải là con người không ai gặp được như lời đồn.

Rồi Gamelin nói thêm:

— Ông ấy sẽ tiếp bà, nữ công dân, nếu bà gặp cảnh bất hạnh: bởi trái tim cao cả khiến ông luôn mở cửa trước nỗi khốn cùng và động lòng trước mọi đau khổ. Ông ấy sẽ tiếp bà nếu bà có điều gì cần tiết lộ liên quan đến sự an nguy của đất nước: ông đã hiến đời mình để lột mặt bọn phản bội.

Nữ công dân Rochemaure đáp rằng bà sẽ rất sung sướng được nghiêng mình chào Marat, một công dân lừng danh đã có những cống hiến lớn lao cho đất nước và còn có thể cống hiến lớn lao hơn nữa; bà mong muốn đưa nhà lập pháp ấy tiếp xúc với những người thiện chí, những nhà từ thiện được vận may ưu đãi và có khả năng cung cấp cho ông những phương tiện mới để thỏa mãn tình yêu nhân loại nồng nhiệt của mình.

— Nên để những người giàu góp sức vào sự phồn vinh chung, — bà nói thêm.

Thực ra, nữ công dân đã hứa với chủ ngân hàng Morhardt rằng bà sẽ thu xếp cho ông ta dùng bữa với Marat.

Morhardt, người Thụy Sĩ như Người bạn của nhân dân, đã liên kết với một số đại biểu Quốc ước là Julien xứ Toulouse, Delaunay xứ Angers và Chabot, cựu tu sĩ dòng Capucin, để đầu cơ cổ phiếu Công ty Đông Ấn. Trò chơi hết sức đơn giản: dùng những kiến nghị tước đoạt để đánh tụt giá các cổ phiếu ấy xuống 650 livre, nhằm mua được càng nhiều càng tốt ở mức giá đó, rồi sau đấy dùng những kiến nghị trấn an để đẩy chúng lên 4.000 hay 5.000 livre. Nhưng Chabot, Julien và Delaunay đã bị nhìn thấu. Lacroix, Fabre d’Églantine, thậm chí cả Danton cũng bị nghi ngờ. Nam tước de Batz, tay trùm đầu cơ, đang tìm những kẻ đồng lõa mới trong Quốc ước và khuyên chủ ngân hàng Morhardt đến gặp Marat.

Ý định ấy của bọn đầu cơ phản cách mạng không kỳ quặc như thoạt nhìn. Những kẻ ấy luôn cố gắng liên kết với các thế lực đương thời, mà nhờ lòng dân mến mộ, ngòi bút và tính cách của mình, Marat là một thế lực đáng gờm. Phái Gironde đang chìm đắm; những người theo Danton, bị bão tố đánh tan tác, không còn cầm quyền nữa. Robespierre, thần tượng của nhân dân, liêm chính đến mức khắc nghiệt, đa nghi và không để ai đến gần. Cần phải vây lấy Marat, bảo đảm thiện cảm của ông cho ngày ông trở thành nhà độc tài; mà mọi điềm báo đều cho thấy ông sẽ trở thành như vậy: lòng dân mến mộ, tham vọng và sự sốt sắng của ông trong việc đề xuất những biện pháp quyết liệt. Vả chăng, biết đâu Marat sẽ khôi phục trật tự, tài chính và sự thịnh vượng. Nhiều lần ông đã lên tiếng chống lại những kẻ cuồng nhiệt còn muốn vượt ông về lòng ái quốc; ít lâu nay, ông tố cáo bọn mị dân gần như nhiều ngang những người ôn hòa. Sau khi kích động dân chúng treo cổ bọn tích trữ ngay trong cửa hiệu đã bị cướp phá của chúng, ông lại khuyên các công dân bình tĩnh và thận trọng; ông đang trở thành một nhà cai trị.

Bất chấp một số lời đồn được gieo rắc về ông cũng như về mọi nhân vật khác của Cách mạng, bọn cướp vét vàng ấy không tin ông có thể bị mua chuộc, nhưng chúng biết ông phù phiếm và cả tin: chúng hy vọng thu phục ông bằng lời nịnh nọt, nhất là bằng một thái độ thân mật pha chút chiếu cố mà chúng cho là, từ phía mình, kiểu nịnh nọt quyến rũ nhất. Chúng trông cậy nhờ ông mà tùy ý thổi nóng thổi lạnh mọi loại chứng khoán chúng muốn mua đi bán lại, và thúc đẩy ông phục vụ quyền lợi của chúng trong khi vẫn tưởng mình chỉ hành động vì lợi ích chung.

Là một tay mối lái đại tài, tuy bản thân vẫn còn ở tuổi yêu đương, nữ công dân Rochemaure đã nhận lấy sứ mệnh đưa nhà lập pháp kiêm nhà báo đến với chủ ngân hàng; trí tưởng tượng điên rồ khiến bà hình dung con người từng ẩn náu dưới hầm, hai tay còn đỏ máu những ngày Tháng Chín, sẽ gia nhập phe tài chính mà bà làm đại diện, sẽ bị chính lòng đa cảm và sự ngây thơ của mình ném thẳng vào cuộc đầu cơ, vào cái thế giới bà yêu quý gồm những kẻ tích trữ, nhà thầu cung ứng, tay sai ngoại bang, kẻ góp vốn sòng bạc và đàn bà phong tình.

Bà khẩn khoản yêu cầu công dân Gamelin đưa mình đến gặp Người bạn của nhân dân, sống cách đó không xa, trên phố Cordeliers, gần nhà thờ. Sau khi khước từ đôi chút, người họa sĩ chiều theo nguyện vọng của nữ công dân.

Chàng long kỵ Henry được mời đi cùng nhưng từ chối, viện lẽ rằng chàng muốn giữ quyền tự do của mình, ngay cả đối với công dân Marat, người hẳn đã có công với nền Cộng hòa nhưng nay đang tỏ ra yếu đuối: chẳng phải trong tờ báo của mình, ông đã khuyên dân Paris nhẫn nhịn hay sao?

Và chàng Henry trẻ tuổi, bằng một giọng du dương, xen những tiếng thở dài não nuột, than khóc cho nền Cộng hòa bị chính những người nó từng đặt hy vọng phản bội: Danton bác bỏ ý tưởng đánh thuế người giàu, Robespierre chống lại việc các khu bộ họp thường trực, Marat dùng những lời khuyên khiếp nhược làm tiêu tan khí thế của các công dân.

— Ôi! — chàng kêu lên, — những người ấy mới yếu đuối làm sao khi đứng bên Leclerc và Jacques Roux!… Roux! Leclerc! Các anh mới là những người bạn chân chính của nhân dân!

Gamelin không nghe thấy những lời ấy, bằng không chàng hẳn đã phẫn nộ: chàng sang phòng bên khoác chiếc áo dài màu xanh.

— Bà có thể tự hào về con trai mình, — nữ công dân Rochemaure nói với nữ công dân Gamelin. — Anh ấy lớn lao cả về tài năng lẫn tính cách.

Đáp lại, công dân góa phụ Gamelin hết lời nói tốt về con trai mình, song vẫn không tỏ vẻ tự hào về chàng trước mặt một phu nhân quyền quý, bởi từ thuở nhỏ bà đã được dạy rằng bổn phận trước hết của kẻ thấp hèn là khiêm nhường trước người cao sang. Bà vốn hay than thở, vì quả có quá nhiều lý do để than, và tìm thấy trong lời than một sự khuây khỏa cho nỗi khổ của mình. Bà thường giãi bày hết mọi tai ương với những người mà bà tin có khả năng cứu giúp, và bà de Rochemaure dường như thuộc số ấy. Bởi vậy, tranh thủ lúc thuận tiện, bà kể liền một hơi cảnh khốn cùng của hai mẹ con, cả hai đều đang chết đói. Tranh không còn bán được nữa: Cách mạng đã dùng dao giết chết việc buôn bán. Lương thực khan hiếm mà giá cả lại cao ngất…

Và người đàn bà hiền hậu ấy tuôn ra những lời than vãn bằng tất cả sự líu lo của đôi môi nhẽo và cái lưỡi dày, cốt nói hết trước khi con trai bà trở lại, bởi lòng kiêu hãnh của chàng hẳn không dung thứ những lời than thở như thế. Bà cố làm xúc động, trong thời gian ngắn nhất, một phu nhân mà bà cho là giàu có và giao du rộng, và khiến bà ta quan tâm đến số phận con mình. Bà cảm thấy vẻ đẹp của Évariste cũng đang hợp sức với bà để làm mềm lòng một người đàn bà dòng dõi.

Quả nhiên, công dân Rochemaure tỏ ra giàu lòng trắc ẩn: bà xúc động khi nghĩ đến những đau khổ của Évariste và mẹ chàng, rồi tìm cách làm vơi bớt những đau khổ ấy. Bà sẽ nhờ những người bạn giàu có mua các tác phẩm của chàng họa sĩ.

— Bởi vì, — bà mỉm cười nói, — nước Pháp vẫn còn tiền, chỉ có điều nó đang lẩn trốn.

Hay hơn nữa: vì nghệ thuật đã hết đường sống, bà sẽ tìm cho Évariste một việc làm ở nhà Morhardt hoặc nhà anh em Perregaux, hay một chân thư ký dưới quyền một nhà thầu quân nhu.

Rồi bà nghĩ một công việc như thế không thích hợp với một người có tính khí ấy; và sau một lát suy ngẫm, bà ra hiệu cho biết mình đã tìm thấy rồi:

— Tòa án Cách mạng còn phải bổ nhiệm thêm mấy bồi thẩm. Bồi thẩm, một chức vị tư pháp, đó mới là việc thích hợp với con trai bà. Tôi có quan hệ với các thành viên Ủy ban Cứu quốc; tôi quen Robespierre anh; em trai ông ấy rất thường đến nhà tôi dùng bữa tối. Tôi sẽ nói với họ. Tôi sẽ nhờ người nói với Montané, với Dumas, với Fouquier.

Công dân Gamelin, vừa xúc động vừa biết ơn, đặt một ngón tay lên môi: Évariste đang trở vào xưởng.

Chàng cùng công dân Rochemaure đi xuống cầu thang tối tăm, những bậc gỗ và gạch lát phủ một lớp cáu bẩn lâu đời.

Trên Pont-Neuf, nơi mặt trời đã xuống thấp kéo dài bóng chiếc bệ từng đỡ tượng Ngựa Đồng, nay được trang hoàng bằng màu cờ của quốc gia, một đám đông đàn ông và phụ nữ bình dân tụ thành từng nhóm nhỏ, lắng nghe các công dân nói khẽ. Kinh hoàng, đám đông giữ im lặng, thỉnh thoảng lại bật lên những tiếng rên xiết và tiếng kêu giận dữ. Nhiều người vội vã đi về phía phố Thionville, trước kia là phố Dauphine; Gamelin len vào một nhóm và nghe tin Marat vừa bị ám sát.

Dần dần, tin ấy được xác nhận và trở nên rõ ràng hơn: ông đã bị ám sát trong bồn tắm, bởi một người đàn bà từ Caen đến chỉ để phạm tội ác này.

Một số người tin rằng ả đã trốn thoát; nhưng phần đông nói ả đã bị bắt.

Tất cả bọn họ đứng đó như một đàn cừu không người chăn.

Họ nghĩ:

“Marat giàu lòng trắc ẩn, nhân từ, hay làm điều thiện, Marat không còn ở đây để dẫn dắt chúng ta nữa, người chưa bao giờ lầm, người đoán biết mọi sự, người dám phơi bày mọi sự!… Phải làm gì, rồi chúng ta sẽ ra sao? Chúng ta đã mất người cố vấn, người bảo vệ, người bạn của mình.” Họ biết đòn này từ đâu tới, biết kẻ nào đã điều khiển cánh tay người đàn bà ấy. Họ rên xiết:

— Marat đã bị những bàn tay tội ác muốn tiêu diệt chúng ta hạ sát. Cái chết của ông là hiệu lệnh mở đầu cuộc cắt cổ tất cả những người yêu nước.

Người ta kể mỗi người một khác về những tình tiết của cái chết bi thảm ấy và những lời cuối cùng của nạn nhân; người ta hỏi han về kẻ sát nhân, mà điều duy nhất họ biết là đó là một thiếu phụ do bọn phản bội liên bang phái tới. Giơ móng tay, nhe hàm răng, các nữ công dân nguyền rủa kẻ phạm tội và đòi hành hình ả; cho rằng máy chém còn quá nhẹ, họ đòi đem con quái vật ấy ra quất roi, xử bánh xe, phanh thây, rồi nghĩ ra những cực hình mới.

Những vệ binh quốc gia có vũ trang đang lôi về trụ sở khu bộ một người đàn ông có vẻ cương nghị. Quần áo ông ta rách tơi tả; những dòng máu nhỏ chảy trên gương mặt tái nhợt. Người ta bắt gặp ông nói rằng Marat đáng phải chịu số phận ấy vì không ngừng kích động cướp bóc và giết chóc. Các dân binh đã phải hết sức khó nhọc mới cứu được ông khỏi cơn cuồng nộ của dân chúng. Người ta chỉ tay vào ông, gọi ông là đồng lõa của kẻ sát nhân, và những lời dọa giết nổi lên dọc đường ông đi qua.

Gamelin đứng sững, đau đớn đến đờ đẫn. Những giọt lệ ít ỏi khô đi trong đôi mắt nóng rực của chàng. Nỗi đau của một người con hòa lẫn với niềm ưu tư yêu nước và lòng sùng kính của dân chúng, giằng xé tâm can chàng.

Chàng nghĩ:

“Sau Le Peltier, sau Bourdon, giờ đến Marat!… Ta đã nhận ra số phận của những người yêu nước: bị tàn sát ở Champ de Mars, ở Nancy, ở Paris, rồi họ sẽ chết hết.” Và chàng nghĩ đến tên phản bội Wimpfen, mới đây còn cầm đầu một bầy sáu vạn quân bảo hoàng tiến về Paris; nếu không bị những người yêu nước dũng cảm chặn lại ở Vernon, hắn đã khiến thành phố anh hùng mà bạc mệnh ấy chìm trong máu lửa.

Và còn biết bao hiểm họa, biết bao mưu đồ tội ác, biết bao cuộc phản bội mà chỉ trí sáng suốt và sự cảnh giác của Marat mới có thể nhận biết và phá tan! Sau ông, ai sẽ biết tố cáo Custine ngồi không trong doanh trại César và từ chối giải vây Valenciennes, Biron án binh bất động ở Basse-Vendée, để Saumur thất thủ và Nantes bị vây hãm, Dillon phản bội Tổ quốc tại Argonne?…

Trong khi ấy, quanh chàng, tiếng hô thê thảm mỗi lúc một dâng cao:

— Marat đã chết; bọn quý tộc đã giết ông!

Trong lúc trái tim nặng trĩu đau đớn, căm thù và yêu thương, chàng đi viếng người tử đạo của tự do, thì một bà lão nông dân đội chiếc mũ vùng Limousin đến gần, hỏi chàng rằng ông Marat vừa bị ám sát ấy có phải là cha xứ Mara ở Saint-Pierre-de-Queyroix hay không.